Đặt vấn đề Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp. Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người. Chủ trương hiện nay của Nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hóa thực sự nhằm tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần cho xuất khẩu. Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân.
Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân. Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO), Việt Nam là nước nuôi nhiều lợn, đứng hàng thứ 7 thế giới, hàng thứ 2 châu Á và ở vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Hiện nay nước ta đang có gần 23 triệu đầu lợn, bình quân tốc độ tăng trưởng hàng năm là 3,9%, đảm bảo cung cấp 80% sản phẩm thịt cho thị trường nội địa và một phần cho xuất khẩu. Kế hoạch đến năm 2010, Việt Nam sẽ có 25 triệu đầu lợn và sẽ đạt sản lượng 2 triệu tấn thịt, chiếm tỷ trọng trên 30% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp.
Tuy nhiên, để chăn nuôi lợn có hiệu quả, vấn đề vệ sinh phòng bệnh cần được đặc biệt quan tâm. Bởi dịch bệnh xảy ra là nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến chi phí chăn nuôi và giá thành sản phẩm. Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, ngoài bệnh của lợn nái thì hội chứng tiêu chảy ở lợn con cũng rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng đáng kể tới tỷ lệ nuôi sống và sức sinh trưởng của lợn con. Trong đó hội chứng tiêu chảy ở lợn con là một bệnh thường xuyên xảy ra trong nhiều trại lợn giống và các hộ gia đình nuôi lợn nái ở nước ta.
2 Đã có nhiều công trình nghiên cứu phòng trị bệnh nhưng vì tính chất phức tạp của nguyên nhân gây bệnh. Đã có nhiều loại kháng sinh và hóa dược được sử dụng để phòng và trị bệnh nhưng các kết quả thu được lại không như mong muốn, lợn khỏi bệnh thường còi cọc chậm lớn. Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Hà Duy Văn - Lương Châu - TX Sông Công - Thái Nguyên và điều trị bệnh”. Mục đích nghiên cứu đề tài.
- Điều tra tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Hà Duy Văn, Lương Châu, Sông Công, Thái Nguyên. - Điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ tại trại. Mục tiêu nghiên cứu đề tài. - So sánh , đánh giá hiệu quả của một số phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ tại trại.
Ý nghĩa của đề tài. - Ý nghĩa khoa học Các kết quả nghiên cứu một số bệnh sinh sản là những tư liệu khoa học phục vụ cho nghiên cứu tiếp theo ở trại. - Ý nghĩa thực tiễn + Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh của một số phác đồ, từ đó đưa ra những liệu trình điều trị hiệu quả kinh tế để áp dụng rộng rãi trên thực tiễn chăn nuôi. + Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học.
+ Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi, điều trị bệnh cho lợn, từ đó củng cố và nâng cao kiến thức của bản than 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm sinh lí của lợn con Khi mới sinh ra, cơ thể lợn con phát triển để dần hoàn chỉnh về cấu tạo, chức năng hệ tiêu hóa và miễn dịch. Lợn con trước một tháng tuổi không có HCL tự do trong dịch vị vì lúc này lượng acid tiết ra và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy.
Đây là điều kiện để vi sinh vật phát triển gây bệnh dạ dày - ruột ở lợn con. Hơn nữa vì thiếu acid HCl nên pepsinogen tiết ra không trở thành pepsin hoạt động được gây rối loạn tiêu hóa sữa, sữa bị kết tủa dưới dạng casein gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy màu phân trắng (màu của casein chưa được tiêu hóa). Mặt khác khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh. Hơn nữa lượng mỡ dưới da của lợn con mới sinh chỉ có khoảng 1%.
Lúc khí hậu thay đổi lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt. Đặc điểm này đã lý giải tại sao bệnh lại hay xảy ra hàng loạt ồ ạt khi thời tiết thay đổi thất thường. Theo Cù Xuân Dần và Cs (1996) [5], lượng sữa mẹ từ khi đẻ tăng đến ngày thứ 15 là cao nhất, đến ngày thứ 20 là đột ngột giảm thấp trong khi nhu cầu về sữa mẹ của lợn con tăng lên. Do đó nếu ở giai đoạn này lợn mẹ mà thiếu chất dinh dưỡng thì lợn con lại càng thiếu sữa, cơ thể lợn con trở nên suy nhược, giảm sức đề kháng, lợn dễ bị stress.
Một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt. Khi còn là bào thai lượng sắt cần thiết được mẹ cung cấp. Khi ra ngoài môi trường sống, sữa mẹ chỉ cung cấp được 1/6 lượng sắt mà cơ thể non yêu cầu. Trong khi cơ thể sơ sinh cần tới 40 - 50 mg sắt/ngày, nhưng lợn 4 con chỉ nhận được 1mg/ngày thông qua sữa mẹ.
Vì vậy, cần bổ sung thêm ít nhất là 200 - 250mg/con để lợn tránh thiếu máu. Trong sữa mẹ không chỉ thiếu sắt mà còn thiếu cả Coban, vitamin B12 tham gia vào quá trình tạo máu, tổng hợp và hoạt hóa một số enzym. Do đó lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm. Những nguyên nhân gây tiêu chảy Nhóm nguyên nhân nội tại Lợn con theo mẹ có 5 điểm yếu chính khiến chúng thích ứng kém với môi trường: Hệ thống enzym tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, điều hoà thân nhiệt kém, dự trữ năng lượng của cơ thể ít, thiếu sắt, đặc biệt là hệ thống miễn dịch và hormone chưa phát triển.
Hệ thống enzym tiêu hoá chưa hoàn chỉnh Ở gia súc non sau khi sinh ra , chức năng của các cơ quan trong cơ thể nhấ t là cơ quan tiêu hóa chưa hoàn chin̉ h , nồ ng đô ̣ HCl và các men tiêu hóa chưa đảm nhiê ̣m đầ y đủ chức năng tiêu hóa , rấ t dễ gây rố i loa ̣n trao đổ i chấ t , hâ ̣u quả dễ nhâ ̣n biế t là rố i loa ̣n tiêu hóa , gây tiêu chảy , còi cọc, thiế u máu và châ ̣m lớn. Trong dich ̣ vi ̣của gia súc non chưa có đủ acid HCl tự do nên không hoạt hóa được men pepsin vì vậy không tiêu hó a hế t sữa me ,̣ trong khi đó sữa mẹ lại là môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn. Cù Xuân Dần và Cs (1996) [5], cho rằng trong dịch vị của lợn con dưới 1 tháng tuổi không có HCl tự do, vì lúc này acid tiết ra ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy. Do vậy, vi sinh vật có điều kiện phát triển và gây bệnh viêm dạ dày, viêm ruột ở lợn con.
Ở lợn con có giai đoạn không có HCl trong dạ dày, đây đươ ̣c coi là giai đoa ̣n thích ứng cầ n thiế t tự nhiên. Chính nhờ sự thích ứng này , cơ thể lơ ̣n con mới có khả năng hấ p thu đươ ̣c kháng thể miễn dich ̣ qua sữa đầ u. Trong giai đoa ̣n này thì dich ̣ vi ̣la ̣i không có hoa ̣t tính phân giải protein mà chỉ có hoa ̣t 5 tính làm vón sữa đầu và sữa nên albumin và globulin đươ ̣c chuyể n xuố ng ruô ̣t và thẩm thấu vào máu , nhưng khi lợn trên 15 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn là sự cần thiết sinh lý bình thường nữa. Viê ̣c tâ ̣p ăn cho lơ ̣n con sớm và cai sữa sớm đã rút ngắ n đươ ̣c giai đoa ̣n thiế u HCl , hoạt hóa hoạt đô ̣ng tiế t dich, ̣ giúp tăng khả năng tạo các đáp ứng miễn dịch của cơ thể.
Giai đoa ̣n sau cai sữa sẽ là mô ̣t giai đoa ̣n khó khăn đố i với lơ ̣n con khi chuyể n từ sữa me ̣ sang thức ăn tổng hợp (dạng rắn). Điề u đó có thể gây mấ t cân bằ ng hê ̣ vi sinh vâ ̣t đường ruô ̣t ta ̣o điề u kiê ̣n cho vi khuẩ n có ha ̣i phát triể n và cũng là nguyên nhân gây ra bê ̣nh , dẫn đế n kế t quả là lơ ̣n con châ ̣m lớn và có thể chế t. Ngoài ra , lơ ̣n con còn chiụ nhiề u tác đô ̣ng của lơ ̣n me ̣ , sự thay đổ i ngoại cảnh cũng góp phần làm tăng stress của lợn con. Điều hoà thân nhiệt kém Lúc mới sinh, thân nhiệt của lợn con là 38,5oC - 39oC, thân nhiệt trung bình là 330C - 35oC.
Khi ra khỏi cơ thể mẹ, thân nhiệt lợn con tạm thời tụt xuống tuỳ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi. Ở giai đoạn này năng lực điều hoà nhiệt rất kém: Nhiệt độ trực tràng giảm 2 oC khi nhiệt độ chuồng nuôi 18oC, nhưng sẽ giảm 5oC khi nhiệt độ chuồng nuôi là 11oC (sau 20 phút). Thân nhiệt trở lại bình thường sau 24h. Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân: - Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể lợn con thấp, trên thân lợn lông còn thưa nên khả năng giữ nhiệt kém làm giảm khả năng chống rét của lợn con.
- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối nên lợn con mất nhiệt nhiều khi bị lạnh. Nói chung, khả năng điều tiết nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi còn kém, nhất trong tuần tuổi đầu mới đẻ ra. Mặt khác phản xạ có điều kiện của 6 lợn con chưa ổn định, thích ứng kém với những thay đổi của ngoại cảnh. Do vậy lợn con rất dễ bị cảm lạnh dẫn đến tiêu chảy, đặc biệt vào những tháng mưa, lạnh và độ ẩm cao.