Chương 1. LƯỢC SỬ VẤN DE NGHIÊN CỨU. Sách báo, tài liệu (gọi chung là sách) là kho tàng tri thức nhân loại được lưu lại cho thế hệ sau. Nhờ có sách mà con người có thể thu ngắn lại con đường kinh nghiệm mà những thế hệ trước đã trải qua.
Làm việc với sách, một dang tư học cơ bản. phổ biến giúp con người mở mang hiểu biết nói chung và học vấn nói riêng. Từ xa xưa, để trao đổi thông tin với nhau và để truyền kính nghiệm sống lại cho thế hệ trẻ, con người đã biết sử dụng các kí hiệu, các hình vẽ để khắc trên đá, ghi trên lá cây hay viết lên trên những mảnh tre và đó là những cuốn sách đầu tiên của nhân loại. Theo su phát triển chung của lịch sử thì cuối cùng giấy và viết cũng xuất hiện, đáp ứng nhu cầu bức thiết của con người.
Từ đó tạo điều kiện cho những cuốn sách được ra đời và ngày càng hoàn hảo hơn cả về hình thức lẫn nội dung. Ngày nay, lượng tri thức và kinh nghiệm của loài người đã là bao la và vô tận. Do đó sách vở trở nên vô cùng phong phú về nội dung, rất đa dạng vé thể loại và đồ số về số lượng. Thực trạng ấy đặt ra cho con người - đặc biệt là những sinh viên đại học một vấn để là làm thế nào để tiếp thu tri thức từ sách có hiệu quả, hay nói cách khác là phải có phương pháp đọc sách ra sao nhằm phát huy tối đa tác dụng của sách trong học tập, trong nghiên cứu.
Bàn về phương pháp đọc sách đã có nhiều tác giả để cập đến. Tuy nhiên được phản ánh ở những bài viết mang tính chất lí thuyết và thường là theo kinh nghiệm riêng của tác giả về các khía cạnh: 1.1, Việc lựa chọn sách: Doc sách, nghiên cứu tài liệu là một công việc hết sức quan trọng đối với moi sinh viên. Tuy nhiên trước sự phong phú, đa dạng và muôn hình muôn vẻ của sách thì mỗi sinh viên phải biết lựa chọn đúng sách, báo, tài liệu phục vụ bô môn mình nghiên cứu, cẩn thiết cho nghé nghiệp tương lai. Cách thức đọc sách: Khi đã lựa chọn cho mình được cuốn sách can thiết, hợp với nhu cẩu ban thân, phù hợp với nhiệm vụ học tập thì vấn để thứ hai là phải đọc nó như thé nào.
Có nhiều tác giả để cập đến vấn dé này, nhìn chung các tác giả đa số déu cho rằng doc sách là công việc dé, nhưng để đọc như thé nào cho có hiéu quả cao thi không phải là đơn giản. Căn cứ vào mục đích đọc sách mà có những cách đọc khác nhau như: Đọc nhanh hay chậm, đọc kĩ hay đọc lướt qua, đọc một phan hay đọc cả cuốn. Cách ghi chép khi đọc sách: Cũng như cách đọc sách thì ghi chép cũng có nhiều dạng khác nhau, như ghi tóm tất, ghi nguyễn văn, ghi vào vd, vào phiếu đọc sách hay ghi trực tiếp lên sách. Nhưng nhìn chung các tác giả đều thống nhất một điểu, ghi chép là việc không thể thiếu khi đọc sách.
Lợi ích của việc đọc sách: Nói vẻ lợi ích việc đọc sách một cựu sinh viên đã viết: Đọc sách sẽ giúp cho người hoc hiểu bài nhanh hơn, hiểu sâu sắc hơn và nhớ lầu hon, (“Doe sách trước khi nghe giảng" - SVVN số 52 — 26/12/2000]. 2, Hoạt động doc sách của sinh viên cũng đã được một số người quan tâm và tiến hành nghiên cứu như hai bài viết của tác giả Trin Văn Hiếu trích dang trên báo Nghiên Cứu Giáo Dục. Qua đó tác giả đã đưa ra những nhận định về thực trạng việc đọc sách của sinh viên và một vài nguyên nhân của nó. Thực trang: + Giữa nhận thức và kĩ năng làm việc độc lập với sách của sinh viên chưa cố sự phù hdp + Hiệu quả và chất lượng của việc đọc sách còn kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình đào tao ở đại học.
+ Sinh viên còn yếu kém trong hấu hết các kĩ nang cơ bản của quá trình làm việc đặc lận với sách. [Tap Chi Nghiên Cứu Giáo Dục số 10/1996- 23,25] Nguyễn nhãn: Những nguyên nhãn ảnh hưởng đến hiệu quả việc làm việc với sách của sinh viên bao gém những nguyên nhân chủ quan và nguyễn nhân khách quan. Trong đó sinh viên có xu hướng xem nhẹ các nguyên nhân chủ quan mà cho rằng những nguyễn nhân khách quan mdi ảnh hưởng nhiều đến kết quả làm việc với sách như: điều kiên học tập thiếu thốn, đời sống khó khăn, không có thời gian.v, Cũng trong công trình nghiên cứu của mình, tác gid đã đưa ra những phương hướng ning cao hiệu quả việc đọc sách của sinh viên: + Tổ chức rèn luyện cho sinh viên hệ thống kĩ năng làm việc với sách một cách thường xuyên. + Tăng cường các hình thức và phương pháp day học doi hỏi sinh viên phát huy tinh độc lập đ mức độ cao như thio luận nhóm, xemina, bài tập lớn, khóa luận.
+ Thường xuyên yêu cẩu cao đối với sinh viên về làm việc độc lập với sách trong quá trình học tập, có kiểm tra nhận xét, đánh giá chặt chẽ. + Trong những điểu kiện nhất định, cho sinh viên có thể thực hiện các chế độ học tập độc lập dưới sự hướng dẫn, quan sát, kiểm tra, đánh giá của giáo viên bộ mỗn. + Tăng cường đẫu tư để hoàn thiện hệ thống thư viện, tạo điểu kiện thuận lợi về vật chất cho sinh viên học tập. [Tạp Chí Nghiên Cứu Giáo Dục số 4/1997] * Những vấn dé cần được nghiên cứu: Các bài nghiên cứu trước đây vẻ hoạt động đọc sách con mang tinh chất kinh nghiệm cá nhân, còn chung chung và chưa khảo sắt ở điện rộng các khía cạnh của hoạt động đọc sách.
Chưa nêu bật được nhu cầu của sinh viên là gì, muốn gì trong hoạt động đọc sách, Để từ đó các nhân tế liên quan như giảng viên, nhà trường và thư viện có những tic động hợp lý nhằm ning cao hoạt động tự học, nâng cao khả ning làm việc độc lập với sách của sinh viên. Việc nghiên cứu hoạt động doc sách của sinh viễn là quan trọng, những việc nghiên cứu hoạt động đọc sách của sinh viên Su Pham lại càng quan trong hơn. Bởi vì người giáo viên không chỉ có nhiệm vụ day chữ, day người mà còn có một nhiệm vụ quan trong nữa là dạy phương pháp học tập, để học sinh có thể tự học và học suốt đời. Cho tiến, việc nghiên cứu hoạt động đọc sách của sinh viên Đại học Sư phạm sẽ góp phan vào việc nang cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên nói riêng và chất lượng đào tao của trường sử phạm nói chung.
Những vấn dé chung của quá trình day học ở đại học. Dạy học là một hiện tượng xã hội, qua đó thé hệ đi trước truyền thụ kính nghiém sống cho thế hệ sau để chuẩn bi cho họ hội nhập vào cuộc sống xã hội. Dạy học là con đường cơ bản, quan trọng để hình thành và phát triển nhãn cách con người. Trong quá trình dạy học gido viên làm nhiêm vụ chỉ đạo, định hướng.
tổ chức, điểu khiển và điểu chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh. Còn bản thin học sinh là chủ thể của hoạt động học, là nhân vật trung tâm, là điểm khởi đầu và là điểm kết thúc của quá trình day học. Dạy hoc là một hoạt động kép gốm hoạt động học của trò và hoạt động day của thấy. Tác động của giáo viên là tác động bên ngoài, tinh tự giác, tích cực, độc lập của người học mới là nội lực, nhờ nó mà học sinh chuyển hóa những giá trị van hóa của nhân loại thành kiến thức và kinh nghiệm của cá nhân.
Quá trình dạy học đại học là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu của sinh viên dưới sự chỉ đạo của người cán hộ giảng day, là quá trình hai mặt (day và học) nhầm đạt được các nhiệm vụ day học, đạt chất lượng và hiệu quả dạy học ở đại học. [5,l6] Như vậy, day học ở đại học cũng là một hoạt động kép gém hai hoạt động: hoạt động day (của giáo viên) và hoạt động học (của học sinh), hai hoại động này điển ra đẳng thời, chỉ phối và ảnh hưởng lẫn nhau. Quan hệ day — hoc ở đại học. Hoạt động dạy của giáo viên đại học.
Day là một hoạt đông của người thay giáo nhầm lãnh đạo, tổ chức, điểu khiển quá trình nắm tri thức, kỳ năng. ky xảo và nghiên cứu khoa học của sinh viên trong linh vực khoa học, kỹ thuật hay trong một môn học nhất định. Trong hoạt động day, giáo viên là người định hướng, tổ chức, din dắt và là trong tai chứ không làm thay cho sinh viên trong hoạt động lĩnh hội của họ. Với vai trò định hướng trong quá trình day học, người thầy giáo xác định những khả năng mà sinh viên phải đạt sau khi kết thúc một đơn vị kiến thức đồng thời để xuất những vấn dé nghiên cứu cần giải quyết.
Trong việc tổ chức, dẫn dắt hoạt động lĩnh hội của sinh viên, giáo viên cung cấp tài liệu, gợi ý cho sinh viên cách tiếp cận thông tin, viết báo cáo, dé cương tham luận và tổ chức cho sinh viên trình bày, tranh luận trong nhóm, trong tập thể. Bên cạnh việc tổ chức, dẫn dất hoạt động lĩnh hội của sinh viên, giáo viên còn là trọng tài để xác nhận kết quả tư duy đúng đấn của sinh viên, đồng thời hiệu đính lại những kết luận lệch lạc, cách lý giải chưa sát với chủ dé. Tuy có vị trí quan trọng trong quá trình day học, nhưng những tic động của giáo viên chỉ là những tác động bên ngoài, mang tính hỗ trợ (ngoại lực). Chứ không trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu quả của quá trình day học.
Hoạt động học của sinh viên đại học: Học là một quá trình hoạt động tự giác, tích cực của học sinh nhằm lĩnh hội và chuyển hoá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ, thể chất và hình thành nhân cách của bản thân. Hoạt động học tập của sinh viên đại học có nhiều nét khác với học sinh phổ thông, có trình độ tư duy lý luận cao, tự giác nấm chân lý cũ và góp phan tìm chân lý mới, Trong hoạt động nhận thức sinh viên đại học có tính độc lập cao, có bản lĩnh trong việc để ra và bảo vệ ý kiến của mình. Trong quá trình học tập ở đại học. sinh viên phần đông là những người đã trưởng thành về mọi mặt.
Họ ý thức được yêu cẩu và nhiệm vụ hoc tập, từ đó họ tư giác, tích cực nhận sự tác động từ phía giáo viên.