Nghiên cứu hình thái trụ sau đầu gần xương chày người Việt qua CT

Tổng hợp số liệu chi tiết về hình thái trụ sau đầu gần xương chày của người Việt Nam qua ảnh CT, ứng dụng trong chấn thương chỉnh hình và phẫu thuật.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ Y học

2023

173
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Khảo sát Hình thái Trụ sau Xương Chày

Khảo sát hình thái trụ sau xương chày là một nghiên cứu giải phẫu học quan trọng trong lĩnh vực chấn thương chỉnh hình. Xương chày, hay tibia, là xương lớn nhất ở cẳng chân và có vai trò thiết yếu trong chịu lực và vận động. Trụ sau đầu gần xương chày là một cấu trúc giải phẫu phức tạp cần được hiểu rõ để đảm bảo thành công trong các can thiệp phẫu thuật. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích hình thái học của trụ sau ở người Việt Nam trưởng thành thông qua hình ảnh chụp cắt lớp vi tính (CLVT). Những phát hiện từ nghiên cứu này cung cấp thông tin quý báu cho các bác sĩ phẫu thuật trong việc lựa chọn phương pháp điều trị và kỹ thuật phẫu thuật phù hợp.

1.1. Định nghĩa và Tầm quan trọng của Trụ sau

Trụ sau xương chày là phần gần của xương chày nằm phía sau, bao gồm các cấu trúc hình học phức tạp. Đây là vùng giải phẫu có liên quan mật thiết đến các mạch máu, thần kinh và cơ quan trọng. Hiểu rõ hình thái học của trụ sau giúp bác sĩ phẫu thuật giảm thiểu biến chứng, tối ưu hóa kỹ thuật phẫu thuật ngoài khoa và cải thiện kết quả điều trị.

1.2. Ứng dụng trong Chẩn đoán và Điều trị

Nghiên cứu khảo sát hình thái trụ sau có ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán gãy đầu gần xương chày, một loại chấn thương thường gặp. Các thông tin về kích thước, góc độ và hình dạng của trụ sau giúp bác sĩ lựa chọn phương pháp phẫu thuật chỉnh hình thích hợp, từ nội soi đến phẫu thuật mở, đảm bảo tối ưu hóa hiệu quả điều trị.

II. Giải phẫu Đầu gần Xương Chày và Cấu trúc Trụ sau

Đầu gần xương chày bao gồm nhiều cấu trúc giải phẫu phức tạp, trong đó trụ sau đóng vai trò quan trọng trong chịu lực và ổn định khớp gối. Cấu trúc này được chia thành các phần khác nhau: phần đứng, phần chuyển tiếp và phần mở rộng, mỗi phần có kích thước và hình dạng đặc trưng. Trụ sau ngoàitrụ sau trong là hai thành phần chính, được phân biệt qua mặt phẳng đứng dọc (sagital). Những đặc điểm hình thái học này không chỉ ảnh hưởng đến độ bền chắc của xương mà còn liên quan đến các cấu trúc mềm xung quanh như dây chằng, cơ và mạch máu.

2.1. Các Thành phần chính của Trụ sau

Trụ sau xương chày bao gồm trụ sau ngoài (lateral column) và trụ sau trong (medial column). Mỗi thành phần có hình dạng độc lập với các bán kính congchiều dài riêng biệt. Phần đứng là vùng có chiều cao cao nhất, trong khi phần chuyển tiếp nối liền với phần mở rộng. Các đặc điểm hình thái này được đo lường chính xác thông qua hình ảnh CLVT trên các mặt phẳng ngang (axial), đứng ngang (coronal)đứng dọc (sagital).

2.2. Liên hệ giải phẫu với Chấn thương

Khi xảy ra gãy đầu gần xương chày, cấu trúc trụ sau thường bị ảnh hưởng do chịu lực nén và xoắn. Các đặc điểm hình thái ban đầu của xương ảnh hưởng đến loại gãy và cách nó phát triển. Những kích thước và góc độ của trụ sau quyết định phương pháp điều trị tối ưu, từ nẹp bảo tồn đến phẫu thuật ngoài khoa với nội soi để khôi phục vị trí giải phẫu chính xác.

III. Phương pháp Nghiên cứu và Đặc điểm Mẫu

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp cắt lớp vi tính (CLVT) để khảo sát hình thái trụ sau trên 250 mẫu người Việt Nam trưởng thành. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn từ các hình ảnh CLVT có chất lượng tốt, không có gãy xương, bệnh lý xương hay biến dạng trước đó. Các đối tượng được chia theo giới tính, độ tuổi và vị trí chân. Mỗi hình ảnh CLVT được phân tích trên ba mặt phẳng tiêu chuẩn: mặt phẳng ngang (axial), mặt phẳng đứng ngang (coronal)mặt phẳng đứng dọc (sagital). Các phép đo lường được thực hiện bằng phần mềm phân tích hình ảnh chuyên dụng, đảm bảo độ chính xác caotái tạo đa mặt phẳng (multiplanar reconstructions) để có cái nhìn toàn diện về hình thái của trụ sau.

3.1. Tiêu chí Lựa chọn và Loại trừ Mẫu

Tiêu chí lựa chọn mẫu rất nghiêm ngặt để đảm bảo tính chính xác của khảo sát. Các mẫu phải thuộc người Việt Nam trưởng thành từ 18 tuổi trở lên, không có gãy xương gần đây hoặc phẫu thuật trước đây ở vùng đầu gần xương chày. Mẫu phải có hình ảnh CLVT chất lượng cao với độ phân giải tốt và không có thể hiện không rõ. Các đối tượng có khiếm khuyết xương bẩm sinh, bệnh lý xương như loãng xương hoặc bệnh Paget được loại trừ khỏi nghiên cứu.

3.2. Các Phép Đo lường Chính

Nghiên cứu tiến hành 13 phép đo lường chính trên trụ sau ngoài12 phép đo lường trên trụ sau trong, bao gồm: chiều rộng (CRTST, CRTSN), chiều dài đoạn ngoài (CDĐN), bán kính cong (R1, R2, R4), chiều dài phần đứng (CDPĐTST, CDPĐTNS)chiều dài phần chuyển tiếp. Các góc độ như M1, M2, S1, S2, S3, S4 được đo trên các mặt phẳng tiêu chuẩn khác nhau để mô tả chính xác hình dạng và hình thái của trụ sau.

IV. Kết quả và Ý nghĩa Lâm sàng

Kết quả khảo sát hình thái trụ sau xương chày người Việt Nam cho thấy những đặc điểm hình học độc đáo so với các dân tộc khác. Trụ sau ngoài thường có bán kính cong lớn hơnkích thước chiều rộng khác biệt so với trụ sau trong. Các phép đo lường về chiều dài phần đứng, phần chuyển tiếpphần mở rộng cung cấp thông tin thiết yếu cho phẫu thuật. Tương quan giữa các đặc điểm cho thấy các cấu trúc này không độc lập mà liên hệ chặt chẽ với nhau. Những phát hiện này có ý nghĩa lâm sàng quan trọng trong việc thiết kế các dụng cụ y tế, lựa chọn kỹ thuật phẫu thuậtdự đoán kết quả điều trị cho các bệnh nhân có gãy đầu gần xương chày, giúp tối ưu hóa kết quả lâu dàigiảm biến chứng sau phẫu thuật.

4.1. Những Đặc điểm Hình thái Đặc trưng

Khảo sát này phát hiện ra các hình dạng trụ sau đa dạng ở người Việt Nam, từ hình tròn, hình oval đến hình không đều. Trụ sau trong thường có hình dạng tròn hơn với bán kính R1 và R2 tương đương, trong khi trụ sau ngoàihình dạng đa hình hơn. Các đặc điểm này phân bố khác nhau theo giới tính và bên chân, phản ánh tính dân tộc đặc thù của quần thể người Việt Nam và cần được xem xét trong quy trình chẩn đoán và điều trị.

4.2. Ứng dụng trong Lâm sàng và Hướng phát triển

Những kết quả từ khảo sát hình thái trụ sau cung cấp dữ liệu cơ bản cho các nhà phẫu thuật chỉnh hình ở Việt Nam. Thông tin này giúp lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật phù hợp, thiết kế các dụng cụ nẹpdự đoán kết quả điều trị chính xác hơn. Nghiên cứu mở ra hướng phát triển mới trong y học cá nhân hóa, giúp điều trị tối ưu cho mỗi bệnh nhân và nâng cao chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật chấn thương xương chày.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Ngày càng có nhiều nghiên cứu tập trung vào hình dáng của vùng mâm chày sau ứng dụng trong điều trị gãy mâm chày, bởi lẽ những nghiên cứu gần đây cho thấy có mối liên quan rõ rệt giữa nắn hoàn chỉnh và giữ vững phía sau (mâm chày sau) với kết quả phục hồi giải phẫu và chức năng lâu dài.1-4 Theo nhiều báo cáo cho thấy, gãy mâm chày sau chiếm tỷ lệ đáng kể đặc biệt kể từ khi chụp cắt lớp vi tính (CLVT) được ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán các dạng gãy xương phạm khớp. Tùy theo nghiên cứu, tỷ lệ này dao động từ 28.1,2,5,6 Tại nước ta, Lộc. V7 thống kê mảnh gãy mâm chày sau chiếm 33,5% trong các trường hợp gãy mâm chày. Gãy càng phức tạp trên phim X quang quy ước càng kết hợp nhiều với gãy mâm chày sau.

Kinh điển, kết hợp xương mâm chày sau được thực hiện gián tiếp qua các bè vít bắt từ các nẹp đặt bên trong hay bên ngoài. Trong cấu hình này, vít bắt thường song song với đường gãy trên mặt phẳng đứng ngang. Xét về cơ sinh học, nó khó có thể so sánh với cấu hình nẹp nâng đỡ đặt mặt sau trực tiếp lên mảnh gãy.8 Thực tế cho thấy di lệch thứ phát dẫn đến can lệch khá phổ biến.8 Luo CF và các CS9 (2010) đã giới thiệu hệ thống phân loại mới dựa vào khái niệm 3 trụ (ngoài, trong, sau). Sự ra đời khái niệm này đã thúc đẩy nghiên cứu hình thái học của các kiểu gãy mâm chày, đặc biệt là trụ sau trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính hay hình ảnh tái tạo ba chiều làm phân loại căn bản và ứng dụng trong điều trị.9 Như một hệ quả tất yếu, cùng với sự phát triển của các đường tiếp cận phía sau, các cấu hình kết hợp xương khác nhau lần lượt ra đời từ đơn giản như tận dụng các loại nẹp nâng đỡ vùng khác đến thiết kế nẹp riêng cho vùng này.10-13 Một trong những yêu cầu quan trọng của nẹp là càng gần với hình dáng giải phẫu trụ sau càng tốt.

Đạt được điều này sẽ giúp các phẫu thuật viên không phải mất nhiều thời. 2 gian uốn lại nẹp trong mổ, làm kéo dài thời gian phẫu thuật, tăng lượng máu mất và giảm đi tính chịu lực của nẹp. Ưu điểm khác phải kể đến là ngoài việc hạn chế kích thích gân cấn, cản trở phục hồi mô mềm, có thể sử dụng nẹp giải phẫu như là một khuôn nắn giúp phục hồi mặt khớp bị tổn thương nặng.14,15 Để đạt được điều đó cần có các dữ liệu về hình thái học của trụ sau. Mỗi dân tộc có thể có những dữ liệu khác nhau, cho nên sử dụng các loại nẹp thiết kế dựa trên các dân tộc khác rất có thể không đạt được sự tương thích mong muốn giữa nẹp và xương trụ sau.

Việt Nam dù chưa có số liệu thống kê cụ thể nhưng đã có những báo cáo về vấn đề này.7,16 Câu hỏi “hình thái học trụ sau đầu gần xương chày người Việt Nam trưởng thành là như thế nào” cần có câu trả lời sớm nhằm mục đích cung cấp dữ liệu sơ bộ về hình thái học của trụ sau đầu gần xương chày ở dân số người Việt Nam trưởng thành, góp phần phục vụ yêu cầu thiết kế dụng cụ phẫu thuật sau này. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu giải phẫu hình thái trụ sau đầu gần xương chày ở người Việt Nam trưởng thành trên phim chụp CLVT. Xác định các đặc điểm giải phẫu trụ sau đầu gần xương chày. Xác định mối liên quan giữa các đặc điểm hình thái trụ sau đầu gần xương chày.1 Giải phẫu đầu gần xƣơng chày Đầu gần xương chày loe rộng trong mặt phẳng ngang để nâng đỡ đầu dưới xương đùi, bao gồm mâm chày trong, mâm chày ngoài, vùng gian lồi cầu và lồi củ chày (Hình 1.1: Đầu gần xương chày nhìn từ mặt trước và sau “Nguồn: Frank H.

Netter, 2019”17 Các mâm chày nhô ra và che khuất phần gần của mặt sau thân xương chày. Hai diện khớp ở mặt trên được phân cách bởi vùng gian lồi cầu không đều và hai vùng gian lồi cầu không có diện khớp. Các mâm chày có thể nhìn thấy và sờ thấy ở hai bên dây chằng bánh chè với mâm chày ngoài nhô lên rõ hơn. Diện khớp xương mác của đầu gần xương chày nằm ở bờ sau dưới của mâm chày ngoài.

Góc nghiêng của khớp chày mác trên khác nhau giữa các cá thể, có thể nằm. 4 ngang hoặc dốc xuống. Ở phía trên trong của khớp chày mác trên gân cơ khoeo tạo thành một rãnh ở mặt sau ngoài của mâm chày. Bờ trước ngoài của mâm chày ngoài được phân cách với mặt ngoài thân xương chày bởi một đường chéo là nơi bám của mạc sâu.

Nơi bám tận của dải chậu chày tạo nên một cấu trúc hình tháp và có thể sờ thấy qua da (lồi củ Gerdy).2: Mâm chày nhìn từ trên xuống “Nguồn: Frank H. Netter, 2019”17 Nhìn từ trên xuống, mâm chày trong và mâm chày ngoài được ngăn cách bởi gò gian lồi cầu, vùng gian lồi cầu trước và vùng gian lồi cầu sau (Hình 1. Vùng gian lồi cầu rộng nhất ở phía trước, vùng gian lồi cầu ở phía sau dốc xuống và hướng ra sau, ở phía sau sừng sau sụn chêm ngoài. Ở gò gian lồi cầu có hai củ gian lồi cầu trong và ngoài hay còn gọi là gai chày nhô lên.

Cấu trúc lõm phía sau nền của củ gian lồi cầu trong là nơi bám của sừng sau sụn chêm trong. Phần trơn láng còn lại của vùng gian lồi cầu sau là nơi bám của dây chằng chéo sau. Mặt khớp của mâm chày trong, mâm chày ngoài và vùng gian lồi cầu cùng với nhau hình thành mâm chày.2 Gãy đầu gần xƣơng chày 1.1 Nguyên nhân và cơ chế chấn thƣơng 1.3: Mô hình 3 trụ mâm chày và 6 loại cơ chế lực chấn thương Hình bên trái (mâm chày nhìn từ trên xuống), varus: gối vẹo trong, valgus: gối vẹo ngoài. Hình bên phải (đầu gần xương chày nhìn chếch), medial column: trụ trong, posterior colum: trụ sau, lateral column: trụ ngoài.

X và CS, 2020”18 Gãy mâm chày thường là hậu quả của chấn thương trực tiếp vào mâm chày hoặc do nén ép theo chiều dọc của lồi cầu đùi tác động trực tiếp lên bề mặt của mâm chày. Tùy theo hướng tác động và mức độ va đập mà tạo nên những hình thái gãy khác nhau. Ngoài ra mức độ tổn thương mâm chày phụ thuộc vào một số yếu tố khác như tuổi cao, chất lượng xương, tư thế chi khi bị chấn thương và cường độ hướng lực ép tạo ra gãy xương. Những yếu tố này cũng làm cho hình ảnh gãy mâm chày có nhiều mức độ khác nhau, từ gãy một mảnh đến nhiều mảnh hay từ lún mức độ ít đến lún mức độ nhiều.

Có nhiều phân loại thể hiện cơ chế chấn thương tạo nên các hình thái gãy khác nhau, gần đây tác giả Xuetao. X18 dựa trên hướng lực tác động và tư thế của khớp gối phân tích từ phim chụp cắt lớp vi tính đã đề xuất mô hình với 6 nhóm cơ chế lực chấn thương: gối. 6 gấp vẹo trong, gối duỗi vẹo trong, gối quá duỗi vẹo trong, gối gấp vẹo ngoài, gối duỗi vẹo ngoài, gối quá duỗi vẹo ngoài. Nhìn chung gãy mâm chày sau ngoài thường ở tư thế khớp háng hơi dạng, lực nén dọc trục và gối ở tư thế gấp.19 Gãy mâm chày sau trong thường do khớp háng hơi khép, gối gấp, lực ép từ lồi cầu đùi bên trong xuống mâm chày,18 mảnh vỡ sau trong được quan sát thấy ở 1 3 số trường hợp gãy hai mâm chày.20 Tần suất gãy mâm chày sau chủ yếu do chấn thương khi gối vẹo ngoài (68%)38, vì vậy gãy trụ ngoài cũng thường đi kèm trong chấn thương này.

Mặc dù ít gặp hơn nhưng chấn thương với gối vẹo trong thường đi kèm với gãy ba trụ và được xem là một trong những yếu tố độc lập gây ra kết quả kém về mặt lâm sàng với các biến chứng xảy ra nhiều hơn. Gãy mâm chày ảnh hưởng nhiều đến chức năng khớp gối,21,22 trong đó gãy mâm chày sau được xem là một trong nguyên nhân chính.4,23 Chính vì vậy mà điều trị gãy mâm chày sau được chú ý nhiều trong những năm gần đây. Tỷ lệ kiểu gãy này từ 28% đến 70% tùy nghiên cứu4,5,23. Hiểu rõ chi tiết hình thái của kiểu gãy là điều cần thiết trong chẩn đoán để tối ưu hóa kế hoạch điều trị cho bệnh nhân.2 Phân loại gãy mâm chày Hệ thống phân loại gãy mâm chày được biết đến phổ biến qua phân loại Schatzker.

Năm 1979, Schatzker và CS24 đã đề xuất một hệ thống phân loại dựa trên phim X quang bình diện trước sau, phân biệt kiểu gãy từ gãy tách rời đơn giản đến phức tạp cho vùng mâm chày (Error! Not a valid bookmark self-reference. Hệ thống phân loại này được chấp nhận trên toàn thế giới và được AO OTA điều chỉnh vào năm 1990 với mong muốn tạo ra bảng phân loại toàn diện hơn (Hình 1.25 Hệ thống phân loại AO/OTA phân biệt ba nhóm gãy chính lần lượt là A, B và C. Nhóm A gồm các gãy xương ngoài khớp và gãy rứt gai chày. Gãy rứt gai chày đơn độc được chia thành các phân nhóm theo Meyers và PcKeever26.

Nhóm B là các gãy xương phạm khớp một phần gồm gãy tách và/hoặc gãy lún của một trong hai mâm chày. 7 xương phạm khớp hoàn toàn, gồm cả hai lồi cầu mâm chày hoặc gãy nhiều mảnh đầu gần xương chày.4: Phân loại gãy mâm chày của Schatzker Loại I: gãy tách rời đơn thuần hình chêm mâm chày ngoài. Loại II: gãy mâm chày ngoài kết hợp với lún mâm chày. Loại III: gãy lún ở giữa mâm chày ngoài.

Loại IV: gãy mâm chày trong. Loại V: gãy cả hai mâm chày còn sự liên tục của đầu xương và thân xương.5: Phân loại gãy mâm chày của AO – OTA A: gãy ngoài khớp, B: gãy phạm khớp một phần, C: gãy phạm khớp hoàn toàn. V, 2017”7 Ngay từ năm 1981, Moore27 nhận thấy rằng cần phải lưu ý đến cơ chế gãy xương và các chấn thương đồng thời như tổn thương thần kinh, mạch máu và dây chằng, đặc biệt trong các trường hợp gãy trật. Cách tiếp cận này cần một sự hiểu biết hơn về không gian ba chiều của các hình thái gãy.

Hệ thống phân loại của Moore gồm 5 loại (Hình 1.6):  Loại 1 mô tả kiểu gãy tách rời mặt sau mâm chày trong, thường liên quan tới đứt đồng thời dây chằng chéo trước.  Loại 2 là kiểu gãy tách rời mâm chày trong (IIa) hoặc mâm chày ngoài (IIb) và tách rời thêm hai gai chày bởi đường gãy thứ hai xuất phát từ thân xương chày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ