mở đầu và kết luận. Chương một trình bày tiền đề lí luận cho luận ván. Chúng toi giới thiêu u hệ thống lí thuyết HV NN với các khái niệm cơ bản, các quy tắc hoạt dộneỉ và va các nhân tố liên quan. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương hai trình bày những miêu tả cụ thể về kiểu loại và hoạt động của các H V N N tiêu biểu m à ngưòi m ua và ngưòi bán thực hiện theo tiến trình các pha trong HT m ua bán.
Chương ba trình bày về công tác tư liệu với những công đoạn, thao tác thu thập, xư lí cụ thể và một sô mẫu tư liệu hội thoại. Ngoài ra, luận văn còn kèm theo một phụ lục gỏm toàn bộ tư liệu HT ghi âm đã được văn tự hóa và kí hiệu hóa. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG M Ộ T GIỚI THIỆU LÍ THUYẾT HÀNH VI NGÔN NGỮ 1. Các tác giả và công trình nghiên cứu tiêu biểu trên thê giới Lí thuyết H V N N được nhà triết học J.
Austin người Anh đưa ra từ những năm 1950 và được xuất bản thành sách gồm mười hai bài giảng dưới tên gọi "How to do things with vvords" (Người ta hành động thế nào bằng lời nói) năm 1962. Thực ra, trước Austin, tư tưởng về hoạt động của ngôn ngữ, các auy tắc của "trò chơi ngôn ngữ", các kiểu lác động của lời nói đã được nhà triết học L. Song lí thuyết HVNN của Austin được coi là lí thuyết nền móng, có ảnh hưởng to lớn đến các công trình nghiên cứu của các thế hệ sau về HV NN nói riêng và ngữ dụng học nói chung bởi tính hệ thống, nhất quán của lí thuyết, bởi "sự ra đời đúng thời điểm của nó, khi m à những lí giải ngổn ngữ trẽn cơ sở “ngữ nghĩa học điều kiện chân thực" (truth conditional semantics) đã bộc lộ sự lúng túng, hạn chế " [40,28]. Quan điểm của Austin được học trò của ông là J.
Searle kế thừa, phát triển và trình bày tập trung trong cuốn sách "Speech acts: an essay in the philosophy o f language" (Các HVNN: chuyên luận về triết học của ngôn ngữ) xuất bảtì năm 1969. Giice cũng là inột trong sô các học trò của Austin chịu ảnh hưởng ởng lí thuyết này. Công tiình nghiên cứu của Giice về nghĩa hàm ẩn và nguyên tắc cộng tác HT thực chất là sự phát triển tư tưởng của thầy mình, giải thích sự hoạt động cua HVNN gắn với sự tạo lập của người nói và sự lí giải của người nghe. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhiều nhà nghiên cứu khác quan tâm đến các mặt lí thuyết và ứng dụng của HVNN, có thể kể tên một sô tác giả với các tác phẩm tiêu biểu như: G.
Leech vói "Principles of Pragmatics" (Các nguyên tắc ngữ dụng học), s. Levinson với “ Pragmatics” (N gữdụng học). Geis với "Speech acts and conversational interaction" (Các HV NN và tương tác HT). Các tác giả và công trình nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam Ở Việt Nam, người đầu tiên đề cập đến HV NN là Đỗ Hữu Châu trong bài viết "Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động" đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 1 năm 1983.
Sau đó, Nguyễn Đức Dân đã giới thiệu sơ bộ lí thuyết này trong cuốn sách của mình là "Lôgich - ngữ nghĩa - cú pháp" xuất bản năm 1987. Đến năm 1993, Đỗ Hữu Chàu trình bày hệ thống các điểm căn bản của lí thuyết HVNN trong cuốn sách do ông chủ biên "Đại cương ngon ngữ học - tập II". Một số nhà nghiên cứu đã vận dụng lí thuyết này như một trong các chìa khóa giúp giải quyết vấn đề nghiên cứu cụ thể của mình[9; 10; 20; 23; 24; 25]. Các vấn đề nghiên cứu Các nghiên cứu về HV NN tập trung vào hai hình diện: Bình diện lí thuyết đại cương nghiên cứu các kiểu loại và các nguyên tắc sử dụng HVNN trong giao tiếp; Rình diện ứng dụng nghiên cứu sự hành chức của các HV N N cụ thể trong mỗi kiểu lương tác HT xác định như tương tác bác sĩ - bệnh nhân, tương tác người mua - người bán.
Những kiến giải về HVNN xoay quanh các vấn đề chủ yếu sau: • Chức năng của HVNN • Phân loại HVNN VI điềil kiện thực hiện HVNN • Nội dung và phương tiện, phương thức biểu hiện của HVNN • Các nhân tổ chi phối HVNN 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com • Phương pháp tiếp cận phân tích HV NN Đây cũng là những nội dung cán yếu mà chúng tôi trình bày trong chương này để làm cơ sở lí thuyết cho luận văn. CHỨC NÃNG CỦA HVNN 1. Chức năng xã hội Austin đưa ra lí thuyết HVNN để ph in ứng lại quan điểm cho rằng chức năng của câu là miêu tả một sự tình, một sự kiện nào đó mà phải được đánh giá theo tiêu chuẩn đúng - sai (true - false). Ông chỉ ra rằng có tồn tại những câu không miêu tả mà có giá trị như những hành động, và vì vậy, với những câu như thế, không thể lấy tiêu chuẩn đúng - sai để đánh giá.
Khi một người nói rằng: "Tôi xin lỗi" hay "Tôi hứa" thì đồng thời phát ngôn đó chuyển tải chính cái hành động xin lỗi, hành động hứa. Những hành động này chỉ được thực hiện khi người nói phát ngôn ra những câu trên. Cặp tiêu chuẩn đánh giá đối vói những phát ngôn này, theo Austin, phải là may mắn - khống may mắn (happy - unhappy hay felicitous - infelicitous). Phát ngôn thành cồng khi Í1Ó thích hợp với hoàn cảnh mà nó được nói ra.
Nếu có một điều gì đó không thích họp xảy ra giữa phát ngôn và hoàn cảnh của nó thì phát ngôn bị coi là không thành công. Austin gọi những phát ngôn thực hiện hành động và được đánh giá theo tiêu chuẩn may mắn - không may mắn này là phát ngôn ngữ vi (performative utterances hay performatives) [29,6], khu biệt chúng với các phát ngôn miêu tả (constative utterances hay constatives) được đánh giá dưới tiêu chuẩn đúng - sai theo quan niệm truyền thống. Như vậy, Austin đã chú ý đến chức năng thực hiện hành động của ngôn ngữ và xem xét HVNN trong mối quan hệ với hoàn cảnh hành chức của nó, tức là với các nhân tô dụng học (người nói - người thực hiện HVNN, người nghe - người tiếp nhận HVNN, ngữ cảnh, ý đổ, muc đích thực hiện HVNN.) 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - những nhân tố có vai trò chi phối, quyết định HVNN. Xét cho cùng thì cái mà Austin xác nhận là chức năng của HV NN chính là chức năng liên cá nhân thực hiện tương tác xã hội hay khát quát hơn là chức năng mang tính xã hội.
Chức năng ngôn ngữ Những người chịu ảnh hưởng tư tuớng của Austin đều ghi nhận chức năng xã hội của HVNN. Song phải chăng đó là chức năng duy nhất? Chúng ta thấy rằng một loạt các nghiên cứu về HVNN hoặc có liên quan đến HVNN đều cố gắng đặt nó trong ngữ cảnh HT - môi trường tổn tai cúa nó. HVNN có tác đụng liên kết các phát ngôn thành chuỗi một cách logic [7;8], liên kết các phát ngôn trong đối thoại [21 ], dẫn nhập, phản hồi đề tài diễn ngôn [ 25]. Song, trong số các tài liệu chúng tôi có điều kiện tham khảo, chưa thấy có một tuyên bỗ chính thức nào về vai trò tổ chức hoạt động chỉnh thể phát ngôn hay diễn ngôn hoặc HT của HVNN.
l ì m hiểu vai trò nãy là hướng nghiên cứu nhằm khai thác hết khả năng của HVNN. PHÂN LOẠI HVNN VÀ ĐIỂU KIÊN THÀNH CÔNG CỦA NÓ 1. Phân loại HVNN 1. Quan niệm của Austin Austin cho rằng mỗi lần người nói hướng phát ngôn của mình về phía Iigười nghe thì anh ta đồng thời thực hiện ba hành vi: hành vi tạo lời, hành vi tại lời và hành vi mượn lời [29, 84 - 108].
Hành vi tạo lời (Locutionary act) là hành vi người nói tạo ra phát íhát ngôn với việc sử dụng từ ngữ có nghĩa và quy chiếu nhất định, tổ chức chúng thao một kiểu kết a íu và biểu hiện chúng bằng các phương tiện ngữ âm. Ví dụ hành vi tạo lời "Shoot her!" CỈIIỰC cấu tcỊo bới từ có nghĩa "shoot" (bắn) và từ "her" (cô ta) có nghĩa và có quy chiếu đến người thứ ha (nsoài nguơi nói và 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người nghe) xuất hiên trong hoàn cảnh phát ngôn. Hành vi tại lời (Illocutionary act) là hành vi người nói thực hiện ngay trong khi nói m ột điều gì đó, tạo ra hiệu lực ngôn ngữ gọi là lực tại lời hay lực ngôn trung (Ulocutionary force). Khi thực hiện hành vi tạo lời trên, người nói đồng thời thực hiện hành vi giục giã (hay khuyên bảo, ra lệnh.) người nghe phai làm cái việc bắn đó, và đây chính là lực tại lời - mục đích phát ngôn của người nói.
Hành vi mượn lời (Perlocutionary act) là hành vi ngươi nói thực hiện nhằm gây ảnh hưởng tác động đến niềm tin, tình cảm, ý nghĩ. của người nghe qua việc nói mội điều gì đó. Lực tác động này được gọi là lực mượn lời hay lực xuyên ngôn (Perlocutionary force). Cũng với phát ngòn "Shoot her!" (Bắn cô ta đi!), người nói còn thực hiện một hành vi nữa - hành vi mượn lời - là làm người nghe bị thuyết phục.
Có thể nhận xét rằng với việc phân biệt ba loại HVNN này, Austin dã xác định lõ chức năng của từng loại hành vi, nói cách khác thì mục đích thực hiệĩì HVNN chính là tiêu chí mà ông dựa vào để phân loại. Cặp đối lập nghĩa và lực cho phép nhận diện và phân biệt giữa hành vi tạo lòi với các hành vi tại lời và mượn lời. Cạp đối lâp lực tai lời và lực mượn lời cho phép nhận diên và phân biệt giữa hành vi tại lời và hành vi mượn lời. Tuy khác nhau về đích nhưng cả ba HVNN đều thuộc về một chỉnh thể thỏng nhất ỏ' cn hai mặt hình thức và nội dung.
Ba HVNN được thực hiện đổng thời và được biểu hiện - được mặc chung một tấm áo dệt bởi các canh sợi neôn liệu xác định Và trong tấm áo hữu hình đó là các lớp áo 'tàng hình" khác, bởi nội dung (nghĩa và các lực) của các HV NN có m ố i quan hệ 1T1ÓC xích và là điều kiện kết quả của nhau (tức là từ hành vi tao lời hành vi tại lời - ỳ hành vi mượn lời). Cho nên, hình thức biểu hiện của chúng cũng mang tính chất vận động, chuyển đổi cho nhau. Có thể biểu diễn mối quan hệ giữa HVNN như sơ đổ dưới đày: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.