lời mở đầu cho tạp chí Langue Francaise đã định nghĩa: “Ngữ dụng học nghiên cứu việc dùng ngôn ngữ trong diễn từ và các chỉ hiệu đặc thù trong ngôn ngữ, những cái làm nên cách thức nói năng”. Định nghĩa này cho thấy vấn đề cơ bản mà ngữ dụng học quan tâm là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và diễn từ, là sự phát ngôn. Nghĩa là quan tâm tới quá trình tạo ra diễn từ và kết quả của chúng chứ không phải là ngôn ngữ - sản phẩm cuối cùng của hoạt động ngôn ngữ [19, tr. 10] Thuật ngữ “Hành vi ngôn ngữ” (Speech acts) có nhiều cách dịch khác nhau.
Cụ thể như các tác giả Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Thị Thanh Hương … dịch là hành động ngôn từ; còn tác giả Đỗ Hữu Châu và tác giả Nguyễn Đức Dân dịch là hành vi ngôn ngữ. Mặc dù cách dịch thuật ngữ này có nhiều khác biệt, song các nhà nghiên cứu đều nhất quán khi nhận định về bản chất của khái niệm. Đó là quan niệm cho rằng: Đồng thời với việc con người nói (phát ngôn) người ta thực hiện luôn một hành động nào do, đúng như Austin quan niệm “Nói là hành động” trong công trình có tên gọi “How to do things with words”. Để tìm hiểu đặc trưng của HVHH, chúng tôi sử dụng thuật ngữ: “Hành vi ngôn ngữ”.
Về lịch sử ra đời của vấn đề HVNN, từ những năm 60 của thế kỉ XX, các nhà triết học người Anh J. Theo các ông, giao tiếp là sự hành chức của ngôn ngữ và đồng thời cũng là sự hành chức của những HVNN. Bởi vì, khi người ta nói ra một điều gì thì cũng là lúc người ta thực hiện một hành động nào đó trong lời nói của mình. Ví dụ: khi người nói (Sp1) đưa ra phát ngôn: [1] Tôi hứa với chị sẽ bảo vệ cô ấy.
[NL 1; 363] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đồng thời với việc đưa ra phát ngôn [1], người nói đã thực hiện luôn HVHH. Vậy HVNN là loại hành vi được thực hiện ngay khi các đối ngôn tạo ra một phát ngôn (diễn ngôn) trong cuộc thoại giao tiếp. Austin, trong một cuộc thoại, một phát ngôn thường được tạo ra bởi ba loại HVNNN [15, tr. 446] Thứ nhất là hành vi tạo lời (Locutionary act): Trong quá trình giao tiếp, người nói và người nghe luôn luôn sử dụng các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp… để tạo lập phát ngôn nhằm truyền đạt đi một lượng thông tin với mục đích nhất định.
Thứ hai là hành vi ở lời (Illocutionary act): Là loại hành vi mà khi người nói phát ngôn thì hành vi đó sẽ có hiệu lực ngay khi nói. Chẳng hạn, người nói (Sp1) nói: “Tôi hứa ngày mai sẽ trả lời cậu”, thì đồng thời với việc thực hiện phát ngôn này anh ta đã thực hiện luôn hành vi hứa. Thứ ba là hành vi mượn lời (Perlocutionary act): Là loại hành vi nằm ẩn sau hành vi tại lời, nó tương hợp với từng loại tình huống phát ngôn và có tác dụng gây nên một hiệu quả ngoài ngôn ngữ. Nghĩa là hành vi này không thể thực hiện trên câu chữ, lời nói của người nói mà được khúc xạ qua một HVNN khác.
George Yele định nghĩa sự kiện lời nói là “Một hoạt động trong đó những người tham gia tác động lẫn nhau theo những cách thức có tính chất quy ước nhằm đạt đến một mục đích nào đấy. Sự kiện lời nói có thể được tạo nên bởi một HVNN trung tâm” [15, tr. Mỗi sự kiện lời nói được đánh dấu (và gọi tên bằng tên gọi của HVƠL trung tâm, kiểu như sự kiện lời nói sai khiến, thỉnh cầu, hứa hẹn,. Hành động ngữ vi được biểu hiện qua các động từ ngữ vi, đó là những động từ có thể thực hiện chức năng ngữ vi trong phát ngôn, có nghĩa là cùng với việc phát ngôn ra chúng, người nói thực hiện luôn cái HVNN do chúng biểu thị.
HVHH được biểu hiện bằng động từ ngữ vi HỨA. Xét theo khả năng có thể hay không thể dùng với chức năng ngữ vi thì động từ biểu hiện HVHH nằm trong nhóm những TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động từ nói năng vừa có thể dùng với chức năng ngữ vi, vừa có thể dùng với chức năng miêu tả. Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời Hành vi ở lời cũng như các hành vi khác, các hành vi sinh lí hay vật lí, không phải được thực hiện một cách tuỳ tiện. Là loại hành vi có bản chất xã hội, các HVƠL cũng bị chi phối bởi các quy tắc đã được xã hội ước chế và nó thoả mãn những điều kiện sử dụng cụ thể thì mới được thực thi.
“Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó. Tuy điều kiện sử dụng của mỗi HVƠL có khác nhau, nhưng chúng vẫn có những điểm chung. Austin đã đưa ra các điều kiện khác nhau để sử dụng các HVƠL. Song trên cơ sở phân tích một HVƠL - hành vi “hứa” tiếng Anh (promise) Searle đã điều chỉnh và bổ sung vào những điều kiện may mắn của Austin và gọi chúng là điều kiện sử dụng hay điều kiện thoả mãn.
Mỗi HVƠL có một hệ những điều kiện còn gọi là quy tắc (rules) để cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả đúng với đích. Có tất cả bốn điều kiện. Mỗi điều kiện lại được biểu hiện khác nhau tuỳ theo từng phạm trù, từng loại và từng HVƠL cụ thể: + Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là điều kiện chỉ ra bản chất của hành vi. Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản hay một hàm mệnh đề, có thể là một hành động của người nói hay một hành động của người nghe.
+ Điều kiện chuẩn bị: Bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và các quan hệ giữa người nói, người nghe. Ví dụ: Khi hứa với ai điều gì, ngay lúc hứa ta đã bị ràng buộc vào trách nhiệm thực hiện cho được lời hứa của chúng ta và người nghe có quyền lợi chờ đợi, được hưởng kết quả của lời hứa đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Điều kiện chân thành: Chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người phát ngôn. Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; lệnh đòi hỏi lòng mong muốn; hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói, … + Điều kiện căn bản: Là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi HVƠL đó được phát ra.
Trách nhiệm rơi vào hành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều nói ra). Phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi i. Phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi + Phát ngôn ngữ vi Trong hội thoại, khi các đối ngôn đối thoại với nhau cũng là lúc các phát ngôn được tạo lập. Những phát ngôn được tạo lập để thực hiện một hành vi nào đó và hành vi này được thực hiện ngay khi người ta nói.
Kiểu phát ngôn như vậy được gọi là phát ngôn ngữ vi. Nằm trong cấu trúc hội thoại, phát ngôn ngữ vi có một vị trí quan trọng trong quá trình tạo lập một sự kiện lời nói. Xét về bản chất, hành vi mượn lời được coi là sản phẩm của một HVƠL nào đó khi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực. Kết cấu lõi của một phát ngôn ngữ vi đặc trưng cho một loại HVƠL nhất định.
Nó hiện diện như một cách thức nói năng và đảm nhiệm những chức vụ khác nhau trong giao tiếp. BTNV chỉ là một tiểu đơn vị (cấu trúc lõi) của phát ngôn ngữ vi. Tuy nhiên, trong thực tế hội thoại, cấu trúc của PNNV có khi chỉ là một BTNV. [2] Con hứa sẽ không bao giờ gặp anh ấy nữa.
[TLTH; 605] Phát ngôn này chỉ có kết cấu là một BTNV tường minh hứa. Tuy nhiên, còn có những phát ngôn ngữ vi mở rộng, nghĩa là ngoài BTNV, những yếu tố mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp đa dạng của con người. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com [3] Thưa Đức Ông, thú thực, là ở mức độ nào đó, ở đấy tiếng nói của tôi có tác dụng quyết định, tôi xin hứa sẽ làm tất cả những gì trong phạm vi ảnh hưởng của mình. [NL 10; 75] Trong phát ngôn [3], ngoài kết cấu lõi là một BTNV tường minh hứa “Tôi xin hứa sẽ làm tất cả những gì trong phạm vi ảnh hưởng của mình”, còn có thêm thành phần mở rộng “thú thực, là ở mức độ nào đó, ở đấy tiếng nói của tôi có tác dụng quyết định” chỉ ra phạm vi của lời hứa.
+ Biểu thức ngữ vi “Biểu thức ngữ vi là những thể thức nói năng đặc trưng cho một hành vi ở lời… Biểu thức ngữ vi là dấu hiệu ngữ pháp – ngữ nghĩa của các HVƠL. Nhờ các biểu thức ngữ vi chúng ta nhận biết được các HVƠL”. BTNV là một yếu tố quan trọng tạo nên PNNV. Để nhận biết và phân biệt được BTNV người ta phải căn cứ vào các dấu hiệu.
Searle gọi những dấu hiệu này là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (illocutionary force indicating devices – IFIDs) [10, tr. a) Các kiểu kết cấu: là các kiểu câu tương ứng với từng HVOL. Những kiểu kết cấu đại diện cho các loại BTNV tương ứng.Ví dụ, kiểu kết cấu câu:“ có … không?”,“Tôi hỏi”, “ sao … thế?” … là sự thể hiện của BTNV hỏi; kiểu kết cấu:“Mình/ tôi hứa/ cam đoan/ nhất định/ chắc chắn sẽ…”,“Cậu/ anh/ chị cứ yên tâm. Tôi sẽ …”, “Dù/ dẫu …sẽ…” là kết cấu của BTNV hứa.
b) Những từ ngữ chuyên dùng trong các BTNV: dùng để tổ chức các kết cấu và là dấu hiệu nhờ chúng mà ta biết được hành vi nào đang thực hiện. Chẳng hạn, những từ ngữ chuyên dùng trong kết cấu hứa hẹn: yên tâm đi, cứ yên tâm, sẽ…ngay, bằng mọi giá, chắc chắn, bảo đảm v.v… c) Ngữ điệu: có vai trò rất quan trọng tạo nên hiệu lực ở lời cho các ĐTNV. Theo Đỗ Hữu Châu: “…Cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp cụ thể nếu được phát âm với các ngữ điệu khác nhau sẽ cho các BTNV khác nhau ứng với HVƠL khác nhau” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com [4] Anh sẽ đi. Trong phát ngôn [4], tuỳ thuộc vào ngữ điệu của người nói mà nó có bản chất là BTNV hứa hay BTNV đe doạ.