Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khái niệm địa danh và địa danh học 1. Khái niệm địa danh Tuỳ theo mục đích, qui ước nhất định trong từng hoàn cảnh, không gian cụ thể mà con người khi đã nhận thức, nhận diện về bất kì một thực thể nào trong thế giới thực tại cũng đều gọi tên và đặt tên. Do đó, có thể nói nhu cầu đặt tên, gọi tên là một nhu cầu thường trực, tất yếu và quan trọng của con người.
Tên đất, tên sông, tên núi, tên biển, tên suối, tên đường phố. đều là những địa danh. Một địa danh, xét về mặt lôgíc học, tương đương với một khái niệm; xét về mặt ngôn ngữ, địa danh được cấu tạo là từ hoặc cụm từ. Thuật ngữ địa danh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có cấu tạo gồm hai bộ phận topos (địa điểm, vị trí) và omoma/ onyma (tên gọi) [18, tr.
Như vậy, ý nghĩa chung nhất của thuật ngữ này là "tên gọi điểm địa lí". Khái niệm địa danh cần được hiểu theo đúng phạm vi xuất hiện của nó. Nếu hiểu theo lối chiết tự thì địa là đất, danh là tên, vậy địa danh tức là tên đất. Tuy nhiên, khái niêm này cần phải được hiểu ở mức độ rộng hơn, khái quát hơn vì đây là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học.
Cụ thể, địa danh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lí gắn với từng vùng đất cụ thể mà là tên gọi của tất cả các đối tượng địa lí tồn tại trên trái đất. Nó có thể là tên gọi của các đối tượng địa hình thiên nhiên, đối tượng địa lí cư trú hay là công trình do con người xây dựng, tạo lập nên. Địa danh là lớp từ ngữ nằm trong từ vựng của một ngôn ngữ, được dùng để đặt tên, gọi tên các đối tượng địa lí. Vì vậy, nó hoạt động và chịu sự tác động, sự chi phối của các qui luật ngôn ngữ nói chung về mặt ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 17 Hiện nay có rất nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào cách lập luận và hướng tiếp cận của mình để đưa ra cách định nghĩa khác nhau về địa danh. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu xem xét địa danh theo hai hướng là: nghiên cứu địa danh theo góc độ ngôn ngữ và nghiên cứu địa danh theo góc độ địa lí - văn hoá. Với cách tiếp cận địa danh theo góc độ ngôn ngữ, Lê Trung Hoa đưa ra cách hiểu "Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều" [23, tr. Nguyễn Kiên Trường quan niệm "Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn xác định trên bề mặt trái đất" [44, tr.
Phan Xuân Đạm xem "Địa danh là lớp từ đặc biệt được sinh ra để đánh dấu vị trí, xác lập các tên gọi đối tượng địa lí và nhân văn" [18, tr. Từ Thu Mai lại cho rằng "Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" [27, tr. Từ góc độ địa lí - văn hoá, Nguyễn Văn Âu quan niệm "Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc,. hay là tên các địa phương, các dân tộc" [3,tr.
Tác giả Đào Duy Anh cho rằng "Địa danh là tên gọi các miền đất" [1, tr. Theo chúng tôi, sự khác biệt trong các quan niệm trên chủ yếu là xuất phát từ phương diện, góc nhìn không giống nhau. Vì thế, để tiện cho thao tác làm việc, chúng tôi chấp nhận cách hiểu chung nhất về địa danh như sau: Địa danh là những từ, cụm từ dùng để gọi tên các đối tượng, không gian địa lí, các đặc trưng địa hình, địa vật; có tác dụng khu biệt, định vị những đối tượng, không gian địa lí, các đặc trưng địa hình, địa vật này với các đối tượng, không gian địa lí, các đặc trưng địa hình, địa vật khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.2 Khái niệm địa danh học Địa danh học (toponymy, toponomasiology, toponomastics), theo các nhà nghiên cứu, là một trong những bộ môn của danh học (onomastics).
Đặt trong khung cảnh của ngôn ngữ học, địa danh học nằm trong lòng bộ môn từ vựng học, vì đối tượng nghiên cứu của địa danh học chính là các từ ngữ được sử dụng để gọi tên, đặt tên. Địa danh học là một bộ môn khoa học có tính chất liên ngành, đa ngành, nó sử dụng nhiều phương pháp, thao tác nghiên cứu, kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như lịch sử, dân tộc học, địa lí học, văn hoá học. Mỗi địa danh đều gắn chặt với những chủ thể nhất định ở những thời điểm nhất định, tương ứng với nó là một lịch sử, văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư duy. Qua mỗi địa danh nào đó, ta có thể thấy được quá trình lịch sử - xã hội của một dân tộc.
Bộ môn khoa học này, nói chung, có nhiệm vụ nghiên cứu về hai mặt nội dung ngữ nghĩa và hình thức ngữ âm góp phần làm nên tín hiệu địa danh, khi đặt nó trong cách nhìn của tín hiệu học. Chính vì thế, việc xem xét một tín hiệu địa danh chủ yếu trên phương diện của tín hiệu ngôn ngữ là một việc làm hết sức cần thiết và quan trọng. Địa danh học là một bộ môn ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu nguồn gốc, ngữ nghĩa, cấu tạo, sự biến đổi, lan toả, phân bố địa danh. Chức năng và phân loại địa danh 1.
Chức năng của địa danh Thừa nhận địa danh là tên gọi đối tượng địa lí (tự nhiên hay nhân văn) thì cũng như các danh từ chung, địa danh có chức năng định danh sự vật. Tuy nhiên, địa danh lại đối lập với danh từ chung ở chỗ: địa danh mang chức năng của danh từ riêng là phân biệt và cá thể hoá đối tượng. Nói khác đi, ngay từ đầu, địa danh là tên riêng và nó có tác dụng đánh dấu, cá thể hoá đối tượng tương ứng với những cái xung quanh và lân cận nó. Ví dụ: dòng sông, con suối có đặc điểm chung là có một dòng chảy; ngọn núi, quả đồi có đặc điểm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 19 chung là có một khu đất, đá nhô lên cao khỏi mặt đất.
Nhưng lại được đặt tên bởi dòng sông này, con suối kia, ngọn núi nọ. vì chúng mang hai đặc trưng: một là, đặc trưng chung, phổ quát, lặp lại ở nhiều đối tượng trong một loại hình; hai là, đặc trưng khu biệt không lặp lại các đối tượng trong cùng một loại hình. Do vậy, chức năng định danh và cá thể hoá đối tượng là một chức năng quan trọng và thường trực của địa danh. Nó là kết quả của quá trình khám phá, nhận thức của con người về thế giới thực tại khách quan và được con người đặt tên cho chúng.
Với đặc trưng như vậy, địa danh cũng đồng thời giúp con người thực hiện tốt quá trình giao tiếp, tư duy. Mỗi địa danh hay một lớp địa danh đều gắn với văn hoá của từng cộng đồng, từng khu vực địa lí cụ thể. Vì thế, phản ánh đặc điểm văn hoá cũng là một chức năng của địa danh. Ngoài ra, địa danh hay một lớp địa danh đều ra đời trong những bối cảnh lịch sử xã hội nên chúng còn có chức năng phản ánh lịch sử địa phương.
Trên thực tế có những địa danh đã trở thành tấm bia ghi lại những biến cố, những sự kiện lịch sử đã xảy ra ở địa phương. Địa danh cầu Gia Bẩy, chùa Đán, đồi Cao Xạ đã để lại những chứng tích về cuộc đấu tranh hào hùng và oanh liệt của quân và dân Thái Nguyên trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Phân loại địa danh 1. Cách phân loại của các nhà địa danh học Phương Tây Phân loại địa danh là một vấn đề hết sức phức tạp.
Hiện nay vẫn chưa có mô hình phân loại khái quát tối ưu nào để có thể áp dụng phổ biến cho mọi công trình nghiên cứu. Vì vậy, tuỳ từng đối tượng nghiên cứu, tuỳ từng cách tiếp cận và tuỳ mục đích mà người nghiên cứu cần đưa ra cách phân loại địa danh sao cho phù hợp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 20 Theo Phan Xuân Đạm trong luận án "Địa danh Nghệ An" [18, tr. Dauzat trong "La toponymie Francaise" (1948) đã chia địa danh làm bốn phần và mỗi phần đều gắn với vấn đề nguồn gốc ngôn ngữ: 1- Vấn đề những cơ sở tiền Ấn - Âu.
2 - Các danh từ tiền La tinh về nước trong thuỷ danh học. 3 - Các từ nguyên Gô Loa - La Mã. 4 - Địa danh học Gô Loa - La Mã của người Auvergne và Velary. Dauzat thiên về phân chia địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ thì Ch.
Rostaing trong "Les noms de lieux" (1963) lại lấy tiêu chí của sự hỗn hợp giữa nguồn gốc ngôn ngữ và đối tượng để chia địa danh thành 11 loại. Các địa danh theo sự phân chia của Ch. Rostaing như sau: 1 - Những cơ sở tiền Ấn - Âu. 2 - Các lớp tiền Xêntich.
3 - Lớp Gô Loa. 4 - Những phạm vi Gô Loa - La Mã. 5 - Các sự hình thành La Mã. 6 - Những đóng góp của tiếng Giecmanh.
7 - Các hình thức của thời phong kiến. 8 - Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo. 9 - Những hình thái hiện đại. 10 - Các địa danh và tên đường phố.
11 - Tên sông và tên núi. Nếu như cách phân loại của A.Dauzat còn chưa cụ thể thì cách phân loại của Ch. Rostaing lại quá chi tiết, chưa có tính khái quát cao. Với mức độ sâu hơn, rõ ràng và khái quát hơn, A.
Superanskaja trong "Địa danh là gì" đã chia địa danh thành 8 loại: 1 - Điểm dân cư. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 21 2 - Điểm phi dân cư. 3 - Tên gọi sông. 5 - Tên đường phố.
6 - Tên mạng lưới giao thông. 7 - Tên quảng trường. 8 - Tên các công trình bên trong thành phố. Tuy nhiên, cách phân loại này không chú ý đến địa danh chỉ công trình xây dựng: cầu, cống, đường.vốn rất quen thuộc và gần gũi với con người.