Tổng quan luận án
Công trình Khảo sát những đặc điểm thể loại phóng sự của Vũ Trọng Phụng là luận án tiến sĩ ngành Ngữ văn, chuyên ngành Lý thuyết và lịch sử văn học (mã số: 5. 01), do nghiên cứu sinh Nguyễn Hoài Thanh thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1999, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Hoàng Như Mai và Phó Giáo sư – Tiến sĩ Trần Hữu Tá.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả luận án chỉ ra sự thiên lệch kéo dài hơn nửa thế kỷ trong việc tiếp nhận di sản văn chương của Vũ Trọng Phụng: giới nghiên cứu phê bình dành sự ưu ái cho lĩnh vực tiểu thuyết nhiều hơn so với mảng phóng sự. Căn cứ vào thư mục nghiên cứu trong cuốn Vũ Trọng Phụng - hôm qua và hôm nay (1992), tính đến năm 1992, trong tổng số 141 bài báo và sách nghiên cứu về tác giả họ Vũ, chỉ có 3 bài bàn riêng về thể loại phóng sự. Tại các hội thảo khoa học lớn, sự mất cân đối này thể hiện rất rõ: trong 29 báo cáo khoa học tại hai cuộc hội thảo kỷ niệm Vũ Trọng Phụng (tháng 12 năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh và tháng 10 năm 1989 tại Hà Nội), chỉ có 2 bài bàn riêng về phóng sự; tại cuộc hội thảo lần thứ ba vào ngày 15 tháng 3 năm 1992 kỷ niệm 80 năm ngày sinh của nhà văn tại Thành phố Hồ Chí Minh với 25 báo cáo, hoàn toàn không có tham luận nào dành riêng cho thể loại này. Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1999 có thêm một số bài báo, 1 luận văn thạc sĩ của Nguyễn Huy Quảng (1996) và 1 luận án phó tiến sĩ của Trần Đăng Thao (1996) khảo sát kết hợp cả tiểu thuyết lẫn phóng sự, nhưng chưa mang lại cái nhìn toàn diện. Bên cạnh đó, các ý kiến bàn về phóng sự trước đây chủ yếu nghiêng về phương diện nội dung đạo đức, chính trị và giá trị hiện thực của từng thiên phóng sự, chưa chú trọng khảo sát thỏa đáng phương diện nghệ thuật và thi pháp thể loại.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là mở cuộc khảo cứu toàn diện, có hệ thống nhằm xác định những đặc điểm nổi bật cả về nội dung (hiện thực, tư tưởng) lẫn hình thức nghệ thuật (khai thác tư liệu, tính tiểu thuyết, nghệ thuật trào phúng, đặc điểm lời văn), chỉ ra những giá trị đặc sắc, tính sáng tạo cùng những bất cập, hạn chế trong mảng sáng tác phóng sự của Vũ Trọng Phụng.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Trong sự nghiệp cầm bút từ năm 1933 đến năm 1939, Vũ Trọng Phụng đã công bố 8 thiên phóng sự dài. Do điều kiện lưu trữ và lịch sử xuất bản, có 3 tác phẩm bị thất lạc hoặc công bố dở dang gồm: Đời cạo giấy (đăng trên báo Tân thiếu niên, 1934, viết về nhà cách mạng Đoàn Trần Nghiệp tức Ký Con, ấn bản bị tịch thu khiến báo bị đóng cửa); Dân biểu và dân biểu (báo Công Dân, 1935, hiện chưa tìm được văn bản); và Vẽ nhọ bôi hề (báo Phụ nữ thời đàm, 1936, đăng dở dang do báo bị đình bản). Vì vậy, đối tượng khảo sát văn bản trực tiếp của luận án là 5 thiên phóng sự hoàn chỉnh còn lại.
| STT | Tên tác phẩm phóng sự | Cơ quan báo chí đăng tải | Thời gian công bố | Tình trạng văn bản sử dụng trong luận án |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Cạm bẫy người | Báo Nhật Tân | Tháng 8 năm 1933 | Khảo sát trực tiếp toàn văn |
| 2 | Đời cạo giấy | Báo Tân thiếu niên | Năm 1934 | Văn bản thất lạc, chỉ điểm tư liệu lịch sử |
| 3 | Kĩ nghệ lấy Tây | Báo Nhật Tân | Tháng 12 năm 1934 | Khảo sát trực tiếp toàn văn |
| 4 | Dân biểu và dân biểu | Báo Công Dân | Tháng 9 năm 1935 | Văn bản thất lạc, chỉ điểm tư liệu lịch sử |
| 5 | Cơm thầy cơm cô | Báo Hà Nội báo | Tháng 5 năm 1936 | Khảo sát trực tiếp toàn văn |
| 6 | Vẽ nhọ bôi hề | Báo Phụ nữ thời đàm | Tháng 9 năm 1936 | Bản thảo dở dang, chỉ điểm tư liệu lịch sử |
| 7 | Lục xì | Báo Tương Lai | Tháng 1 năm 1937 | Khảo sát trực tiếp toàn văn |
| 8 | Một huyện ăn Tết | Báo Tiểu thuyết thứ bẩy | Tháng 2 năm 1939 | Khảo sát trực tiếp toàn văn |
Phạm vi nghiên cứu được tác giả xác định theo bốn nội dung chính: thứ nhất, làm rõ quan niệm lý luận về thể phóng sự, phân định phóng sự báo chí và phóng sự văn học; thứ hai, khảo sát nội dung phóng sự trên hai bình diện hiện thực và tư tưởng; thứ ba, khảo sát các phương diện nghệ thuật như kỹ thuật xử lý tư liệu, tính tiểu thuyết và nghệ thuật trào phúng; thứ tư, phân tích đặc điểm lời văn và ngôn ngữ nghệ thuật của 5 tác phẩm nêu trên.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án phân chia lịch sử nghiên cứu phê bình phóng sự Vũ Trọng Phụng thành ba giai đoạn gắn liền với các mốc biến chuyển của văn học sử Việt Nam:
Giai đoạn từ năm 1933 đến năm 1944: Đây là giai đoạn các nhà văn, nhà phê bình đương thời trực tiếp đánh giá tác phẩm. Phóng sự Cạm bẫy người xuất hiện năm 1933 lập tức thu hút sự chú ý của dư luận; Lê Tràng Kiều trên Văn học tạp chí và Nguyễn Triệu Luật ghi nhận tài năng phóng sự của tác giả; báo Tràng An đặt danh xưng "ông vua phóng sự đất Bắc". Năm 1934, Phùng Tất Đắc viết lời tựa cho cuốn Kĩ nghệ lấy Tây đánh giá cao giá trị tư liệu xã hội học của tác phẩm; Nguyễn Thanh trên tờ Tin Văn và cây bút Lãng Tử trên tuần báo Phóng sự xuất bản tại Sài Gòn (1938) khẳng định tầm vóc của tác phẩm trong tiến trình văn học. Sau khi nhà văn qua đời năm 1939, tạp chí Tao Đàn số đặc biệt tập hợp bài viết của Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều, Tam Lang và Trương Tửu; trong đó Tam Lang thừa nhận phóng sự của Vũ Trọng Phụng đã vượt xa người mở đường, còn Trương Tửu xem bốn tác phẩm Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô, Lục xì, Kĩ nghệ lấy Tây là nền móng của nghệ thuật phóng sự Việt Nam hiện đại.
Bên cạnh luồng ý kiến khẳng định, xuất hiện các cuộc công kích gay gắt từ nhóm tác giả đối lập: Thái Phỉ trên tờ Tin Văn (tháng 5 năm 1936) lên án loại "văn chương dâm uế", nhại lại từ "kĩ nghệ" để chỉ trích Vũ Trọng Phụng; Nhất Linh lấy bút danh Nhất Chi Mai trên tờ Ngày Nay (ngày 21 tháng 3 năm 1937) viết bài Ý kiến một người đọc: dâm hay không dâm, trực tiếp phê phán thiên phóng sự Lục xì trên báo Tương Lai, cho rằng tác giả bôi đen xã hội khi đặc tả cảnh gái giang hồ, làm đĩ, hiếp dâm, bạc bịp. Vũ Trọng Phụng đã phản bác mạnh mẽ qua hai bài báo: Thư ngỏ cho ông Thái Phỉ, chủ bút báo Tin Văn về bài "Văn chương dâm uế" (đăng trên Hà Nội báo, ngày 29 tháng 3 năm 1936) và Để đáp báo Ngày Nay: dâm hay không dâm (đăng trên báo Tương Lai, ngày 25 tháng 3 năm 1937), đồng thời viết thư ngỏ giải thích việc đưa nguyên văn bài Phong tình ca khúc vào tác phẩm Lục xì nhằm mục đích phơi bày sự thật cảnh tỉnh xã hội chứ không nhằm khiêu dâm. Một số tác giả khác như Thế Lữ, Khái Hưng, Lan Khai, Trương Chính, Lê Thanh (Cuốn sổ văn học, 1944) cũng chỉ ra tính chất lộ liễu khi miêu tả nhục cảm. Đến năm 1942, Vũ Ngọc Phan trong bộ sách Nhà văn hiện đại đã chuyển lối phê bình cảm tính sang nghiên cứu học thuật khách quan, phân tích thành công tả chân cảnh nghèo khổ ở chương VII tác phẩm Cơm thầy cơm cô, vai trò của nhân vật "tôi" trần thuật, đồng thời nhận xét thiên phóng sự Lục xì mang tính chất một bài nghị luận về nạn mại dâm hơn là tác phẩm phóng sự thuần túy.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985: Tại Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc năm 1949, nhà thơ Tố Hữu ghi nhận công lao của Vũ Trọng Phụng trong việc vạch trần xã hội thối nát. Năm 1950, Nguyễn Đình Lạp trong bài giảng Muốn làm phóng sự tại lớp văn nghệ kháng chiến Liên khu IV đã đánh giá tác giả họ Vũ là cây bút phóng sự sâu sắc nhất. Năm 1953 và 1989, nhà văn Ngọc Giao công bố các hồi ức về quá trình thâm nhập thực tế và thu thập tư liệu của nhà văn. Trong hai năm 1956 - 1957 tại miền Bắc, các bài viết của Nguyên Hồng, Phan Khôi (tập san Vũ Trọng Phụng với chúng ta), Thiều Quang (Vũ Trọng Phụng - Đời sống và con người), bộ giáo trình Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (tập III, 1957) và chuyên luận của Văn Tâm (Vũ Trọng Phụng - nhà văn hiện thực, 1957) đã khẳng định giá trị hiện thực và tinh thần nhân đạo của các tác phẩm phóng sự, dù Văn Tâm cho rằng nhà văn còn non yếu về nhận thức chính trị khi ví nhân vật trùm cờ bạc Ấm B với Stalin. Trong bối cảnh phê phán nhóm Nhân văn - Giai phẩm, bài viết dạng thư luân lưu của Hoàng Văn Hoan mang tên Một vài ý kiến về vấn đề tác phẩm Vũ Trọng Phụng trong văn học Việt Nam đã quy kết tác giả công kích cộng sản và cổ xúy bản năng tính dục. Trong thập niên 1960, Nguyễn Đăng Mạnh (1960) và Vũ Đức Phúc đánh giá mảng phóng sự này nghiêng hẳn về chủ nghĩa tự nhiên, coi Lục xì là tác phẩm tự nhiên chủ nghĩa. Đến thập niên 1970 và 1980, giới nghiên cứu dần tái định giá khách quan: Nguyễn Công Hoan (1970) giải thích bối cảnh cạnh tranh báo chí; bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 (tập V, phần I, 1973) và Nguyễn Hoành Khung trong Từ điển văn học (tập II, 1984) tái khẳng định vị thế lịch sử của tác giả. Tại đô thị miền Nam trước năm 1975, các công trình của Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên) và Thanh Lãng (Bảng lược đồ văn học Việt Nam) cùng các nhận định của Tam Lang (1971), Dương Nghiễm Mậu (1971) cũng phân tích kỹ thuật điều tra và phong cách mỉa mai chua chát trong phóng sự của ông.
Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1998: Thời kỳ Đổi mới tạo điều kiện cho việc tái bản các tác phẩm phóng sự: Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô được đưa vào Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (tập II, 1987); Nhà xuất bản Hà Nội in lại Kĩ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô (1989); Cạm bẫy người được tái bản năm 1993 và Lục xì được Nhà xuất bản Văn học in lại vào năm 1998. GS. Nguyễn Đăng Mạnh (1988, 1989), PGS. Trần Hữu Tá (1987), PGS. Nguyễn Hoành Khung (1988, 1989), nhà phê bình Vương Trí Nhàn (1995) công bố các bài nghiên cứu chuyên sâu, khẳng định nghệ thuật quan sát sắc sảo, lối viết chính luận nghệ thuật và khả năng đưa thể phóng sự đạt tới độ chín muồi. Ở bậc sau đại học xuất hiện luận văn thạc sĩ của Nguyễn Huy Quảng (tháng 8 năm 1996) và luận án phó tiến sĩ của Trần Đăng Thao (tháng 10 năm 1996), cùng nghiên cứu của Nguyễn Thành lý giải yếu tố tự nhiên chủ nghĩa dưới góc độ phân tâm học Freud.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có hai công trình sau đại học của Nguyễn Huy Quảng và Trần Đăng Thao, song do phạm vi đề tài hoặc do phải giải quyết đồng thời cả hai mảng phóng sự và tiểu thuyết phóng sự, các nghiên cứu đi trước chưa thể khảo sát bao quát toàn bộ hệ thống tư liệu, chưa phân tích cặn kẽ cấu trúc thi pháp và các lớp ngôn ngữ nghệ thuật của riêng mảng phóng sự. Luận án của Nguyễn Hoài Thanh tập trung lấp đầy khoảng trống này bằng một hệ thống khảo sát toàn diện từ lý luận thể loại, giá trị hiện thực - tư tưởng, thi pháp trần thuật cho đến các bình diện lời văn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xác định hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các lý thuyết chuyên ngành văn học và báo chí:
Hệ thống lý thuyết và khái niệm: Luận án khảo sát nguồn gốc thuật ngữ phóng sự xuất phát từ từ tiếng Anh report, hình thành từ hai yếu tố tiếng La-tinh cổ gồm tiền tố re (lặp lại) và căn tố portare (mang vác sự kiện). Tác giả đối chiếu các định nghĩa chuyên ngành trong từ điển Le Petit Larousse (1996), Le Petit Robert (1973), bộ Encyclopædia Universalis (Paris, 1991), Từ điển nghiên cứu văn học của Đức do Claus Träger chủ biên (Leipzig, 1986), Từ điển Bách khoa Xô Viết (1985), công trình phong cách học của G. Solganik (Phong cách phóng sự, 1970) và lý thuyết phóng sự hiện đại của Karel Štorkán. Ở trong nước, luận án kế thừa các quan niệm của Nguyễn Đình Lạp (Muốn làm phóng sự, 1950), Bùi Huy Phồn (1962), Nam Mộc (1967), Phạm Thế Ngũ, Chế Lan Viên, Phương Lựu, Hà Minh Đức, Trần Hữu Tá và nhà nghiên cứu báo chí Đức Dũng.
Phân biệt thể loại: Luận án làm rõ thể kí là địa hạt giao thoa, nằm trong cuộc kéo co giữa báo chí và văn học theo cách diễn đạt của Ilya Ehrenburg (được Ilya Kotylenko trích dẫn). Dựa trên chức năng và phương thức cấu tạo hình tượng, luận án xác lập ranh giới giữa phóng sự báo chí và phóng sự văn học.
| Tiêu chí phân định | Phóng sự báo chí | Phóng sự văn học |
|---|---|---|
| Chức năng chủ đạo | Phản ánh – thông tin thời sự thuần túy. | Phản ánh – thông tin kết hợp chức năng thẩm mỹ. |
| Yêu cầu đối tượng | Người thật, việc thật tuyệt đối, tính thời sự cấp thiết; tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc 6Wh (What, Where, When, Which, Who, Why). | Dựa trên người thật việc thật nhưng được khúc xạ qua lăng kính thẩm mỹ và cảm xúc của nhà văn. |
| Yếu tố hư cấu | Tuyệt đối loại trừ mọi hình thức hư cấu; sai lệch dẫn đến trách nhiệm pháp lý. | Cho phép sử dụng liên tưởng, tái hiện tâm lý, điển hình hóa nghệ thuật; chịu sự phán xét của tòa án lương tâm. |
| Hình thức biểu đạt | Ngôn ngữ thông tấn, chính xác, định lượng, tránh thậm xưng, ngoa dụ. | Sử dụng ngôn ngữ hình tượng, các biện pháp tu từ, xây dựng tính cách và thế giới nội tâm nhân vật. |
| Chủ thể trần thuật | Cái tôi nhân chứng khách quan, phát tin trung thực. | Cái tôi nghệ thuật vừa làm chứng nhân vừa trực tiếp thẩm định, bộc lộ cảm xúc chủ quan. |
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp lịch sử: Khảo sát tiến trình phát sinh, phát triển của thể loại phóng sự trên báo chí phương Tây và Việt Nam; theo dõi diễn biến tiếp nhận, đánh giá văn nghiệp Vũ Trọng Phụng qua các thời kỳ.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đặt 5 tác phẩm phóng sự trong mối liên hệ nội tại với sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng và đối chiếu với diện mạo thể loại phóng sự giai đoạn 1930 - 1945.
- Phương pháp so sánh: Đối sánh giữa phóng sự báo chí và phóng sự văn học; so sánh phương thức khai thác tư liệu và bút pháp của Vũ Trọng Phụng với các cây bút đương thời như Tam Lang, Trọng Lang.
- Phương pháp thi pháp học: Khảo sát cấu trúc trần thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, thủ pháp trào phúng, các tầng khẩu ngữ và hệ thống giọng điệu nghệ thuật.
- Phương pháp bổ trợ: Phân loại văn bản, thống kê ngôn ngữ học đối với các lớp từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ xuất hiện trong tác phẩm.
Nguồn tư liệu nghiên cứu: Văn bản 5 thiên phóng sự in nguyên vẹn của Vũ Trọng Phụng (Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, Lục xì, Một huyện ăn Tết); các bài viết trên báo chí giai đoạn 1930 - 1945 (Nhật Tân, Tân thiếu niên, Hà Nội báo, Công Dân, Phụ nữ thời đàm, Tương Lai, Tiểu thuyết thứ bẩy, tuần báo Phóng sự Sài Gòn); các giáo trình, chuyên luận lý luận văn học và báo chí trong nước và quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề về thể phóng sự (trang 24 - 56)
Chương này tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và lịch sử thể loại. Tác giả dẫn chứng tư liệu về sự ra đời của phóng sự phương Tây vào thế kỷ XIX bắt nguồn từ các bài ký họa báo chí (Sketch Book năm 1819 của Washington Irving, Sketches by Boz năm 1835 của Charles Dickens, các ký sự của Georg Weerth năm 1843 - 1845, phóng sự của Theodor Fontane năm 1882); bài báo của Henry Morton Stanley trên tờ New-York Herald năm 1871 thuật lại chuyến đi tìm David Livingstone tại hồ Tanganyika được xem là dấu mốc định hình danh xưng phóng viên và lối văn phóng sự; sự phát triển của phóng sự tại Mỹ trong cuộc Nội chiến (1861 - 1865) và bước thâm nhập muộn hơn vào Pháp qua các tác giả như Albert Londres, Roland Dorgelès, Pierre Mac Orlan, Louis Roubaud, Andrée Viollis; tiếp đó là các đỉnh cao thế kỷ XX của John Reed, Henri Barbusse, Upton Sinclair, Jack London, Julius Fučík, Edgar Snow.
Tại Việt Nam, từ "phóng sự" chưa có trong Đại Nam quấc âm tự vị (1895), bắt đầu xuất hiện trong Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức (1931) với nghĩa "người hỏi tin cho nhà báo" và được Đào Duy Anh phân tích ngữ nghĩa trong Hán Việt từ điển (1932). Bức thư của Vũ Trọng Phụng gửi vợ chồng bạn ngày 31 tháng 12 năm 1935 là một trong những tài liệu sớm nhất luận bàn về tính chất "truyện kể có cơ sở mắt thấy tai nghe" của phóng sự. Tác giả phân tích các bài xã luận trên tờ Phóng sự (Sài Gòn, 1938) và công trình của Vũ Ngọc Phan (1942), từ đó định hình khái niệm phóng sự như một thể kí xung kích nằm ở đường ranh giữa báo chí và văn học. Điểm cốt lõi của chương là phân định phóng sự báo chí (nghiêm ngặt về tính xác thực, cấm hư cấu, thông tin sự kiện) và phóng sự văn học (sử dụng phương tiện thẩm mỹ, xây dựng hình tượng, thâm nhập yếu tố tiểu thuyết).
Chương 2: Phóng sự Vũ Trọng Phụng: hiện thực và tư tưởng (trang 56 - 104)
Chương 2 phân tích nội dung hiện thực và tư tưởng trong 5 thiên phóng sự. Tác giả phân chia bức tranh đời sống thành hai mảng lớn:
- Những mảng hiện thực đen tối và tệ nạn xã hội trầm kha: nạn cờ bạc bịp với những thủ đoạn gian lận tinh vi trong Cạm bẫy người; tệ lấy lính lê dương, biến thân xác phụ nữ thành một thứ nghề nghiệp kinh tế tủi nhục phục vụ đội quân viễn chinh Pháp ở Kĩ nghệ lấy Tây; cảnh sinh hoạt nhơ nhớp, bi kịch bệnh tật và sự hành hạ thể xác trong nhà kiểm thảo y tế dành cho gái bán dâm ở Lục xì; nạn bóc lột sức lao động của người giúp việc cùng cảnh chợ người vô nhân đạo ở Cơm thầy cơm cô; những hủ tục lạc hậu, mê tín, ăn uống chè chén làm kiệt quệ đời sống nông dân nghèo trong Một huyện ăn Tết.
- Sự tha hóa của các tầng lớp xã hội: sự lụi tàn nhân cách và gia sản của các con bạc bịp bợm; sự khốn cùng dẫn đến tha hóa của tầng lớp dưới đáy (con sen, thằng nhỏ, gái điếm); sự băng hoại đạo đức của giới chủ nhà, chủ chứa trung gian và bọn cai thầu nhân lực.
Về giá trị và hạn chế: Tác giả khẳng định giá trị lịch sử - thời sự to lớn của các tác phẩm như những bức tranh tài liệu sống động ghi lại biến cố xã hội Việt Nam thời kỳ Âu hóa; giá trị nhân đạo sâu sắc thể hiện qua niềm xót thương chân thành đối với những kiếp người bị coi là cặn bã, rác rưởi. Đồng thời, chương 2 chỉ ra những bất cập, sai lầm về nhận thức chính trị (như việc so sánh thiếu căn cứ giữa trùm cờ bạc Ấm B với các nhân vật chính trị thế giới) và các yếu tố tự nhiên chủ nghĩa bắt nguồn từ cái nhìn bi quan, tuyệt đối hóa bản năng sinh lý và định mệnh tiền định trong quan niệm của nhà văn.
Chương 3: Đặc điểm về phương diện nghệ thuật (trang 104 - 161)
Chương này đi sâu vào thi pháp nghệ thuật của tác giả trên ba phương diện chính:
- Nghệ thuật khám phá hiện thực và khai thác tư liệu: Sự tinh tế, nhạy bén trong việc tuyển chọn những đề tài đang làm nhức nhối xã hội; sự năng động, dũng cảm trong tiếp cận hiện thực (trực tiếp đóng vai, thâm nhập vào các tụ điểm cờ bạc, nhà chứa, chợ người, nhà thương y tế); sự sáng tạo trong việc phối hợp giữa tư liệu quan sát trực tiếp và tư liệu gián tiếp thu lượm từ lời kể của các nhân chứng xã hội.
- Yếu tố nghệ thuật tiểu thuyết trong phóng sự: Tác giả biến mỗi vấn đề điều tra khô khan thành một cốt truyện kịch tính có mở đầu, cao trào và kết thúc; xây dựng một quần thể nhân vật sống động có ngoại hình, hành động, ngôn ngữ mang tính điển hình cao; sử dụng nghệ thuật trần thuật hấp dẫn, tạo bất ngờ, đan cài những trường đoạn tự sự tâm lý giàu kịch tính.
- Nghệ thuật trào phúng: Xây dựng các chân dung nhân vật hài hước dưới dạng biếm họa; tổ chức những tình huống trào phúng mang tính chất bi hài kịch, đặt nhân vật vào sự đối lập gay gắt giữa bản chất xấu xa và vẻ ngoài hào nhoáng; sử dụng lối văn giễu nhại, mỉa mai sâu cay nhằm bóc trần sự giả dối của đạo đức phong kiến suy tàn và phong trào Âu hóa rởm đời.
Chương 4: Đặc điểm lời văn phóng sự Vũ Trọng Phụng (trang 161 - 195)
Chương 4 khảo sát đặc điểm ngôn ngữ học và phong cách học của tác phẩm:
- Chất khẩu ngữ trong lời văn: Tác giả thống kê và phân tích các lớp khẩu ngữ đời thường, tiếng lóng của các tầng lớp bình dân thành thị (dân cờ bạc, lính kín, me Tây, gái điếm, vú em); việc vận dụng lượng lớn thành ngữ, tục ngữ mang màu sắc lời ăn tiếng nói sinh hoạt hàng ngày; các biện pháp tu từ mang âm hưởng nói chuyện trực tiếp. Khẩu ngữ được dùng như một công cụ đắc lực để mô tả chân thực hiện thực và khắc họa tính cách quần thể nhân vật.
- Hệ thống giọng điệu đa thanh: Giọng điệu của cái tôi người kể chuyện đóng vai trò chứng nhân điều tra (lạnh lùng, khách quan, giàu tính tư liệu); giọng điệu của cái tôi tác giả bộc lộ qua những đoạn trữ tình ngoại đề và triết lý xã hội (chua chát, mỉa mai, căm hận hoặc xót thương); giọng điệu tự nhiên, đa dạng của chính các nhân vật xã hội.
- Tính hiện đại và hạn chế của lời văn: Việc tiếp thu linh hoạt vốn từ vựng mới mẻ của báo chí, khoa học y tế, pháp luật thời kỳ giao thời; cấu trúc câu văn hiện đại, gãy gọn, giàu tính thông tin và nhịp điệu trần thuật nhanh. Về mặt hạn chế, tác giả chỉ ra ở một số trang viết, lời văn còn rơi vào tình trạng sống sượng, quá trớn, bộc lộ sự miêu tả sinh lý một cách tự nhiên chủ nghĩa.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định bốn đóng góp mới về mặt khoa học:
- Về mặt lý luận: Trên cơ sở tổng hợp lý luận văn học và báo chí, công trình góp phần minh định các khái niệm phóng sự báo chí, phóng sự văn học và phóng sự mang yếu tố tiểu thuyết, làm sáng tỏ bản chất thể loại nằm ở vùng giáp ranh.
- Về mặt nhận thức hiện thực: Luận án phân tích toàn diện giá trị bức tranh hiện thực và chiều sâu tư tưởng nhân đạo trong phóng sự Vũ Trọng Phụng; đồng thời chỉ rõ những giới hạn nhận thức, những sai lầm chính trị và dấu ấn tự nhiên chủ nghĩa của tác giả một cách khách quan trên quan điểm lịch sử cụ thể.
- Về mặt nghệ thuật: Làm sáng tỏ thi pháp thể loại của Vũ Trọng Phụng qua việc phân tích kỹ thuật khai thác tư liệu, xu hướng tiểu thuyết hóa cốt truyện - nhân vật và hệ thống thủ pháp trào phúng đặc trưng.
- Về mặt ngôn ngữ nghệ thuật: Khảo sát chi tiết chất khẩu ngữ, hệ thống giọng điệu và cú pháp hiện đại, khẳng định đóng góp của tác giả họ Vũ đối với sự phát triển của ngôn ngữ văn xuôi tiếng Việt hiện đại.
Về mặt thực tiễn, luận án đề xuất việc đúc kết kinh nghiệm viết phóng sự của Vũ Trọng Phụng nhằm phục vụ cho sự phát triển của thể loại phóng sự báo chí - văn học đương đại trong công cuộc đổi mới; đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo có hệ thống phục vụ công tác giảng dạy và học tập các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng trong nhà trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án bị giới hạn về nguồn văn bản khi có 3 trong tổng số 8 thiên phóng sự dài của tác giả bị thất lạc hoặc đăng dở dang (Đời cạo giấy, Dân biểu và dân biểu, Vẽ nhọ bôi hề), do đó việc khảo sát chỉ tập trung trên 5 văn bản hoàn chỉnh hiện còn. Luận án cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu ở thể phóng sự, chưa mở rộng phân tích đối chiếu với toàn bộ hệ thống tiểu thuyết phóng sự đồ sộ của cùng tác giả.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, văn bản gợi mở sự cần thiết của việc tiếp tục công tác sưu tầm văn bản học nhằm tìm kiếm các phần bị thất lạc của ba thiên phóng sự trên các nguồn báo chí cũ; đồng thời mở rộng nghiên cứu tương tác thể loại giữa phóng sự và tiểu thuyết trong phong cách nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Lý luận văn học, Văn học Việt Nam và Báo chí học.
- Giảng viên đại học và giáo viên phổ thông cần tư liệu giảng dạy chuyên sâu về tác gia văn học Vũ Trọng Phụng.
- Các nhà nghiên cứu lịch sử báo chí, nhà báo và người viết phóng sự quan tâm đến kỹ thuật điều tra hiện thực và bút pháp trần thuật.
Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong công trình gồm: phần hệ thống hóa lý luận về phóng sự báo chí và phóng sự văn học tại Chương 1; các phân tích thi pháp trào phúng và kỹ thuật tiểu thuyết hóa tại Chương 3; hệ thống tư liệu thống kê về các lớp khẩu ngữ và cú pháp hiện đại tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã dẫn chứng những số liệu cụ thể nào để chứng minh tình trạng nghiên cứu chưa cân xứng về mảng phóng sự của Vũ Trọng Phụng?
Luận án dẫn chứng số liệu từ thư mục trong cuốn Vũ Trọng Phụng - hôm qua và hôm nay (1992): tính đến năm 1992, trong 141 bài báo và sách nghiên cứu về tác giả, chỉ có 3 bài bàn riêng về phóng sự. Tại hai hội thảo kỷ niệm năm 1987 và 1989 có 29 báo cáo khoa học thì chỉ có 2 bài viết về phóng sự; đến hội thảo kỷ niệm 80 năm ngày sinh tác giả năm 1992 với 25 báo cáo, hoàn toàn không có tham luận nào dành riêng cho thể loại này.
2. Vì sao luận án chỉ chọn 5 thiên phóng sự làm đối tượng khảo sát chính trong tổng số 8 tác phẩm của tác giả?
Trong số 8 thiên phóng sự dài sáng tác từ năm 1933 đến năm 1939, có 3 tác phẩm không thể khảo sát văn bản trực tiếp gồm: Đời cạo giấy (1934) và Dân biểu và dân biểu (1935) đã bị thất lạc văn bản trên báo cũ; Vẽ nhọ bôi hề (1936) bị dở dang do tờ Phụ nữ thời đàm bị đình bản. Do đó, luận án tập trung khảo sát 5 tác phẩm còn toàn vẹn văn bản là Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, Lục xì và Một huyện ăn Tết.
3. Sự khác biệt cốt lõi giữa phóng sự báo chí và phóng sự văn học được luận án phân định dựa trên những tiêu chí nào?
Sự khác biệt cốt lõi nằm ở chức năng và phương thức xử lý hình tượng: phóng sự báo chí mang chức năng phản ánh - thông tin thời sự, tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc 6Wh, tuyệt đối loại trừ hư cấu và sử dụng ngôn ngữ thông tấn khách quan; trong khi đó, phóng sự văn học thực hiện đồng thời chức năng phản ánh - thông tin - thẩm mỹ, cho phép sử dụng hình tượng nghệ thuật, miêu tả chiều sâu tâm lý, vận dụng kỹ thuật tiểu thuyết và bộc lộ cảm xúc chủ quan của tác giả.
4. Cuộc tranh luận về yếu tố dâm hay không dâm trong phóng sự Vũ Trọng Phụng diễn ra như thế nào trong văn bản?
Năm 1936, Thái Phỉ trên tờ Tin Văn lên án loại văn tả chân dâm uế; năm 1937, Nhất Linh (bút danh Nhất Chi Mai) trên tờ Ngày Nay viết bài công kích trực diện thiên phóng sự Lục xì, cho rằng nhà văn bôi đen xã hội khi đặc tả gái giang hồ, hiếp dâm, cờ bạc. Vũ Trọng Phụng đã phản bác mạnh mẽ qua hai bài báo trên Hà Nội báo (1936) và Tương Lai (1937), tuyên bố chủ trương tả thực xã hội vị nhân sinh để cảnh tỉnh người đọc và chống thói xa hoa giả dối của giai cấp thượng lưu, chứ không nhằm mục đích kích dục.
5. Luận án đã viện dẫn những tác phẩm và tác giả quốc tế nào để minh họa cho lịch sử phát triển của thể phóng sự?
Luận án dẫn chứng tác phẩm của Washington Irving (Sketch Book), Charles Dickens (Sketches by Boz), Georg Weerth, Theodor Fontane; bài báo năm 1871 của Henry Morton Stanley trên tờ New-York Herald; các tác giả Pháp như Albert Londres, Roland Dorgelès, Pierre Mac Orlan, Louis Roubaud, Andrée Viollis; và hàng loạt tác phẩm thế kỷ XX như Mười ngày rung chuyển thế giới của John Reed, Khói lửa của Henri Barbusse, các phóng sự của Jack London, Upton Sinclair (Dân dưới vực thẳm, Rừng rậm), Julius Fučík (Viết dưới giá treo cổ), Maxim Gorky, Edgar Snow (Ngôi sao đỏ ở Trung Quốc), Wilfred Burchett, Ilya Ehrenburg, Boris Polevoy.
Kết luận
Luận án của Nguyễn Hoài Thanh là công trình khảo cứu chuyên sâu đầu tiên khảo sát toàn diện hệ thống đặc điểm thể loại phóng sự của Vũ Trọng Phụng trên cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật. Dựa trên cơ sở phân định lý luận giữa phóng sự báo chí và phóng sự văn học, công trình đã làm sáng tỏ giá trị tư liệu xã hội học, giá trị nhân đạo cùng những hạn chế lịch sử trong nhận thức hiện thực của tác giả. Đồng thời, luận án chỉ rõ các đặc trưng thi pháp nổi bật về kỹ thuật xử lý tư liệu, tính tiểu thuyết, nghệ thuật trào phúng và chất khẩu ngữ hiện đại trong lời văn nghệ thuật của nhà văn họ Vũ. Đây là công trình học thuật có giá trị tư liệu xác thực, góp phần hoàn thiện bức chân dung tác gia Vũ Trọng Phụng và cung cấp hệ thống luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu thể loại ký văn học Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945.