Tổng quan nghiên cứu

Quần thể Di tích Cố đô Huế là trung tâm chính trị, văn hóa tiêu biểu của triều Nguyễn, trải rộng trên diện tích hơn 37 ha thuộc khu vực Đại Nội với hơn 100 công trình kiến trúc cung đình tinh xảo. Trong cấu trúc tổng thể này, cung Diên Thọ được khởi dựng vào tháng 3 năm 1804 với quy mô khuôn viên lên tới 17.300 m2, giữ vị trí then chốt ở phía tây Hoàng thành theo nguyên tắc quy hoạch truyền thống. Đây là nơi ở, sinh hoạt của các bậc Hoàng Thái hậu và Thái Hoàng Thái hậu, mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc cho đạo hiếu và trật tự lễ nghi cung đình triều Nguyễn.

Tuy nhiên, trải qua 143 năm tồn tại của vương triều cùng những biến cố lịch sử và chiến tranh tàn phá, nhiều đơn nguyên kiến trúc trong cung đã biến đổi hoặc trở thành phế tích dưới lòng đất. Nguồn sử liệu thành văn của triều đình chỉ ghi chép khái lược về các đợt dựng lập, tu bổ mà chưa làm rõ được diện mạo kiến trúc nguyên bản và quá trình diễn tiến cấu trúc không gian qua từng thời kỳ lịch sử.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích, hệ thống hóa và đánh giá toàn diện hệ thống dấu tích nền móng, địa tầng và di vật khảo cổ học thu được từ đợt khai quật thám sát năm 1999. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại khu vực cung Diên Thọ (tọa độ 16°28’329” vĩ Bắc, 107°34’977” kinh Đông) trong khung niên đại từ đầu thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, có đối sánh mở rộng với các tầng văn hóa thế kỷ XVII - XVIII. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở cứ liệu vật chất xác thực, đạt độ tin cậy khoa học cao nhằm phục vụ công tác trùng tu, bảo tồn chính xác 100% diện mạo di sản văn hóa thế giới đã được UNESCO công nhận.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Địa tầng học khảo cổ học nhằm bóc tách các lớp trầm tích văn hóa và trật tự lắng đọng vật chất theo thời gian. Đồng thời, đề tài kết hợp Lý thuyết Hình thái học kiến trúc cung đình phương Đông và nguyên lý quy hoạch công sự phòng thủ Vauban để phân tích sự chuyển giao công năng của các công trình hoàng gia.

Bốn khái niệm then chốt được xây dựng làm nền tảng phân tích gồm:

  • Trùng thiềm điệp ốc: Kiểu thức kiến trúc nhà kép mái chồng trên cùng một nền móng, tiêu biểu cho chính điện thời Nguyễn.
  • Tả nam hữu nữ: Nguyên tắc phân định phương vị không gian cung đình, định hình vị trí phía tây của Tây cung.
  • Địa tầng văn hóa: Hệ thống các tầng lắng đọng vật chất phản ánh hoạt động cư trú và kiến thiết qua từng triều đại.
  • Kỹ thuật cọc cát: Biện pháp xử lý nền đất yếu và gia cố móng trụ chịu lực chống sụt lún trong điều kiện thủy văn khắc nghiệt.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ Báo cáo kết quả thám sát, khai quật khảo cổ học tại cung Diên Thọ năm 1999 do Bảo tàng Lịch sử Quốc gia phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế thực hiện trên diện tích hơn 17.300 m2, kết hợp khai thác các bộ chính sử như Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm hàng loạt hố thám sát trọng điểm tại sân Chính điện, điện Thọ Ninh, tạ Trường Du và gác Khương Ninh. Mẫu vật chỉnh lý gồm hàng trăm cấu kiện gạch Bát Tràng (kích thước chuẩn 30cm x 30cm x 7cm), đá sa thạch lát bậc thềm (kích thước 155cm x 36cm x 11cm), gạch vồ có khắc ký hiệu và hàng nghìn mảnh gốm sứ thời Nguyễn, đồ sứ ngự dụng Trung Quốc, đồ sứ Pháp. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo từng đơn nguyên kiến trúc được áp dụng nhằm đối sánh chính xác mối liên hệ kết cấu giữa các thời kỳ.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích liên ngành giữa Khảo cổ học, Lịch sử học và Hán Nôm học kết hợp ứng dụng phần mềm đồ họa chuyên dụng trong đo vẽ kỹ thuật là nhằm đảm bảo tính khách quan tuyệt đối. Quá trình xử lý dữ liệu kéo dài từ giai đoạn thám sát ban đầu qua các đợt chỉnh lý năm 2002 đến khi hoàn thiện toàn bộ công trình tổng hợp năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả khai quật và thám sát địa tầng đã mang lại những phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, xác lập diễn tiến 4 tầng văn hóa liên tục. Tầng 1 nằm ở độ sâu 100 - 120cm chứa đồ gốm sứ cao cấp thế kỷ XVII - XVIII thời chúa Nguyễn. Tầng vô sinh là lớp cát phù sa dày từ 5 đến 10cm phản ánh hiện tượng ngập lụt định kỳ. Tầng 2 ở độ sâu 30 - 50cm phản ánh quy mô kiến trúc thời Minh Mạng và Tự Đức với nền nện laterite kiên cố. Tầng 3 nằm ở độ sâu 15 - 20cm thuộc nửa sau thế kỷ XIX và tầng 4 thuộc giai đoạn đầu thế kỷ XX.

Thứ hai, làm xuất lộ phế tích Tiền điện đồ sộ trước sân Chính điện. Đoàn khai quật đã phát hiện 7 hàng chân cột theo trục đông - tây và 8 hàng chân cột theo trục bắc - nam. Các trụ móng gạch có kích thước lớn từ 80x80cm đến 98x100cm, chiều cao 30 - 40cm, được gia cố từ 1 đến 3 lớp gạch ngói vỡ lèn chặt cùng hệ thống cọc cát bao quanh.

Thứ ba, làm rõ quá trình biến đổi quy mô của các công trình phụ trợ. Tạ Trường Du được khởi dựng năm 1849 trên mặt hồ rộng 530 m2 với khung gỗ rường 16 cột trụ, sau đó được cải tạo thời Khải Định bằng cầu bê tông hiện đại. Điện Thọ Ninh thu hẹp quy mô khoảng 40% từ kết cấu 7 gian 2 chái năm 1849 xuống còn 3 gian 2 chái vào năm 1930.

Thứ tư, xác định hệ thống hạ tầng hoàn chỉnh với 4 giếng cổ kiên cố, tiêu biểu là giếng tròn phía đông bắc có đường kính 274cm, độ sâu 500cm kè gạch vồ từ đáy lên miệng, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt độc lập.

Thảo luận kết quả

Diễn biến địa tầng cho thấy cung Diên Thọ được xây dựng trên vùng đất trũng thấp sát sông Hương, thường xuyên chịu tác động của lũ lụt lớn vào mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 12 âm lịch. Để thích ứng, triều đình nhà Nguyễn đã áp dụng kỹ thuật đầm nện đất laterite kết hợp cọc cát chịu lực, tạo nên nền móng vững chắc hơn nhiều so với các công trình cùng thời.

Khi so sánh với các phế tích kiến trúc tại Hoàng thành Thăng Long hay các cung điện khác trong Đại Nội như điện Cần Chánh, móng trụ tại cung Diên Thọ có mật độ gia cố dày đặc hơn hẳn. Dữ liệu khảo cổ học có thể được hệ thống hóa trực quan qua bảng thống kê cao độ địa tầng và biểu đồ so sánh kích thước trụ móng, làm nổi bật bước chuyển tiếp từ vật liệu truyền thống sang vật liệu phương Tây như xi măng và kính màu đầu thế kỷ XX.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy bền vững giá trị di tích cung Diên Thọ, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, triển khai giải pháp gia cố kỹ thuật và chống thấm nền móng cho 100% hệ thống chân tảng và cọc cát ngầm trước năm 2028. Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế cần chủ trì phối hợp với các viện địa kỹ thuật để xử lý triệt để tình trạng mao dẫn nước ngầm trong mùa mưa bão.

Thứ hai, ứng dụng công nghệ mô hình hóa thông tin di sản và quét laser 3D để số hóa toàn bộ phế tích Tiền điện 5 gian 2 chái kép dưới lòng đất sân Chính điện. Hoạt động này cần hoàn thành trong vòng 24 tháng nhằm cung cấp mô hình thực tế ảo phục vụ nghiên cứu và trưng bày bảo tàng.

Thứ ba, quy chuẩn hóa quy trình sản xuất vật liệu phục chế truyền thống. Các cơ sở trùng tu phải chế tác gạch Bát Tràng kích thước 30cm x 30cm x 7cm và ngói lưu ly đúng tiêu chuẩn kỹ thuật khảo cổ học, đảm bảo độ tương thích vật liệu đạt trên 95% trước khi thi công trường lang và sân vườn.

Thứ tư, xây dựng sản phẩm du lịch di sản chuyên đề về không gian văn hóa hậu cung triều Nguyễn. Đơn vị quản lý cần khai thác trục tham quan Am Phước Thọ - Gác Khương Ninh và Tạ Trường Du, đặt mục tiêu tăng trưởng 30% lượng khách quốc tế tìm hiểu chiều sâu lịch sử trong giai đoạn 2028 - 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu Lịch sử và Khảo cổ học: Luận văn cung cấp chuỗi số liệu thực nghiệm về 4 tầng văn hóa và hệ thống di vật gốm sứ phong phú, hỗ trợ đắc lực cho việc giải mã không gian sinh hoạt hoàng gia qua 143 năm vương triều Nguyễn.

Thứ hai, kiến trúc sư và chuyên gia bảo tồn di tích: Công trình cung cấp các thông số kỹ thuật chuẩn xác về móng trụ 3 lớp và kích thước bậc đá sa thạch (155cm x 36cm x 11cm), tạo cơ sở thiết kế phương án trùng tu đạt chuẩn mực quốc tế.

Thứ ba, cơ quan quản lý văn hóa và quy hoạch đô thị: Cán bộ quản lý có thể sử dụng các kết luận khoa học để xây dựng hồ sơ di sản, định hướng quy hoạch bảo vệ vùng đệm cho hơn 100 công trình trong Đại Nội Huế.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Di sản văn hóa: Đề tài là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp khai quật thám sát, xử lý hiện vật đồ sứ ngự dụng và khai thác giá trị đạo hiếu phục vụ phát triển du lịch bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Khảo cổ học tại cung Diên Thọ năm 1999 đã phát hiện dấu tích kiến trúc quan trọng nào? Cuộc khai quật năm 1999 đã làm xuất lộ dấu tích phế tích Tiền điện với 7 hàng cột đông - tây và 8 hàng cột bắc - nam trước sân Chính điện. Các trụ móng gạch có kích thước từ 80x80cm đến 98x100cm được gia cố bằng kỹ thuật cọc cát, minh chứng cho sự tồn tại của công trình đồ sộ thời Tự Đức từng được ghi chép trong sử sách.

Tại sao xuất hiện lớp phù sa sông dày từ 5 đến 10cm trong địa tầng di tích? Sự hiện diện của lớp cát hạt mịn vô sinh dày từ 5 đến 10cm phản ánh điều kiện tự nhiên trũng thấp của khu vực, thường xuyên bị ngập lụt theo mùa trong lịch sử. Điều này lý giải vì sao người thợ triều Nguyễn đã kỳ công đầm nện laterite và xếp móng gạch nhiều cấp để đảm bảo tuổi thọ công trình.

Tạ Trường Du đã trải qua những biến đổi cấu trúc nào qua các thời kỳ? Khởi dựng năm 1849 trên hồ nước rộng 530 m2 với 16 cột gỗ rường, Tạ Trường Du ban đầu có trường lang bao bọc ba mặt. Đến thời vua Khải Định, công trình được nối thêm cầu xi măng cốt thép qua hồ vào đình Lương Phong, làm thay đổi trục tiếp cận chính của toàn bộ cảnh quan thủy tạ.

Ý nghĩa tín ngưỡng đặc biệt của công trình Am Phước Thọ - Gác Khương Ninh là gì? Được xây dựng năm 1830 với bức bình phong dài 10m, công trình là nơi dung hòa độc đáo giữa Phật giáo truyền thống và tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na của Champa. Đây là minh chứng sinh động cho sự tôn trọng đa dạng tín ngưỡng và đời sống tâm linh phong phú của hậu cung triều Nguyễn.

Quy mô mặt bằng tổng thể của cung Diên Thọ được bảo vệ như thế nào? Cung Diên Thọ có diện tích 17.300 m2, được bao bọc bởi tường gạch cao 3m, dày khoảng 0,75m cùng 4 cổng đóng kín. Khuôn viên sở hữu 4 giếng nước cổ sâu tới 500cm, tạo nên một không gian sống khép kín, an ninh tuyệt đối và tiện nghi hàng đầu trong Hoàng thành.

Kết luận

  • Luận văn thạc sĩ của tác giả Kỳ Dương Nhật Linh đã hoàn thành xuất sắc việc tổng hợp toàn diện nguồn tư liệu khảo cổ học năm 1999 tại khuôn viên 17.300 m2 của cung Diên Thọ.
  • Xác lập khoa học hệ thống 4 tầng địa tầng văn hóa và kỹ thuật gia cố móng cọc cát chịu lực độc đáo trên nền đất trũng thấp.
  • Phục dựng chính xác tiến trình biến đổi không gian của Chính điện diện tích 950 m2, Tạ Trường Du trên hồ nước 530 m2 và Gác Khương Ninh khởi dựng năm 1830.
  • Cung cấp hệ thống tiêu chí phân loại vật liệu gạch vồ, gạch Bát Tràng và gốm sứ cung đình đạt độ tin cậy khoa học cao.
  • Khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc về đạo hiếu hoàng tộc và nghệ thuật kiến trúc cảnh quan đỉnh cao của vương triều Nguyễn.

Công trình tạo lập nền tảng khoa học vững chắc cho chiến lược bảo tồn di sản giai đoạn 2026 - 2030. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu di sản hãy ứng dụng ngay nguồn tư liệu thực nghiệm này để nâng cao hiệu quả trùng tu và phát huy giá trị Quần thể Di tích Cố đô Huế.