mở đầu cho sự nghiệp của các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, hai người con trai kế của Nguyễn Kim cũng là tướng giỏi và được phong chức Quận công. Sau khi người con trai lớn là Nguyễn Uông bị anh rể là Trịnh Kiểm giết hại, người con trai còn lại là Nguyễn Hoàng đã xin vua Lê cho vào cai trị vùng đất Thuận Hóa để rời xa sự kiểm soát của Trịnh Kiểm, nhằm mưu đồ tạo dựng cơ nghiệp riêng cho họ Nguyễn. Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, từ đây cơ nghiệp của họ Nguyễn bắt đầu được hình thành. Các chúa Nguyễn về danh nghĩa là quan của nhà Lê trung hưng, nhận sắc phong và dùng niên hiệu của vua Lê, giúp vua Lê cai quản vùng lãnh thổ phía nam, nhưng trên thực tế họ cai trị lãnh thổ Đàng Trong một cách tương đối độc lập với vua Lê.
Tổng cộng có 9 chúa Nguyễn cai quản xứ Đàng Trong trong hơn 2 thế kỷ. Năm 1765, Chúa Nguyễn Phúc Khoát qua đời, nhận thấy chính sự của Đàng Trong lúc này quá rối ren quanh việc chọn người lên ngôi chúa, quyền thần Trương Phúc Loan nắm lấy triều chính, mọi quyền hành đều do Trương Phúc Loan thao túng. Cùng lúc đó, trụ cột của triều Nguyễn là Lại bộ Thượng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thư Nguyễn Cư Trinh qua đời, những người có tài như Tôn Thất Dục bị Trương Phúc Loan tìm cách hãm hại, tài chính vô cùng kiệt quệ, cơ nghiệp chúa Nguyễn đến thời điểm này là suy vong không thể cứu vãn nổi. Cuối TK XVIII, nhận thấy chính sự quá rối ren, lòng dân ly tán, năm 1771, 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ khởi binh ở Tây Sơn, Bình Định với danh nghĩa ủng hộ Nguyễn Phúc Dương, và giành được chính quyền.
Năm 1802, sau khi đánh bại quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh - hậu duệ của các chúa Nguyễn đã thâu tóm giang sơn về một mối, lập nên vương triều Nguyễn, đặt niên hiệu là Gia Long, lấy Phú Xuân làm kinh đô và đổi tên thành Kinh đô Huế. Trong suốt 143 năm tồn tại, triều Nguyễn đã xây dựng Huế thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, quyền lực lớn của nước Việt Nam thống nhất từ bắc đến nam, phản ánh bước phát triển cao hơn của lãnh thổ quốc gia. Triều Nguyễn được thành lập sau khi vua Gia Long lên ngôi vào năm 1802 và chấm dứt hoàn toàn khi Hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945. Đây là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa TK XIX.
Vua Gia Long và sau đó là Minh Mạng đã cố gắng xây dựng Việt Nam trên nền tảng Nho giáo và xóa bỏ các cải cách theo hướng tiến bộ của nhà Tây Sơn. Giai đoạn này, mặc dù lòng dân chưa theo hẳn nhà Nguyễn, hàng trăm cuộc nổi dậy của người dân diễn ra, nhiều cuộc chiến tranh giành lãnh thổ cũng đã gây mất ổn định chính trị, nhất là dưới thời vua Minh Mạng. Tuy nhiên, đây được xem là giai đoạn phát triển và ổn định nhất của vương triều Nguyễn. Bộ mặt Kinh thành Huế (gồm Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm thành) được kiến thiết và xây dựng hoàn chỉnh, tạo nên một không gian kiến trúc đồ sộ, quy chuẩn nhất.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com • Giai đoạn thứ hai (1858 - 1945) được coi là giai đoạn bị Pháp xâm lăng và đô hộ, kể từ khi quân Pháp đánh Đà Nẵng và kết thúc sau khi Hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Từ thập niên 1850, dưới thời vua Tự Đức, một nhóm trí thức Việt Nam, tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ, đã nhận ra sự trì trệ của đất nước và yêu cầu học hỏi phương Tây để phát triển công nghiệp - thương mại, cải cách quân sự - ngoại giao, nhưng họ chỉ là thiểu số. Đa số quan chức nhà Nguyễn và giới sĩ phu không ý thức được sự cần thiết của việc cải cách và mở cửa đất nước nên Tự Đức không quyết tâm thực hiện những đề xuất này. Nước Việt Nam dần trở nên trì trệ, lạc hậu và đứng trước nguy cơ bị thực dân châu Âu xâm chiếm.
Tháng 8 năm 1858, hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó rút vào xâm chiếm Gia Định. Tháng 6 năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước cắt nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam Kỳ). Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ.
Đến năm 1884, triều Nguyễn chính thức công nhận quyền cai trị của Pháp trên toàn Việt Nam. Pháp có quyền cai trị, còn các vua triều Nguyễn chỉ còn là tượng trưng, quân Pháp có thể tùy ý phế lập vua Nguyễn. Giai đoạn này, bộ mặt kinh tế, văn hóa, kiến trúc Huế đã có nhiều thay đổi và có sự ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hóa, kiến trúc phương Tây. Đôi nét về khu vực Đại Nội Huế 1.
Cảnh quan khu vực Đại Nội Huế Thừa Thiên Huế nằm ở tọa độ 16014’ đến 16045’ vĩ Bắc, 107002’ đến 108011’ kinh Đông [9; tr.9], trong dải đất hẹp lưng chừng ở miền Trung Việt 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nam, với sự đa dạng của hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên. Diện tích đất tự nhiên khoảng 500.920ha, ở giữa hai đầu đất nước, nơi giao thoa các đặc thù về lãnh thổ phía bắc và phía nam, gồm đầy đủ các yếu tố tự nhiên như rừng núi, gò đồi, đầm phá, mặt biển, đất thổ cư. Vùng đất này tạo nên hình ảnh của một nước Việt Nam thu nhỏ. Chính những đặc trưng đó đã tạo cho Huế có những đặc thù về khí hậu, thời tiết mà nổi bật là sự tồn tại rất rõ rệt của hai mùa: mùa nắng và mùa mưa.
Huế là nơi có lượng mưa lớn nhất cả nước và đây là địa bàn có lưu lượng mưa cực đoan, mưa chỉ tập trung vào một mùa chính trong khoảng 3 tháng từ tháng 10 đến tháng 12 ÂL. Có thể thấy rằng, thiên nhiên đã tạo cho Huế những đặc trưng khá riêng biệt, và Đại Nội Huế cũng nằm trong cảnh quan chung đó. Khái niệm Kinh thành Huế thường được sử dụng với 3 ý nghĩa, có nội hàm tương đối khác nhau. Theo nghĩa rộng nhất, khái niệm này dùng để chỉ tổng thể kiến trúc của kinh đô Huế, bao gồm cả Kinh thành cùng toàn bộ các kiến trúc bên trong nó, tức là khái niệm Kinh thành tương đương với khái niệm Kinh đô.
Theo nghĩa hẹp hơn, Kinh thành Huế dùng để chỉ hệ thống kiến trúc được giới hạn từ vòng tường thành ngoài cùng của kinh đô Huế trở vào, tức gồm 3 lớp thành: Kinh thành, Hoàng thành hay Đại Nội, Tử Cấm thành và các kiến trúc bên trong. Còn theo nghĩa hẹp nhất, Kinh thành chỉ có nghĩa là lớp thành quách ngoài cùng mang chức năng phòng thủ của kinh đô Huế [14]. Xét về mặt phong thủy, Đại Nội Huế nằm sát bờ bắc sông Hương, trên chính nền cũ của đô thành Phú Xuân thời Tây Sơn, được mở rộng về 4 phía và vẫn trên trục “tọa Càn, hướng Tốn”, lấy núi Ngự Bình làm tiền án, 2 hòn đảo cồn Hến và cồn Dã Viên làm thế tay ngai “tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ”. Ngoài hướng chính là tây bắc - đông nam, Đại Nội còn có 1 hướng nữa - hướng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính nam - để liên kết giữa Đại Nội và đàn Nam Giao, đàn tế quan trọng nhất của vương triều, nằm cách Kỳ đài 3km về phía nam.
Sông Hương ngoài vai trò là “hoành thủy” còn là trục liên kết mềm giữa Đại Nội với các hệ thống lăng tẩm, đền miếu ở phía tây và tây nam cùng các cảng thị, chợ búa ở phía đông. Đại Nội nằm phía trong Kinh thành, có hình gần vuông, mặt nam và bắc dài 622m, mặt đông và tây dài 604m, tường thành cao hơn 4m, độ dày hơn 1m, bao bọc khu vực rộng hơn 37ha. Đại Nội có 4 cửa bố trí tại 4 mặt. Trước đây có 4 khuyết đài xây lồi ra ở chính giữa của 4 mặt, năm 1833, vua Minh Mạng triệt bỏ Nam Khuyết đài để xây cửa Ngọ Môn [6; tr.
Tử Cấm thành có hình chữ nhật, chiều dài cạnh đông và tây là 290m, chiều dài cạnh nam và bắc là 324m, tường thành cao hơn 3m, dày 0,6m, bao bọc khu vực rộng hơn 9ha [6; tr. Tử Cấm thành trước đây có 10 cửa, trong đó quan trọng nhất là Đại Cung Môn ở mặt nam. Ngoài ra, ở góc đông bắc Kinh thành còn gắn liền 1 pháo đài nhỏ là Trấn Bình đài. Đây là thành phụ của Kinh thành, có hình lục giác không đều, tựa như hình chiếc vương miện.
Ở mặt tây, Trấn Bình đài nối với Kinh thành bằng cây cầu gạch bắc qua hào, rồi có Trấn Bình môn trổ xuyên qua thân thành. Trấn Bình đài cũng được xây theo kiểu Vauban với tường bắn, pháo nhãn, phòng lộ, hào, giai thành. tạo thành một cứ điểm kiên cố để bảo vệ cho Kinh thành trên đường thủy nối ra biển. Ngay trên tường thành mặt nam của Kinh thành có 2 công trình khá độc đáo, đó là Kỳ đài và Quan Tượng đài.
- Kỳ đài: nằm chính giữa mặt nam Kinh thành, xây năm 1807, với 3 tầng bệ, cao 18,7m [6; tr.38], trên có cột cờ, trước làm bằng gỗ, sau xây bê tông. Kỳ đài là một dạng kiến trúc đặc biệt khác hẳn với kiến trúc truyền thống. Tuy 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên, về mặt ý nghĩa và phương pháp xây dựng, nó vẫn là một kiến trúc hoàn toàn theo mô thức kiến trúc Việt Nam. - Quan Tượng đài: nằm ở góc tây nam của Kinh thành, được xây năm 1827, dưới xây bệ gạch hình vuông, cao gần 6m [6; tr.45], trên có đình bát giác gọi là đình Bát Phong, cắm cờ ở cả 8 hướng.
Đây là công trình dự báo khí tượng thủy văn cổ duy nhất còn lại ở nước ta. Có thể thấy từ quy hoạch đến xây dựng, Kinh thành Huế đã vận dụng 2 dòng nghệ thuật kiến trúc phương Đông và phương Tây vào hoàn cảnh lịch sử và địa lý cụ thể tại chỗ một cách nhuần nhuyễn, khéo léo và thích hợp.