Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA LUẬN ÁN Mục tiêu của chương này sẽ trình bày khái quát về văn bản QLNN và tình hình nghiên cứu diễn ngôn văn bản QLNN Việt Nam. Mục đích giao tiếp của văn bản QLNN và những cơ sở lí luận cho toàn bộ nội dung của luận án. Dé tránh nặng nè về lý thuyết chúng tôi chỉ đề cập đến ở đây những van dé lý luận chung nhất, các van dé lý luận cụ thé ở từng chương chúng tôi sẽ đề cập sau, nếu thấy cần thiết phục vụ cho nội dung các chương đó.
Văn bản QLNN - ngữ cảnh và mục đích giao tiếp 111, Văn ban quan lí nhà nước Trong thời gian gần đây, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn bản QLNN. Trong các công trình nghiên cứu, các sách và giáo trình viết về văn bản QLNN, khái niệm về văn bản QLNN vẫn chưa hoàn toàn thống nhất. Sau đây là một số quan niệm về văn bản QLNN. Giáo trình “Kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản” và một số cuốn giáo trình khác của Học viện Hành chính khi đề cập tới văn bản quản lí nhà nước đều thống nhất: “Văn bản QLNN là những quyết định và thông tin quản lí thành văn (được văn bản hóa) do các cơ quan quản lí nhà nước ban hành theo thâm quyên, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quan lí nội bộ nhà nước hoặc giữa các cơ quan quản lí nhà nước với các tô chức va công dân” [43, tr8] Trong cuốn Soạn thảo và xử lí văn bản quản lí nhà nước, GS.
Nguyễn Văn Thâm cũng đề cập đến khái niệm này “Van bản quản lí nhà nước thé hiện ý chí, mệnh lệnh của cơ quan nha nước đối với cấp dưới. Đó là hình thức dé cụ thê hóa luật pháp, là phương tiện để điều chỉnh những quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản lí của nhà nước. Văn bản quan lí nhà nước do cơ quan nhà nước ban hành và sửa đồi theo luật định.” [95, tr26] Giáo trình “ Kỹ thuật xây dựng va ban hành van ban” của Trường Dai hoc Luật Hà Nội định nghĩa: “Văn bản QLNN là văn ban do các chủ thé QLNN ban hành theo hình thức va thủ tục pháp luật quy định dé thé hiện, nhằm áp đặt ý chí của nhà nước, truyền đạt thông tin hay ghi nhận các sự kiện cần thiết phục vụ cho hoạt động quan lí của bộ máy nhà nước.”|4I1, tr12] Như vậy, trong thực tế cách hiểu về văn ban quản lí nhà nước chưa hoàn toàn thống nhất. - Theo nghĩa rộng, Văn bản quản lý nhà nước được hiểu là văn bản do các cơ quan nhà nước ban hành, dùng dé ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lí nhà nước hoặc các thông tin cần thiết cho hoạt động quản lí nhà nước.
Theo cách hiểu này các cơ quan nhà nước ở đây bao gồm tất cả các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của tất cả các cấp đề điều chỉnh, điều hành các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Điều vừa dẫn cho thấy cần thiết phải xem xét văn bản nhà nước trên cả ba phương diện: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. - Theo nghĩa hẹp, Văn bản quản lý nhà nước được hiéu là những văn bản do các cơ quan quản lí nhà nước ban hành nhưng là những cơ quan trong hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước mà chủ yếu là của các cơ quan hành pháp ban hành. Với cách hiểu này thì những văn bản của các cơ quan như Quốc hội, các tòa án, các Viện kiểm sát không gọi là Văn bản quản lí nhà nước.
Trên đây là hai cách dùng và cách hiểu về văn bản QLNN đang song hành sử dụng hiện nay. Tuy nhiên, trong luận án này, khi nghiên cứu về chức năng ngôn ngữ văn ban QLNN, chúng tôi dùng khái niệm văn bản QLNN theo nghĩa rộng. Bởi lẽ, đối tượng chúng tôi khảo sát ở đây rộng, bao gồm văn bản của các cơ quan lập pháp (văn bản luật) và văn bản của các cơ quan hành pháp (văn bản dưới luật, áp dụng luật) mà trong mức độ nhất định là cả văn bản của cơ quan tư pháp. Các loại văn bản quản lí nhà nước 1.
Phân loại văn bản quản li nhà nước - theo quan điểm của các nhà phong cách học Trong các cuốn sách về phong cách học tiếng Việt hay phần viết về phong cách học trong các sách nghiên cứu tiếng Việt đều có đề cập đến các loại văn bản thuộc phong cách hành chính - công vụ. Nhưng có lẽ, mang tính hệ thống và đáng chú ý hơn là cách phân loại trong cuốn sách Phong cách học tiếng Việt của các tác giả Đinh Trọng Lạc - Nguyễn Thái Hòa [68, tr66-68]. Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt của tác giả Hữu Đạt [29, trl71 - 173], Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Dinh Tú [104, tr106 -108]. Dựa trên các tiêu chí chức năng van bản, cau tạo, tên loại văn bản và cơ quan ban hành hoặc theo ngành, lĩnh vực.các nhà phong cách học phân loại văn bản hành chính - công vụ như sau: Theo Cù Đình Tú, “Phong cách hành chính tiếng Việt tồn tại chủ yếu dưới dạng các văn bản viết.
Chức năng của phong cách nảy là thông báo. Nó thông báo bằng các loại giấy tờ, văn kiện nghiêm chinh”[104, tr107 - 108]. Phong cách hành chính theo ông gồm các loại văn bản như: - Hiến pháp, luật, điều lệ, nội quy - Nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị, lệnh, công văn, thông báo, báo cáo, tờ trình,. 10 - Băng khen, văn bằng, giấy chứng nhận các loai,.
- Đơn từ các loại, hợp đồng, hóa đơn. Dinh Trọng Lạc có quan điểm phân loại khác, cụ thé ông dựa trên hai cơ sở chính, một là dựa vào nội dung sự vật - logic và căn cứ trên đặc điểm về kết cấu, về tu từ. Kết quả ông chia các kiểu loại văn bản như sau: Dựa vào nội dung ý nghĩa sự vật - logic, có các kiểu văn bản như: văn thư, luật pháp, ngoại giao, quân sự, kinh tế, thương mại Dựa vào đặc điểm về kết cấu, về tu từ, có các văn bản như: - Hiến pháp. sắc lệnh, điều lệ, nghị định, thông tư, quy chế, thông báo.trong kiểu văn bản pháp quyền.
- Mệnh lệnh, báo cáo, điều lệnh, hướng dẫn.trong kiểu văn bản quân sự. - Công điện, công hàm, hiệp định, hiệp ước, nghị định thư, chứng thư nhà nước.trong kiểu văn bản ngoại giao - Thông báo, chi thị, thông tri, quyết định; đơn từ, báo cáo, biên bản; giây khen, giấy chứng nhận các loại; hợp đồng, hóa đơn, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép.trong kiểu văn bản văn thư Khác với các tác giả trên, Hữu Đạt [29, tr171-173] dựa vào những đặc điểm của phong cách hành chính - công vụ, cho rằng các văn bản thuộc phong cách hành chính - công vụ tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Ông đã đưa ra hai cách phân loại: (1) Phân loại theo lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước và ngành nghề có các dang văn bản sau: - Van bản hành chính - Van bản ngoại giao - Van ban pháp luật - chính tri - _ Văn bản dùng trong quốc phòng - _ Văn bản dùng trong thương mại - kinh tế (2) Phân loại dựa trên cau trúc của văn bản a. Nhóm văn bản có cấu trúc đơn giản gồm: - Giấy gọi, giấy báo, công văn, giấy mời.
- Cac loại đơn từ (đơn đề nghị, đơn xin việc.) - _ Điện báo, điện chúc mừng, điện tin. I1 - _ Quốc thư, giác thư, công hàm. Nhóm văn bản có cau trúc tương đối phức tạp gồm: - Sac lệnh, thông đạt, chỉ thị, quyết định, nghị định, thông tư, điều lệnh. Nhóm văn bản có cấu trúc phức tạp gồm: - Pháp lệnh, điều luật, hiến pháp, điều lệ, quy chế.
- Hiệp ước, hiệp định, thỏa ước, bị vong lục, tuyên bố chung. Theo cách phân loại của Hữu Đạt, có một số vấn đề chưa được làm rõ như: thé nào là cấu trúc đơn giản, cấu trúc tương đối phức tạp va cấu trúc phức tạp. Hầu như tác giả chưa đưa ra được tiêu chí hay cơ sở nào nhất quán dé xác định cái cau trúc đơn giản và phức tạp đó. Ngoài những cách phân loại nêu trên, các nhà phong cách học có thể còn có nhiều cách phân loại khác, nhưng trên đây là ba cách phân loại phô biến và được nhiều người chấp nhận.
Cùng với hướng nghiên cứu văn bản theo phong cách chức năng, còn có hướng tiếp cận theo kỹ thuật tạo lập văn bản và chức năng, vai trò của nó trong đời sống xã hội. Cách tiếp cận này coi ngôn ngữ là một phương tiện để thể hiện tư tưởng, kinh nghiệm và tất cả những thông tin cần truyền đạt. Họ tiếp thu kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học để sử dụng trong quá trình xây dựng văn bản. Do vậy, trong luận án này chúng tôi tiếp tục đề cập đến hướng nghiên cứu này dưới góc độ ngôn ngữ dé xác định đối tượng nghiên cứu của luận án.
Phân loại văn bản quản lí nhà nước - theo quan điểm của các nhà hành chính học Xuất phát từ kỹ thuật xây dựng, thâm quyền và hiệu lực của văn bản, tính thông tin, chức năng và vai trò của văn bản QLNN, các nhà nghiên cứu về hành chính có quan niệm và cách phân loại văn bản QLNN khác với hướng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học. Các tiêu chí phân loại văn bản QLNN Tuy theo mục dich và nội dung văn ban có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Theo giáo trình “kỹ thuật xây dựng và ban hành văn ban’’[43, tr18] có các tiêu chí phân loại văn bản như sau: 12 - Phân loại văn bản theo tác giả: các văn bản được phân biệt với nhau theo từng loại cơ quan đã xây dựng và ban hành chúng. Với tiêu chí này văn bản có thể là văn bản của Chính phủ, văn bản của Chủ tịch nước, văn bản của Bộ Giáo dục và Đảo tạo.; - Phân loại theo tên loại, tức là theo tên gọi từng loại văn bản, theo cách này văn bản có thé bao gồm Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư.; - Phân loại theo nội dung: văn bản được phân loại theo từng vấn đề được đưa ra trong trích yếu của văn bản: Văn bản về cải cách hành chính, văn bản về lao động, tiền luong.; - Phân loại theo địa điểm ban hành: Văn bản có thể là của Hà Nội, Hải Phòng, Hà Nam.