ĐẶT VẤN ĐỀ Từ ngày xa xưa, chó luôn là loài vật nuôi được ưa chuộng do chúng có đặt tính thông minh, nhanh nhẹ, chung thành với chủ nuôi, không những thế, chúng còn được sử dụng để hỗ trợ con người trong nhiều mục đích khác nhau như giữ nhà, chăn giữ gia súc, săn bắt, phục vụ an ninh quốc phòng vì thế chúng được xem như một người bạn trung thành và thân thiện với con người. Tuy vậy, người ta lại ít quan tâm đến sức khỏe của chúng, chó bị bệnh thường chuyển biến rất xấu khi được mang đến phòng khám thú y, đặc biệt là bệnh trên hệ niệu. Bệnh ở hệ tiết niệu trên chó khó phát hiện hơn ở người, vì gia súc không biết nói nên những triệu chứng lâm sàng như đau vùng thận, bàng quang, rối loạn động thái đi tiểu,…thường bị bỏ qua. Để chẩn đoán được chó bị rối loạn hệ tiết niệu thì khám lâm sàng là khâu quan trọng.
Nhưng xét nghiệm nước tiểu là một khâu có tính chất quyết định. Thông qua kết quả xét nghiệm nước tiểu không những giúp ta biết được tình trạng của hệ tiết niệu mà còn giúp cho việc đánh giá trạng thái chung của cơ thể con vật một cách nhanh chóng (Nguyễn Thế Khánh và Phạm Tử Dương, 2001). Xuất phát từ thực tế trên và được sự đồng ý của Bộ môn Thú y, Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ, tiến hành đề tài “KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ-SINH HÓA NƯỚC TIỂU TRÊN CHÓ CÓ DẤU HIỆU RỐI LOẠN HỆ NIỆU”. Mục tiêu đề tài: -Xác định tình hình chó có dấu hiệu rối loạn hệ niệu tại phòng khám thú y thuộc địa bàn TP-Cần Thơ.
-Khảo sát về những thay đổi chỉ tiêu sinh lý-sinh hóa nước tiểu trên những chó có dấu hiệu rối loạn hệ niệu. 1 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh RLHN 2. Các nghiên cứu trong nước Hồ Văn Nam (2006), trong số 8.754 cho đến khám tại Chi cục Thú y Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã ghi nhận 621 chó có biểu hiện bệnh lý trên hệ niệu chiếm 7,1%.
Tác giả nhận định rằng chẩn đoán bệnh trên hệ niệu bằng kỹ thuật X-quang đạt được hiệu quả cao (85,99%). Nguyễn Kim Y (2007), khảo sát 516 chó đến khám lần đầu tại Bệnh xá Thú y Trường Đại học Cần Thơ, tác giả ghi nhận có 32 chó rối loạn hệ niệu chiếm tỷ lệ 6,2%. Trong đó, chó có biểu hiện lâm sàng thấp nhất là chó tiểu không kiểm soát 6,2%. Trong chó biểu hiện lâm sàng thấp nhất là chó tiểu không kiểm soát 6,25% (2/32), tiểu đau và tiểu mủ 9,37% (3/32), tiểu máu và tiểu quá nhiều lần (12,5%) (4/32), bí tiểu có tỷ lệ 15,63% (5/32).
Thay đổi sinh lý-sinh hóa nước tiểu chó RLHN: tiểu đau có bilirubin, Glucose, nitrite dương tính 66,67%, tỷ trọng thấp và protein dương tính 100%; tiểu ra máu: hồng cầu, protein, glucose, nitrite, bilirubin dương tính 100%, bạch cầu và ketone dương tính 75%; tiểu nhiều glucose dương tính 100%, protein dương tính 50%, máu, bilirubin, urobilinogen, nitrite dương tính 25%; tiểu không kiểm soát có tỷ trọng thấp 100%; bí tiểu; protein, bilirubin xuất hiện 100%; tiểu mủ có tỷ trọng thấp, bạch cầu, protein và bilirubin xuất hiện 100%; biểu hiện lâm sàng khác có tỷ trọng thấp chiếm tỷ lệ 80%, bilirubin chiếm tỷ lệ 90% và protein dương tính 100%. Lê Hồng Diễu (2008), khảo sát 448 chó đến điều trị tại Bệnh xá Thú y Trường Đại học Cần Thơ, nhận thấy 40 trường hợp có RLHN chiếm tỷ lệ 8,93%. Trong đó tiểu máu chiếm tỷ lệ cao nhất 37,5% kế đến là tiểu mủ với 20%, còn lại là các dạng khác. Huỳnh Phúc Thi (2010), khảo sát trên 432 chó, tác giả ghi nhận có 34 chó RLHN chiếm tỷ lệ 7,78%.
Nhóm chó trên 5 năm tuổi có tỷ lệ rối loạn hệ niệu cao nhất 16,36% (9/55), thấp nhất là nhóm chó dưới 6 tháng tuổi 3,55% (3/141), chó đực có tỷ lệ RLHN cao hơn chó cái (8,11% so với 7,62%), sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Tần suất xuất hiện các triệu chứng lâm sàng là tiểu máu 38,24% (13/34%), bí tiểu 20,59% (7/34), tiểu không kiểm soát 17,64% (6/34), tiểu đau 14,71% (5/34), tiểu mủ 8,82% (3/34). Thay đổi sinh lý- sinh hóa nước tiểu RLHN: tiểu ra máu: hồng cầu xuất hiện 100%, protein và bạch cầu dương tính 53,38%, bilirubin 84,61%. Bí tiểu: protein và nitrite xuất 2 hiện 100%, hồng cầu và bạch cầu dương tính 14,29%.
Tiểu mủ: bạch cầu, protein và bilirubin xuất hiện 100% và hồng cầu dương tính 66,67%. Trương Nhật Trường (2012), khảo sát 450 chó đến điều trị tại Bệnh xá Thú y Trường Đại học Cần Thơ, tác giả ghi nhận có 40 chó biển hiện rối loạn hệ niệu chiếm tỷ lệ 8,89%. Tỷ lệ chó RLHN theo độ tuổi: cao nhất là từ 1-5 năm tuổi 52,5% (21/40), kế đến là nhóm chó >5 năm tuổi 25% (10/40) và thấp nhất là nhóm chó <1 năm tuổi 22,5% (9/40). Tỷ lệ bệnh ở chó cái 45% (18/40).
Chó có biểu hiện lâm sàng bí tiểu có tỷ lệ cao nhất: 25% (10/40), kế đến là tiểu ra máu 22,5% (9/40), tiểu quá nhiều và tiểu đau 17,5% (1/40); tiểu không kiểm soát 10% (4/40) và thấp nhất là tiểu mủ chiếm tỷ lệ 7,5% (3/40). Thay đổi sinh lý- sinh hóa nước tiểu chó RLHN: chó tiểu đau chiếm tỷ lệ 100% (7/7) với protein xuất hiện trong nước tiểu 100%, tiểu ra máu: hồng cầu xuất hiện 100%. Bí tiểu: protein và nitrite xuất hiện 100%, Tiểu ra máu: hồng cầu xuất hiện 75%. Tiểu quá nhiều: Glucose hiện diện 100%.
Protein 71,43%, bạch cầu 42,86%. Tiểu mủ: bạch cầu, protein và bilirubin xuất hiện 100%. Trần Ngọc Bích và ctv (2014), khảo sát 1.652 chó, tác giả ghi nhận 122 chó có bệnh lý ở hệ niệu tại Thành phố Cần Thơ, chiếm tỷ lệ 7,38%. Trong đó chó suy thận mãn tính chiếm tỷ lệ cao nhất 31,97% kế đến là suy thận cấp 28,68%; bệnh lý viêm nhiễm trùng bàng quang 22,95%; sỏi bàng quang và niệu đạo 16,39%.
Bệnh lý trên hệ niệu của chó khác biệt rất có ý nghĩa thống kê về độ tuổi (p<0,001). Tỷ lệ xuất hiện bệnh lý trên hệ niệu của chó tăng dần theo độ tuổi, thấp nhất là ở dưới 6 tháng tuổi (2,86%), nhiều nhất trên chó già, chó trên 5 năm tuổi (13,13%). Chó ngoại có tỷ lệ bệnh ở hệ niệu 8,60% cao hơn nhóm chó nội tỷ lệ là 5,57% và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Bệnh lý trên hệ niệu của chó đực chiếm tỷ lệ 7,86% cao hơn so với chó cái (6,88%).
Tác giả nhận định, bệnh hệ niệu không phụ thuộc nhiều vào giới tính. Các nghiên cứu ngoài nước Mukherjee et al (2014), đã nghiên cứu trên 289 con chó trưởng thành để kiểm tra nhiễm trùng tiết niệu tại Đại học Khoa học Động vật và Thủy sản, Kolkata, Ấn Độ và phát hiện 123 (42,5%) con chó bị bệnh đường tiết niệu. Nhiễm trùng ở chó đực ít phổ biến hơn (41,4%) so với chó cái (58,6%). Trong đó nhiễm trùng đường tiết niệu là phổ biến nhất (44,8%), sau đó là sỏi niệu (27,7%), viêm bàng quang (23,7%) và cuối cùng là viêm thận (3.
Nhiễm trùng đường tiểu trên rất ít (4,1%) so với nhiễm trùng đường tiểu dưới (95,9%). Tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu cao nhất vào các tháng mùa đông (57,7%) từ tháng 12 đến tháng 2, sau đó là mùa hè từ tháng 3 đến tháng 5 (29,3%) và mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11 (13%) không phân biệt giới tính. 3 Wong et al (2015), đã phân lập vi khuẩn từ các mẫu nước tiểu chó trong khoảng thời gian 51 tháng từ 1.028 con chó ở bệnh viện giảng dạy Dược Thú Y William Pritchard, Đại học California.028 mẫu nước tiểu chó cái (74%) và 268/1.028 mẫu nước tiểu chó đực (26%). Những giống chó có tỷ lệ nhiễm cao là Labrador Retriever là 148 con (14,4%) và chó chăn cừu Đức là 44 con (4,3%).
Cấu tạo và vai trò của hệ tiết niệu trên chó Hệ bài tiết nước tiểu của chó gồm có: hai quả thận có chức năng sinh lý chủ yếu là sản sinh nước tiểu, hai niệu quản để dẫn nước tiểu xuống bàng quang (bóng đái) và cuối cùng là niệu đạo (ống thoát tiểu). Ngoài ra còn có các động mạch, các tĩnh mạch và các dây thần kinh để chi phối hoạt động của hệ bài tiết (Nguyễn Quang Mai, 2004). Cấu tạo và chức năng của thận Thận chó tương đối lớn, trung bình 50-60 g. Hình hạt đậu, mặt ngoài trơn nhẵn, dầy theo chiều trên dưới (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007).
Hai quả thận nằm ở phía sau màng bụng và trước cột sống lưng, phía sau của thận là cơ hoành, phía trước của thận là phúc mạc (Đỗ Đình Hồ, 2010). Thận phải có vị trí không thay đổi nhiều, thường nằm dưới 3 đốt sống hông đầu tiên hay có thể xa về phía trước đến đốt sống ngực cuối cùng. Một nửa trước của thận phải nằm trên vết lõm thận của thùy bên của gan. Thận trái vị trí thay đổi nhiều vì thận dính rời rạc bằng màng bụng và bị ảnh hưởng bởi độ căng của dạ dày.
Khi dạ dày rỗng, thận trái tương ứng với thân các đốt sống hông 2, 3, 4. Khi dạ dày đầy, thận trái thường cách xa về phía sau chừng một đốt sống, nên cực trước của nó có thể đối diện với cực sau của thận phải. Cạnh ngoài của thận trái thường tiếp xúc với hông và từ đó ta có thể sờ biết rõ ràng ở thú sống khoảng giữa đường nối từ sườn cuối và góc hông xương cánh chậu. Nhưng một ít trường hợp lá lách nằm che dọc giữa thận và hông (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007).
Cấu trúc đại thể Nếu bổ dọc quả thận ta sẽ thấy các phần sau đây: ngoài cùng là màng bao thận có mỡ bám; kế đến là miền vỏ màu đỏ sẫm do có nhiều mạch máu, lấm tấm những hạt, đó là các cầu thận; phần trong là miền tủy có màu nhạt hơn, có dạng tia, là những tháp thận hay tháp Malpighi, đỉnh tháp quay vào phía trong bể thận. Mỗi thận có từ 6-12 tháp thận, đó là hệ thống các ống thận (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007). 4 Phần ở chính giữa là một xoang rỗng gọi là bể thận gồm có các mô mỡ, các mạch máu và các dây thần kinh để chi phối hoạt động của thận (Nguyễn Quang Mai, 2004). Thận được cấu tạo bởi nhiều đơn vị thận gọi là nephron.
Mỗi thận có khoảng 1 triệu nephron. Mỗi nephron đều có khả năng thành lập nước tiểu. Do đó, để hiểu rõ hoạt động thành lập nước tiểu của thận, chỉ cần khảo sát hoạt động của một nephron. Nephron được cấu tạo chủ yếu gồm hai phần: cầu thận là nơi lọc máu và ống thận là nơi dịch lọc được biến đổi thành nước tiểu (Phạm Hoàng Phiệt, 2004).