Khảo Sát Ảnh Hưởng Của Mỹ Phẩm Có Corticoid Trên Bệnh Nhân Mụn Trứng Cá Tại Thành Phố Cần Thơ

Khóa luận khảo sát ảnh hưởng của mỹ phẩm có corticoid đến bệnh nhân mụn trứng cá tại Cần Thơ, cung cấp thông tin hữu ích cho người dùng.

Trường đại học

Trường Đại Học Tây Đô

Chuyên ngành

Dược Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2017

69
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

CAM KẾT KẾT QUẢ

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. TỔNG QUAN VỀ DA

2.2. TỔNG QUAN VỀ BỆNH TRỨNG CÁ

2.2.1. Phân loại mụn trứng cá

2.2.2. Cơ chế gây mụn trứng cá

2.3. TỔNG QUAN VỀ CORTICOID

2.3.1. Tác dụng sinh lí của corticoid

2.3.2. Dược lí học của cortico-steroid (corticoid)

2.3.3. Tác dụng phụ của corticoid

2.3.4. Những tác dụng phụ cần lưu ý

2.4. SƠ LƯỢC VỀ PHƯƠNG PHÁP SẮC KÍ LỚP MỎNG

2.5. SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.5.1. Thành phố Cần Thơ

2.5.2. Bệnh viện Da liễu thành phố Cần Thơ

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.2. TIÊU CHUẨN CHỌN MẪU

3.3. TIÊU CHUẨN LOẠI TRỪ

3.4. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

3.5. PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU

3.6. PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

3.7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.7.1. Thiết kế nghiên cứu

3.7.2. Khảo sát tình hình sử dụng mỹ phẩm trên bệnh nhân trứng cá

3.7.3. Nội dung nghiên cứu

3.7.4. Phương pháp thu thập số liệu

3.7.5. Phương pháp xử lý số liệu

3.7.6. Biện pháp khắc phục sai số

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1.1. Đặc điểm bệnh nhân

4.1.1.1. Giới tính của bệnh nhân
4.1.1.2. Nhóm tuổi của bệnh nhân
4.1.1.3. Đặc điểm da mặt
4.1.1.4. Tình trạng hiện tại
4.1.1.5. Thời gian sử dụng mỹ phẩm
4.1.1.6. Tình trạng da trước khi sử dụng mỹ phẩm

4.1.2. Tình hình sử dụng mỹ phẩm

4.1.2.1. Tên mỹ phẩm nghi ngờ có corticoid do bệnh nhân cung cấp
4.1.2.2. Mục đích sử dụng mỹ phẩm
4.1.2.3. Thói quen sử dụng mỹ phẩm
4.1.2.4. Cách thức tiếp nhận mỹ phẩm của bệnh nhân

4.1.3. Tổng kết quá trình sử dụng mỹ phẩm của bệnh nhân

4.1.3.1. Vấn đề tiếp tục và ngừng sử dụng mỹ phẩm
4.1.3.2. Lý do ngừng sử dụng mỹ phẩm
4.1.3.3. Tình hình bệnh nhân khi sử dụng lại mỹ phẩm sau thời gian ngừng không sử dụng
4.1.3.4. Tình hình bệnh nhân ngừng hẳn vì mụn và dị ứng từ lúc đầu sử dụng mỹ phẩm

4.1.4. Tình hình điều trị của bệnh nhân

4.1.5. Mối tương quan giữa mỹ phẩm chứa corticoid và mức độ bệnh của bệnh nhân

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ảnh Hưởng Của Mỹ Phẩm Corticoid

Mỹ phẩm chứa corticoid đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại trong lĩnh vực chăm sóc da, đặc biệt là đối với bệnh nhân bị mụn trứng cá tại Cần Thơ. Việc sử dụng mỹ phẩm này không chỉ mang lại hiệu quả tức thì mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sức khỏe làn da. Nghiên cứu cho thấy rằng 67% bệnh nhân mụn trứng cá đang sử dụng mỹ phẩm có chứa corticoid, với tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi từ 15-25. Điều này đặt ra câu hỏi về sự hiểu biết và nhận thức của người tiêu dùng về tác dụng phụ của corticoid.

1.1. Tình Hình Sử Dụng Mỹ Phẩm Corticoid Tại Cần Thơ

Khảo sát cho thấy rằng nhiều bệnh nhân mụn trứng cá tại Cần Thơ sử dụng mỹ phẩm chứa corticoid mà không có sự chỉ dẫn của bác sĩ. Điều này dẫn đến việc gia tăng các triệu chứng mụn và các tác dụng phụ nghiêm trọng.

1.2. Tác Dụng Phụ Của Corticoid Trên Da

Corticoid có thể gây ra nhiều tác dụng phụ như teo da, rạn da, và viêm da. Những tác dụng này thường không được người dùng nhận thức đầy đủ, dẫn đến việc lạm dụng mỹ phẩm chứa corticoid.

II. Vấn Đề Sức Khỏe Liên Quan Đến Mỹ Phẩm Corticoid

Việc sử dụng mỹ phẩm chứa corticoid không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe làn da mà còn có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác. Nhiều bệnh nhân đã gặp phải tình trạng viêm da, đỏ da, và giãn mao mạch sau khi sử dụng mỹ phẩm này. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức về tác hại của corticoid trong mỹ phẩm.

2.1. Các Triệu Chứng Thường Gặp Khi Sử Dụng Corticoid

Bệnh nhân thường gặp phải các triệu chứng như mụn đỏ, viêm da, và tình trạng da nhạy cảm hơn. Những triệu chứng này có thể kéo dài và gây khó khăn trong việc điều trị.

2.2. Nguyên Nhân Dẫn Đến Việc Lạm Dụng Mỹ Phẩm

Nhiều người tiêu dùng không hiểu rõ về thành phần của mỹ phẩm và thường nghe theo lời khuyên từ bạn bè hoặc người thân. Điều này dẫn đến việc sử dụng mỹ phẩm không rõ nguồn gốc và chứa corticoid.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Corticoid

Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp mô tả cắt ngang phân tích, nhằm khảo sát tình hình sử dụng mỹ phẩm chứa corticoid và các biểu hiện lâm sàng trên bệnh nhân mụn trứng cá. Kết quả cho thấy có sự tương quan giữa việc sử dụng mỹ phẩm và tình trạng bệnh lý của bệnh nhân.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thiết kế để thu thập dữ liệu từ 100 bệnh nhân, nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của mỹ phẩm chứa corticoid đến tình trạng da của họ.

3.2. Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân, giúp xác định rõ tình trạng sử dụng mỹ phẩm và các triệu chứng lâm sàng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Mỹ Phẩm Corticoid

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng 49% bệnh nhân đã ngừng sử dụng mỹ phẩm chứa corticoid sau một thời gian, nhưng 36% trong số họ đã quay lại sử dụng do tình trạng mụn tái phát. Điều này cho thấy sự phụ thuộc vào mỹ phẩm chứa corticoid và những tác động tiêu cực đến sức khỏe làn da.

4.1. Tình Hình Sử Dụng Mỹ Phẩm Sau Nghiên Cứu

Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều bệnh nhân vẫn tiếp tục sử dụng mỹ phẩm chứa corticoid mặc dù đã trải qua các tác dụng phụ. Điều này cho thấy sự cần thiết phải giáo dục người tiêu dùng về tác hại của corticoid.

4.2. Đánh Giá Tác Động Đến Tình Trạng Da

Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng mỹ phẩm chứa corticoid có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của mụn trứng cá, dẫn đến tình trạng da xấu hơn.

V. Kết Luận Và Đề Xuất Về Mỹ Phẩm Corticoid

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng mỹ phẩm chứa corticoid có ảnh hưởng tiêu cực đến bệnh nhân mụn trứng cá tại Cần Thơ. Cần có các biện pháp giáo dục và nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng về tác hại của corticoid trong mỹ phẩm. Đồng thời, cần xây dựng quy trình kiểm tra chất lượng mỹ phẩm để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

5.1. Đề Xuất Chính Sách Giáo Dục Người Tiêu Dùng

Cần có các chương trình giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về tác hại của mỹ phẩm chứa corticoid, giúp người tiêu dùng đưa ra quyết định đúng đắn.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Cần mở rộng quy mô nghiên cứu và xây dựng quy trình định lượng corticoid trong mỹ phẩm để có cái nhìn rõ hơn về tình hình sử dụng mỹ phẩm tại Việt Nam.

16/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp khảo sát ảnh hưởng mỹ phẩm có corticoid trên những bệnh nhân bị mụn trứng cá tại thành phố cần thơ

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Trong thời đại ngày nay, mọi người đang hướng đến việc làm cho bản thân hoàn mỹ hơn, nhu cầu làm đẹp đang rất được quan tâm kéo theo đó là hàng loạt các loại mỹ phẩm ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu chung của khách hàng. Theo quan niệm từ xưa đến nay “nhất dáng, nhì da”, nên ai cũng mong mình sở hữu làn da trắng sáng và vẻ bề ngoài bắt mắt, nắm được tầm quan trọng đó nên hàng loạt các loại mỹ phẩm trị mụn, trắng da liên tục ra đời, nhưng chiếm đa số là những loại mỹ phẩm không có nguồn gốc rõ ràng. Riêng các tỉnh miền Nam ở Việt Nam thì việc sử dụng mỹ phẩm chứa corticoid hiện đang rất phổ biến, chỉ cần sau khi sử dụng và trong thời gian ngắn đã có tác dụng rõ rệt thì xem như loại mỹ phẩm đó được tin dùng và truyền tai nhau rất nhanh chóng. Các sản phẩm đó không còn xa lạ và được mọi người nói gọn lại là kem trộn, kem trộn chính là hỗn hợp nhiều loại mỹ phẩm và đặc biệt là chứa thêm thành phần được ví như thần dược làm đẹp đó chính là corticoid.

Vấn đề sử dụng mỹ phẩm có chứa corticoid phục vụ cho vấn đề làm đẹp không chỉ xảy ra ở nước ta mà còn xảy ra ở các nước trên thế giới. Việc làm đẹp là nhu cầu cần thiết của mỗi người dù là ở các nước phát triển và đang phát triển. Cụ thể theo Cunliffe W J (1999): Có gần 1/3 phụ nữ Mỹ trong độ tuổi 20-50, đặc biệt giữa tuổi 20- 30 có xuất hiện mụn mủ và có liên quan đến việc sử dụng mỹ phẩm. Cho thấy được rằng trên thế giới việc lạm dụng corticoid nhằm mục đích làm đẹp cũng thường xuyên được đề cập và nghiên cứu.

Thực tế tại Việt Nam corticoid vẫn được sử dụng trong các cơ sở y tế và phải sử dụng theo sự chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa hoặc những người có chuyên môn. Đa số những trường hợp tìm đến các cơ sở điều trị da liễu thì da mặt của bệnh nhân đã có tổn thương trong đó có những tổn thương có thể hồi phục được và có những tổn thương không còn khả năng hồi phục. Việc sử dụng tràn lan mỹ phẩm chứa corticoid chủ yếu do một phần người sử dụng hiểu biết ít về corticoid hoặc được bạn bè, người thân giới thiệu. Sau khi sử dụng thấy có tác dụng rõ rệt trong thời gian ngắn thì lại tiếp tục truyền tai cho những người khác.

Mặc khác ít người biết rằng trong vài lần đầu sử dụng mỹ phẩm chứa corticoid sẽ có công hiệu tạm thời nhưng sau đó là sự xuất hiện và hàng loạt những biểu hiện bất lợi (Theo Đỗ Đình Dịch,1983 và Thomas P. Khi sử dụng mỹ phẩm có chứa corticoid trong thời gian lâu sẽ có hiện tượng teo da, rạn da, nhiễm trùng da, Và thường gặp nhất là xuất hiện hiện tượng phát ban dạng trứng cá đỏ (Theo Bert-Jones J,2010). Do vậy chúng ta nên khảo sát tình hình thực tế trên các bệnh nhân trứng cá tại thành phố Cần Thơ qua đó tiến hành thu thập những hình ảnh về tình trạng của các 1 bệnh nhân sau khi bị ảnh hưởng của tác dụng phụ của corticoid, kế đó là thu thập những loại mỹ phẩm do bệnh nhân bị mụn trứng cá cung cấp, cuối cùng là định tính mỹ phẩm để xác định có bao nhiêu loại mỹ phẩm do bệnh nhân cung cấp có chứa corticoid bằng phương pháp sắc kí lớp mỏng. Để cảnh báo và làm tăng sự hiểu biết cho mọi người về tác dụng 2 mặt của mỹ phẩm chứa corticoid bằng hình ảnh thực tế.

Với lý do trên đề tài “Khảo sát ảnh hưởng mỹ phẩm có corticoid trên những bệnh nhân bị mụn trứng cá tại thành phố Cần Thơ” được thực hiện với mục tiêu cụ thể như sau: Khảo sát những ảnh hưởng của mỹ phẩm chứa corticoid qua những biểu hiện lâm sàng trên bệnh nhân trứng cá. 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TỔNG QUAN VỀ DA Da là cơ quan của hệ bài tiết, có nhiệm vụ bao bọc cơ thể, che chở cơ thể khỏi sự tác động, sự ảnh hưởng không có lợi của môi trường bên ngoài đối với cơ thể. Ngoài ra, chức năng chính của da còn để điều hòa, cảm nhận nhiệt độ, tổng hợp vitamin B và D.

Da là một cơ quan lớn nhất của cơ thể. Da người lớn có độ dày từ 1,5 - 4 mm; diện tích 1,5 m2 – 2 m2. Một người trưởng thành nặng 60kg thì trọng lượng của da khoảng 4 kg. Nếu tính cả hạ bì và mô mỡ trọng lượng da khoảng 15 kg.

(Phạm Văn Hiển, 2009) Da người có cấu tạo gồm ba lớp: Lớp thượng bì, lớp trung bì và lớp hạ bì.1 Cấu tạo của da (Nguyễn Như Hiền và Chu Văn Mẫn, 2002) 2.1 Lớp thượng bì (epidermis) Vùng biểu bì: chỉ dày vài milimeter. Được chia làm 4 lớp nhỏ: Lớp corneum: là nơi các tế bào hoá sừng. Lớp sừng này mất đi hóc môn và chết đi. Tác dụng của nó là bảo vệ cơ thể và ngăn thoát hơi nước.

Mặc dù có tác dụng là lớp bảo vệ bên ngoài, nhưng nó cũng chính là nguyên nhân cản trở quá trình trao đổi chất và hấp thụ chất dinh dưỡng. Chúng ta thường dùng kem tẩy để lấy đi lớp sừng này. Nói chung, một chu kì trao đổi chất của lớp sừng kéo dài 28 ngày. Nhưng càng già, quá trình trao đổi chất này càng chậm lại, vào thời gian trao đổi chất lên đến 40 ngày.

Lớp Granular: độ ẩm của da được tích tụ ở đây, có protein chặn các tia tử ngoại. Tế bào thuộc lớp này, sẽ bị hoá nước dần trong khi lớp sừng giữ nước lại làm cho da đàn hồi và sống lâu hơn. 3 Spinous: nhiều mô liên kết với bạch cầu để truyền chất dinh dưỡng. Basale: gần lớp hạ bì, là nền của lớp biểu bì, đây là lớp làm cho lớp biểu bì này chuyển động.

Chúng hút nước từ lớp hạ bì và tạo lớp sừng, và mỡ cho lớp Corneum. Quá trình này càng ngày càng tăng, làm cho việc hóa sừng ngày càng nhiều.2 Lớp trung bì Lớp trung bì: là nơi tích dinh dưỡng cho biểu bì, sự sáng và đàn hồi của da là do lớp tế bào này. Và đặc điểm nổi bật là càng nhiều collagen thì độ co giản của da càng cao. Gồm những sợi collagen, sợi elastin đan với nhau thành một mạng lưới.

Giữa những mạng lưới có những tế bào sợi, những sợi chân tóc lông, các tuyến mồ hôi, tuyến bã, mạch máu, mạch bạch huyết, sợi thần kinh. Sợi collagen và sợi elastin có nhiệm vụ giữ cho da được đàn hồi và căng. Tế bào sợi tổng hợp sợi collagen và sợi elastin. Tuyến mồ hôi: dưới da và dưới lỗ chân lông.

Tuyến tiết ra chất nhờn gọi là bì chi tuyến. Bì chi tuyến của mỗi người hoạt động khác nhau dựa vào các yếu tố di truyền ăn uống, nghỉ ngơi, khí hậu và tâm sinh lý. Hoạt động mạnh: da nhờn. Hoạt động yếu: da khô.

Hoạt động điều hòa: da thường. Hoạt động mạnh ở trán, mũi, cằm: da hỗn hợp.3 Lớp hạ bì Lớp hạ bì: cấu tạo là các lớp mỡ và axit béo, những tế bào mỡ này sẽ được hình thành, tích trữ và bị đốt nóng tạo ra năng lượng cung cấp cho hoạt động của các mô và các cơ quan khác. Lớp mỡ này có tác dụng giữ nhiệt. Khi cơ thể tương tác với thế giới bên ngoài thì nhờ nó mà nhiệt độ trong cơ thể được giữ ổn định.

Mô mỡ: Bảo vệ da khỏi những tác động cơ học, cách nhiệt, dự trữ năng lượng. Dây thần kinh: Giúp da nhận biết những kích thích từ môi trường. Mạch máu: Giúp da trao đổi chất. TỔNG QUAN VỀ BỆNH TRỨNG CÁ 2.1 Khái niệm bệnh trứng cá Bệnh trứng cá được mô tả sớm nhất trong các bài viết Hy Lạp cổ đại của Bác sĩ Byzantine Aetius Amidenus.

Từ “acne” xuất phát từ acme trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “điểm” hoặc “tại chỗ”, acme viết sai thành acne và được sử dụng đến ngày nay. Bệnh trứng cá là bệnh về da phổ biến nhất đặc biệt ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Bệnh trứng cá không thể định nghĩa là bệnh truyền nhiễm vì vi khuẩn gây mụn không 4 chỉ hiện diện trên da người bị mụn trứng cá mà còn trên da người khoẻ mạnh. Mụn trứng cá được hình thành do sự tăng tiết chất nhờn, tế bào phễu bị sừng hoá làm tắc nghẽn cổ nang lông, sự gia tăng mật độ vi khuẩn bên trong nang lông và sử dụng tế bào chết cùng với chất nhờn phát triển tạo thành nhân mụn nhỏ (microcomedone) không thể phát hiện bằng mắt thường (Plewig và Kligman, 2000).2 Phân loại mụn trứng cá Theo Phạm Hoàng Khâm (2011) bệnh trứng cá được chia thành 2 dạng là tổn thương không viêm như mụn đầu trắng (whitehead) và mụn đầu đen (blackhead) và dạng viêm bao gồm sẩn, mụn mủ, mụn bọc, mụn nang.

- Mụn đầu đen hình thành do chất bã bài tiết và tế bào chết làm tắc lỗ nang lông nhưng bề mặt da hở nên nhân mụn bị không khí oxy hoá tạo màu đen. Nhìn vào nang lông thấy màu đen nên gọi là mụn đầu đen hay mụn có cấu trúc mở. - Mụn đầu trắng hình thành khi có quá nhiều chất dầu và tế bào chết gây bít tắc lỗ nang lông và không hở ra da, nên gọi là “nhân đóng”. Theo Hayashi và cộng sự, 2008 sử dụng hình thái và số lượng tổn thương phân chia mụn thành 3 mức độ: nhẹ, trung bình và nặng.

- Mụn trứng cá nhẹ: từ 0-5 nốt viêm, thương tổn là một vài mụn đầu trắng, mụn đầu đen. - Mụn trứng cá trung bình: từ 6-20 nốt viêm, thương tổn gồm nhiều mụn đầu trắng, mụn đầu đen đồng thời có thêm sẩn, mụn mủ. - Mụn trứng cá nặng: từ 21-50 nốt viêm, thương tổn gồm nhiều mụn mủ, nang, nốt sẹo. - Cấp 2: mụn trứng cá, vài mụn mủ (pustule).

- Cấp 3: mụn mủ, nốt sần (nodules), áp xe (abscess).3 Cơ chế gây bệnh trứng cá Những yếu tố chính gây bệnh trứng cá là nội tiết tố kích thích tiết bã nhờn, sự sừng hoá (Keratin hoá) bất thường của phễu nang lông, tăng số lượng vi sinh vật trên da, và phản ứng viêm của tế bào chủ. Trong đó sự tăng tiết bã nhờn được coi là điều kiện cần, phản ứng viêm được xem là yếu tố then chốt, còn vi khuẩn P. acnes đóng vai trò quan trọng gây ra bệnh trứng cá (Loveckova el al. Ngoài ra còn các yếu tố khác như yếu tố di truyền, chế độ dinh dưỡng, môi trường làm việc, khí hậu, lạm dụng 5 mỹ phẩm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ