Đặt vấn đề Cây sơn trà Nhật Ban (Camellia japonica) là một loài thực vật thuộc Chi Tra va là loài nổi tiếng nhất của chi thường được gọi với các tên khác nhau như Trà My, hoa hồng mùa đông, sơn trà hoa, tsubaki. Hiện nay có hàng ngàn giống C. japonica được trồng, với nhiều màu sắc và hình đáng khác nhau. Trong tự nhiên cây sơn trà được tìm thấy ở Đông Á, bao gồm dãy Himalaya, Nhật Bản, Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á (Durrant, 1982).
Trước khi được biết đến như một loại cây dược liệu có khả năng điều trị bỏng, điều trị viêm da, chống oxy hóa, kháng khuẩn, chống ung thư và kháng nam thì Camellia japonica nội tiéng là loài hoa kiêng được ưa chuộng và có giá trị cao. Với đặc điểm là có hoa to, cánh hoa nhiều, dày xếp chồng lên nhau, màu sắc đa dạng rực rỡ trải dài từ trắng, vàng, hồng và đỏ sơn trà nhanh chóng trở thành loại cây trang trí phổ biến được mọi người yêu thích. Hoa sơn trà đại diện cho vẻ đẹp của con người, biểu tượng tôn giáo, lòng trung thành hoặc lời khen điều này giúp sơn trà được trồng ở nhiều nơi như làm cây trồng trong nhà, làm vườn và làm cảnh từ đó đã củng có giá trị kinh tế của cây ở nhiều nước châu Au, Mỹ, Nhật Bản và Úc. Đặc biệt là một loài cây thuộc ho Camellia, C.
japonica còn có thé được sử dụng để làm trà hoặc sản xuất tỉnh dầu, lá đã qua xử lý của nó có mùi thơm, chứa caffeine và catechin cùng loại với C. Son trà là một loài cây thân gỗ phat triển trong các khu rừng, ở độ cao khoảng 300 - 1100 mét, được trồng trong bóng ram với đất hữu cơ, hơi chua, nửa 4m nhưng thoát nước tốt. Tính tới thời điểm hiện tại ở nước ta, về kinh tế sơn trà là một loài cây mang lại lợi nhuận cao nhưng chủ yếu được nhân giống bằng phương pháp ghép va giâm cành nên gặp nhiều khó khăn, khá tốn công sức, thời gian và hiệu quả thành công không cao, hệ số nhân giống thấp, từ đó ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng hoa. Hiện nay, nhân giống in vitro là phương pháp có lợi thế về hệ số nhân và chat lượng giống, khắc phục được nhiều nhược điểm của phương pháp nhân giống hữu tính và vô tính khác như nhân nhanh giống, không phụ thuộc vào mùa vụ, nuôi cấy in vitro các mô phân sinh rất nhỏ hoặc đỉnh sinh trưởng sẽ loại bỏ một số dòng vi rút hiện có và trong một tương lai không xa có thé cải tiến các dong vô tính hiện có dé tạo ra các loại 1 hoa trà mới.
Việc cải thiện chất lượng cây trồng có thê sẽ làm tăng thêm sự phô biến của hoa trà và khả năng sản xuất quanh năm sẽ đễ dàng hơn cho người trồng đề đáp ứng với bat kỳ sự gia tăng nhu cau nao (Vieitez và ctv, 1992). Xuất phát từ những nhu cầu thực tế trên, đề tài: “Khảo sát sự ảnh hưởng của chất điêu hoa sinh trưởng trong nhân giông in vitro cây sơn trà Nhật Bản (Camellia Japonica)” được thực hiện. Mục tiêu của đề tài Xác định nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng thích hợp dé tạo được cây sơn tra in vitro với tiêu chí khỏe mạnh phát triển tốt, hệ số nhân chỗi cao và có thé áp dụng quy trình trong sản xuất quy mô công nghiệp. Nội dung thực hiện Thí nghiệm 1: Khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian khử trùng đến quá trình vô mẫu sơn trà trong điều kiện in vitro.
Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ chất điều hòa sinh trưởng BA đến quá trình tạo chỗồi cây sơn tra in vitro. Thí nghiệm 3: Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ chất điều hòa sinh trưởng NAA đến quá trình tạo rễ cây sơn tra in vitro. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tống quan về cây sơn trà Nhật Bản 2.
Phan loại Giới: Plantea (thực vật) Bộ: Ericales (bộ Thạch nam) Họ: Theaceae (họ Chè) Chi: Camellia Loài: Camellia japonica 2. Nguồn gốc Người ta cho rằng khoảng 90% Camellia có nguồn gốc ở Nam và Đông Nam Trung Quốc tuy nhiên Camellia japonica có nguồn gốc ở miền Nam Nhật Bản (Mondal, 2011), nơi cây được gọi là “bông hồng của mùa đông” và là một biểu tượng quốc gia. Là một loại cây thân gỗ thường xanh hoặc cây bụi trong họ Theaceae, thường cao 1,5 - 6 m đôi khi cao tới 11 m, những bông hoa nay trông giống như những bông hoa hồng, có thể nở thành nụ hoa đơn hoặc kép. Từ hoa trà có nguồn gốc từ Georg Josef Kamel một nhà truyền giáo và nhà tự nhiên học, người đã giới thiệu hệ thực vật Philippines đến châu Au, tên tiếng Latinh của Kamel là Camellus.
Camellia japonica đến Châu Âu từ thé ky XVII, công ty Đông An đã giới thiệu C. japonica sang Anh do nhằm lẫn vì cho loài cây này là một giống chè. Bat chấp sai lầm này, hoa trà nhanh chóng được đánh giá cao vì vẻ đẹp của chúng. Hiện nay sơn trà đang phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới.
japonica xuất hiện tự nhiên trong các khu rừng ở độ cao 300 - 1100 m ở Sơn Đông, đông Chiết Giang ở Trung Quốc dai lục và ở Dai Loan, nam Hàn Quốc. Lá nhẫn, cuống lá dai khoảng 1 cm. Các lá bắc va lá đài đều có lông tơ mịn như nhung. Mau sắc của hoa từ đỏ qua hồng đến hồng nhạt, cây ra hoa giữa tháng 1 và tháng 3, có quả vào giữa tháng 9 và tháng 10.
Ở Nhật Bản, nó được biết đến với cái tên chung là "yuki- tsubaki" (hoa trà tuyết) vì nó xuất hiện tự nhiên ở những vùng có tuyết rơi day ở độ cao từ 1100 m xuống đến 120 m trên vùng đất đốc ở các vùng núi ở phía bắc của đảo Honshu và hướng ra biển Nhật Bản. Những bụi cây bị tuyết bao phủ từ tháng 12 đến cuối tháng 3 khi tuyết tan vào đầu mùa Xuân và hoa trà bắt đầu ra hoa. Cho đến nay, các nhà di truyền học và những người làm vườn đã biến đổi nhiều nhị hoa thành cánh hoa, do đó nhiều giống hoa có màu sắc khác nhau và màu sắc của chúng bao gồm đỏ, hồng, trắng. Ngoài ra, có loài màu vàng được tìm thấy ở Việt Nam và Trung Quốc.
Ở Việt Nam hoa trà được trồng chủ yếu ở Đà Lạt và Hà Nội. Hoa rất dep, không ngại gió lạnh hay mưa bão nên giá trị của cây rất cao. Hoa thường nở vào tháng 11 kéo dài đến hết tháng 4 năm sau với nhiều màu sắc, hoa có mùi thơm nhẹ nên rất được người Việt Nam ưa chuộng va lựa chọn để trồng ở trong nha của nhiều gia đình mỗi địp lễ, Tết. Đặc điểm hình thái Thân: là loài thân gỗ nhỏ, thân màu xanh, về già chuyển màu nâu, dọc thân cây là các vết nứt lớn.
Cây chia làm nhiều cành nhánh, phát triển thành bụi. Lá: lá sơn trà là lá đơn, mọc so le. Kích thước lá khá to và dày, có thể đài tới 15 cm, có màu xanh đậm ở mặt trên, nhạt màu hơn ở mặt dưới, trơn bóng, gốc lá và đầu lá nhọn, viền lá có răng cưa. Hoa: những bông hoa xuất hiện đọc theo cành đặc biệt là ở phía cuối, chúng xuất hiện đơn lẻ hoặc theo cặp và có đường kính từ 6 - 10 em.
Mỗi bông hoa gồm nhiều cánh hoa (7 - 20 cánh) xếp chồng xoắn, nhiều lớp toả tròn vô cùng đẹp mắt. Tuỳ mỗi loài mà hoa có màu sắc khác nhau như đỏ, hồng, vàng, trắng. Tùy thuộc vào giống, ra hoa có thé bat đầu sớm nhất vào tháng 10 và kết thúc vào cuối tháng 3. Hoa trên mỗi cây thường sẽ kéo dài từ ba đến bốn tuần.
Qua: sau khi hoa tan, sơn trà hoa cho ra quả loại qua nang khô được chia thành 1 - 5 ngăn, mỗi ngăn chứa 1 - 8 hạt. Hạt: màu nâu với đường kính 1 - 2 em (https://plant. Điều kiện sinh thái Ánh sáng: là nhân tố quan trọng với sự sinh trưởng và ra hoa, sơn trà ưa bóng ram hoặc ánh sáng bán phần. Chúng có thể chống chọi với ánh nắng trực tiếp nhưng thường cần được bảo vệ khỏi ánh nắng gay gat, trực tiếp vào budi chiều.
Quá nắng, lạnh hoặc bóng râm có thể làm giảm sự ra hoa. Nhiệt độ: khí hậu 4m và 4m, trước mùa hoa chỉ cần nhiệt độ trên 5°C là có thé nở. Thời gian ra hoa nhiệt độ 10°C là hoa nở. Cây sơn tra chịu được rét.
Mùa đông, cây sơn trà sinh trưởng tốt, không thích ứng ở nhiệt độ trên 20°C, trong điều kiện trên hoa lá dé bi rụng, sinh trưởng giảm. Độ am: cây ưa âm, hoa cần độ âm phù hợp dé tạo ra những bông hoa khỏe mạnh. Sử dụng lớp phủ gốc (mùn hữu cơ) có thể giúp giữ âm. Không bao giờ đề đất trong chậu hoa trà khô.
Luôn phun tưới nước dé cung cấp đủ nước và độ âm cho cây trà. Mùa xuân và thu, trừ mùa mưa, hàng ngày phải tưới 1 lần nước, nhất là mùa hè. Nước tưới trà phải là nước không có hóa chất, nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt. Tính chất đất đai: loại cây bụi này kén chọn điều kiện đất đai.
Đất thoát nước tốt, giàu dinh dưỡng, am và hơi chua là tốt nhất. Nếu nhận thay lá trên cây bụi chuyển sang màu vàng, đó có thé là dau hiệu cho thay đất hơi chua. Độ pH từ 6 đến 6,5 là lý tưởng. Mặc dù chúng ưa âm nhưng nên tránh những loại đất ẩm ướt.
Dinh dưỡng: khả năng hấp thụ dinh dưỡng khoáng phụ thuộc vào nguồn gốc cây trồng và ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hoa. Vì vậy việc cung cấp dinh đưỡng cho cây phù hợp là cần thiết để đạt sản lượng tốt nhất. Đề có được nhiều bông hoa trà nở hoa khỏe mạnh thì bón một lượng cao phan Kali hàng tháng vào mùa hè. Vào mùa xuân, có thé sử dụng phân bón giàu Nito vì điều này sẽ thúc đây những tán lá sam màu và khỏe mạnh.
Có thé tìm thấy các loại phân bón dành riêng cho hoa trà ở một số trung tâm vườn ươm (Johnstone, 2022). Giá trị của hoa sơn trà Camellia japonica là một loài cây lâu năm thường xanh với hon 32.000 giống cây trồng đã đăng ký (Savige, 1993) có giá trị làm cảnh lớn chủ yếu là do chúng đẹp. Kha năng trồng C. japonica làm cây trồng trong nhà và làm vườn, làm cảnh đã nâng cao giá trị kinh tế của nó như một loại cây cảnh ở nhiều nước châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Uc (Vela va ctv, 2013).