Đặt vấn đề Nhu cầu sử dụng gỗ hiện nay của các sản phẩm được chế biến từ gỗ ngày càng tăng trong khi đó sản lượng gỗ lấy từ rừng tự nhiên còn rất ít. Trong khi đó gỗ vẫn là nguồn nguyên liệu không thể thiếu được đối với nhu cầu sử dụng gỗ cho công nghiệp và trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy công tác tìm hiểu chọn lọc nghiên cứu, lai tạo giống mới có năng suất và chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của thị trường là rất cần thiết. Trong những năm trở lại đây, những loài cây mọc nhanh như cây Keo và Bạch đàn đã được lựa chọn nhiều nhất.000 ha đã trồng thành rừng Keo ở Việt Nam.
Trong số đó, Keo tai tượng A. mangium, Keo lai giữa Keo tai tượng A. mangium và Keo lá tràm A. auriculiformis là phổ biến nhất bởi tốc độ sinh trưởng nhanh.
Tính phổ biến của Keo lai ở Việt Nam được khẳng định bởi sự lan rộng nhanh ở các rừng trồng trên phạm vi cả nước. Ước tính có khoảng 150.000 ha Keo lai đã được trồng. Gỗ của các loài cây Keo này không những là rất thích hợp với nguyên liệu giấy mà còn tăng đối với nhu cầu sử dụng sử dụng cho công nghiệp làm đồ gỗ gia dụng. Cây Keo đã có mặt tại nước ta từ rất lâu và một số giống Keo đã được trồng trên quy mô lớn đối với trồng rừng sản xuất ở nước ta.
Cây Keo đã chứng tỏ có nhiều ưu thế bảo vệ đất hơn Bạch đàn. Song quá trình phát triển ở các tỉnh miền núi phía Bắc có mùa đông lạnh và đặc biệt đối với các vùng núi cao, cây Keo bộc lộ nhược điểm về khả năng chịu lạnh không cao. Chính vì vậy, công tác nghiên cứu khảo nghiệm để tìm ra các giống Keo có nguồn gốc xuất xứ khác nhau thích nghi tốt với các điều kiện tự nhiên đặc biệt là khả năng chịu lạnh, đồng thời cho năng suất chất lượng gỗ cao là n 2 rất cần thiết. Xuất phát từ lí do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo nghiệm một số giống Keo tai tượng có khả năng chịu lạnh trong giai đoạn vườn ươm tại Viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục đích nghiên cứu - Khảo nghiệm được sự sinh trưởng về chiều cao vút ngọn, đường kính gốc và tính thích nghi về khả năng kháng chịu sâu bệnh, khả năng chịu lạnh, tỷ lệ sống, tính thích nghi của một số giống Keo tai tượng khác nhau. - Phục vụ cho công tác trồng rừng hiện nay ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng và khu vực miền núi phía Bắc nói chung. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được tình hình sinh trưởng của các giống Keo tai tượng về chiều cao vút ngọn, đường kính gốc. - Đánh giá được khả năng thích ứng với điều kiện môi trường và mức độ sâu bệnh của các giống Keo tai tượng.
- Đánh giá được chất lượng của các giống keo tai tượng. - Đưa ra khuyến cáo về việc lựa chọn một số giống có khả năng chịu lạnh tốt phục vụ cho công tác trồng rừng hiện nay. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài giúp sinh viên làm quen được với công việc nghiên cứu khoa học và củng cố được kiến thức đã học, có cơ hội kiểm chứng những kiến thức đã học trong nhà trường theo phương châm học đi đôi với hành.
- Qua quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên tích lũy thêm được nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong việc trồng, chăm sóc và đánh giá sinh n 3 trưởng, phát triển của cây. Đây sẽ là kiến thức cần thiết cho quá trình nghiên cứu, học tập và làm việc sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu góp phần lựa chọn được các giống Keo có sinh trưởng tốt thích nghi với điều kiện môi trường lạnh làm cơ sở đưa ra khuyến cáo về việc lựa chọn một số giống phục vụ cho công tác trồng rừng hiện nay. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng đặc biệt là rừng sản xuất. không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng trồng lên cao. Nghiên cứu của Davidson (1996) cho một số loài cây mọc nhanh ở vùng nhiệt đới đã thấy rằng năm đầu sau trồng cải thiện giống chỉ đóng 15% của năng suất thì đến năm thứ 3 là 50% và năm thứ 6 là 60%.
Vì thế nghiên cứu chọn tạo giống là một khâu không thể thiếu trong sản xuất lâm nghiệp. Trong việc thực hiện dự án trồng rừng, công tác giống có vai trò hết sức quan trọng. Dù trồng rừng sản xuất hay trồng rừng phòng hộ thì dùng giống có chất lượng di truyền được cải thiện mới mau đem lại hiệu quả. Chọn loài cây cho trồng rừng phải căn cứ vào mục tiêu kinh tế hoặc phòng hộ được đặt ra, có thị trường tiêu thụ mau đạt hiệu quả và phù hợp điều kiện lập địa ở nơi gây trồng.
Công tác giống bao gồm nhiều bước khác nhau trong đó có 4 khâu quan trọng nhất là chọn lọc giống, lai giống, khảo nghiệm giống và nhân giống. Trong đó khảo nghiệm giống là biện pháp không thể thiếu được nhằm đánh giá giá trị của giống được chọn tảo cả về năng suất, tính thích ứng sinh thái lẫn khả năng chống sâu bệnh. Khảo nghiệm giống có thể thực hiện ở các mức độ khác nhau: từ khảo nghiệm loài, khảo nghiệm xuất xứ, đến khảo nghiệm hậu thế ở các cây trội và khảo nghiệm dòng vô tính, cũng như khảo nghiệm các giống lai mới được lai tạo. Khảo nghiệm giống không chỉ xác định di truyền và giá trị kinh tế của giống mà còn xác định vùng trồng thích hợp cho một giống mới được nhập hoặc lai tạo mới.
n 5 Để tăng năng suất rừng trồng bên cạnh việc sử dụng các giống có chất lượng di truyền được cải thiện thì phải áp dụng các biện pháp thâm canh khác và phải quan tâm đầy đủ tới công tác bảo vệ rừng. Kết hợp sử dụng giống có chất lượng di truyền được cải thiện với việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật lâm sinh thích đáng là những biện pháp tổng hợp để tăng năng suất rừng nước ta. Nhận thức được vai trò của công tác giống, trong những năm gần đây Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về quản lí giống cây trồng như Pháp lệnh giống cây trồng, Nghị định bảo hộ giống cây trồng và một số Nghị định và Nghị quyết khác của chính phủ về công tác giống và bảo tồn nguồn gen cây rừng làm cơ sở cho cho cải thiện giống cây rừng ở nước ta phát triển. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu và khu vực đã làm cho môi trường sống bị ô nhiễm, rừng bị suy giảm về diện tích và chất lượng, đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sức khỏe con người.
Đứng trước tình hình đó các nhà khoa học về lĩnh vực nông lâm nghiệp đặc biệt là sự đóng góp của các nhà khoa học lâm nghiệp dã và đang nỗ lực để tìm ra những phương pháp chọn tạo các giống cây trồng góp phần nâng cao năng suất và chất lượng để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của người trồng rừng và công tác phục hồi rừng. Từ lúc con người biết chăn nuôi và trồng trọt, họ đã biết lựa chọn những cây giống cho năng suất cao và phẩm chất tốt để canh tác. Cũng từ đó phương pháp đánh giá, chọn lọc giống cây trồng ra đời. Khảo nghiệm loài và xuất xứ đầu tiên trong lâm nghiệp được Vilmorin tiến hành cho Thông châu Âu (Pinus silvestris) tại Les Barres gần Paris của Pháp vào năm 1821.
Sau đó là khảo nghiệm xuất xứ cho thông rụng lá châu Âu (Larix deciua) do Cieslar tiến hành tại Vienerwald ở áo vào năm 1887 (Magini, 1974) [12]. Trong các năm 1908 và 1938 Hiệp hội các tổ chức n 6 nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (IUFRO) đã tổ chức khảo nghiệm xuất xứ cho 13 lô hạt của Thông têda (Pinus taeda) được thu nhập từ 11 nơi của các nước khác nhau (Tewari, 1994) [13]. Năm 1926, một khảo nghiệm quốc tế do 17 xuất xứ Vân sam (Picea abies) được thu nhập từ Pháp, Italia và Áo đã được xây dựng ở Pháp và Italia (Magini, 1974)[12]. Trong các năm 1929 - 1936 nhà di truyền chọn giống cây rừng Thụy Điển là Langlet đã có một khảo nghiệm đồ sộ cho Pinus silvestris bằng cách thu hái hạt từ 582 quần thụ thuộc các vùng khác nhau trong cả nước để gây trồng ở một số vùng sinh thái chính (Tewari, 1994) [13].
Tại Indonesia từ năm 1932 đã có khảo nghiệm xuất xứ cho Tếch (Tectona grandis). Các xuất xứ Tếch từ Lào, Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ và Indonesia đã được thu thập và xây dựng khảo nghiệm so sánh tại Indonesia (Coster và Eidmann, 1934). Cuối những năm 1950 hàng loạt khảo nghiệm loài và xuất xứ cho những loài cây trồng rừng quan trọng nhất đã được xây dựng ở nhiều nước trên thế giới, trong đó phải kể đến các khảo nghiệm xuất xứ cho Thông Caribê (Pinus Caribaea) đã được xây dựng ở Fiji vào năm 1955. Đến năm 1968 đã thấy rằng trong các thứ (Varieti) được khảo nghiệm thì tốt nhất là các xuất xứ của Pinus caribaea var.
Hondurenssis, tiếp đến là Pinus caribaea var. bahamensis và cuối cùng là Pinus caribaea var. Các khảo nghiệm sau này ở nhiều nước khác cũng đi đến kết luận tương tự. Khảo nghiệm xuất xứ cho Thông ba lá (Pinus kesiya), Thông nhựa (Pinus merkusii) và một số loài thông nhiệt đới khác cũng được xây dựng vào thời kỳ này.
Vào những năm 1970 một loạt các khảo nghiệm xuất xứ cho một số loài cây lá rộng cũng được xây dựng ở nhiều nước nhiệt đới. Đó là Tếch (Tectona grandis), Lõi thọ (Gmelina arborea), các loài Bạch đàn Eucalyptus camaldulensis, Eucalyptus tereticornis, Eucalyptus tereticornis, Eucalyptus urophylla, Eucalyptus cloeziana và nhiều loài Bạch đàn khác. n 7 Trong những năm 1980 - 1990 khảo nghiệm xuất xứ được tập trung cho các loài keo nhiệt đới như Keo tai tượng (Acasia mangium), Keo lá tràm (Acasia auriculiformis), Keo lá liềm (Acasia crassicarpa), v.v… Đến nay, về cơ bản các nhà chọn giống cây rừng đã biết được các xuất xứ tốt nhất trong một số loài Bạch đàn và một số loài Keo chủ yếu. Những xuất xứ này có thể cho năng suất gấp 2 - 4 lần những xuất xứ kém nhất được đưa vào khảo nghiệm.