Chương 1: Tổng quan đạo đức Công giáo và sách Phúc Âm Chương 2: Quan niệm đạo đức cơ bản trong Phúc Âm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN ĐẠO ĐỨC CÔNG GIÁO VÀ SÁCH PHÚC ÂM 1. Đạo đức Công giáo 1. Đạo đức và đạo đức tôn giáo Thuật ngữ Đạo đức bắt nguồn từ tiếng La Tinh là Mos (moris) – lề thói. Còn trong tiếng Hy Lạp cổ đại, thuật ngữ đạo đức được xem như đồng nghĩa với khái niệm luân lý, có xuất xứ từ chữ gốc là Ethicos – lề thói, phong tục, tập quán.
Khi nói đến đạo đức là nói đến những lề thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm: Moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại xuất hiện sớm, được biểu hiện trong quan niệm về Đạo và Đức của họ. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, là đường sống của con người trong xã hội. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý.
Trong quan niệm của người Trung Hoa cổ đại, đạo đức chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo. Chung nhất, có thể hiểu đạo đức hay luân lý là một trong những hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý (đạo lý), quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng (gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hay toàn bộ xã hội). Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ và danh dự. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đạo đức luôn là một quan hệ hai chiều, là một phương thức, một thể chế đặc thù của xã hội nhằm điều chỉnh các hành vi của con người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người như phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức… Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người dựa theo khuôn phép, chuẩn mực và quy tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm, những giá trị như thiện, ác, vinh, nhục, chính nghĩa, phi nghĩa… Những chuẩn mực, giá trị, quy tắc đạo đức là yêu cầu của cả xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân. Đạo đức là phương thức thiết lập mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân. Sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự tự do lựa chọn của con người. Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định hoặc phủ định một lợi ích chính đáng hoặc không chính đáng nào đó.
Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp thành hệ thống giá trị xã hội. Sự hình thành, phát triển và hoàn thiện của hệ thống giá trị đạo đức không tách rời sự phát triển, hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức. Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ thì hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo. Ngược lại, hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động và phản nhân đạo.
Và vì vậy, việc nghiên cứu hệ thống giá trị đạo đức của mỗi cộng đồng, trong đó có các cộng đồng tôn giáo, làm cho nó phù hợp với sự phát triển, hoàn thiện của cả xã hội là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình phát triển của cộng đồng đó. Để đảm bảo cho sự trao truyền, giáo hoá đạo đức diễn ra liên tục trong đời sống cộng đồng, cần phải có những phương thức và hệ thống thiết chế nhất định. Các thiết chế xã hội đó sẽ làm cho các giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu đạo đức được vận thông trong đời sống xã hội từ cộng đồng đến cá nhân, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ người này sang người khác, từ thời đại này qua thời đại khác… Hệ thống thiết chế đó bao gồm thiết chế gia đình, nhà trường, nhà nước, đoàn thể chính trị – xã hội, tôn giáo… Chúng được hình thành trên cơ sở quan hệ giữa các thành viên trong nhóm và các giá trị, chuẩn mực đạo đức mà nhóm đó cùng chia sẻ, cùng hướng tới. Mỗi tôn giáo, với hệ thống chuẩn mực, giá trị đạo đức của mình đã, đang và sẽ có những ảnh hưởng, đóng góp không nhỏ đến hoạt động giáo dục đạo đức cũng như sự phát triển của đạo đức trong đời sống xã hội.
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử – xã hội ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay, và sẽ còn tồn tại cùng với loài người trong một thời gian khó mà đoán định trước được. Tôn giáo chứa đựng nội dung phong phú về lịch sử, tư tưởng, triết học, đạo đức, văn hóa, chính trị… Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo cũng như đạo đức tôn giáo có ảnh hướng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của nhiều quốc gia, dân tộc. Khi tìm hiểu về đạo đức tôn giáo, chúng ta thấy có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm thừa nhận đạo đức tôn giáo nhưng nó không chứa đựng những yếu tố tích cực, tiến bộ, mà hoàn toàn đối lập với đạo đức trần thế, không thể áp dụng vào đời sống hiện thực.
Quan điểm khác lại cho rằng, tôn giáo không có đạo đức riêng, đạo đức tôn giáo chỉ là sự vay mượn đạo đức chung của nhân loại và mỗi tôn giáo có thể nhấn mạnh điểm này hay điểm khác. Theo chúng tôi, để khẳng định có hay không có đạo đức tôn giáo cũng như vai trò của đạo đức tôn giáo trong đời sống xã hội thì cần quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa sự phân tích tôn giáo về mặt triết học và sự phân tích về mặt xã hội học. Trước tiên, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo thường được xem xét từ góc độ nhận thức luận. Góc độ tiếp cận này cho phép làm rõ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế giới bên ngoài đã được phản ánh một cách đặc biệt trong ý thức tôn giáo như thế nào.
Khi chỉ ra nguyên lý về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời cũng chỉ ra rằng, bản thân đời sống ý thức xã hội cũng có tính độc lập tương đối của nó. Trong quá trình phát triển, các hình thái ý thức xã hội có sự tác động qua lại, kế thừa và ảnh hưởng lẫn nhau. Điều đó có nghĩa là, ý thức tôn giáo không bao giờ tồn tại một cách biệt lập với các hình thái ý thức khác, như đạo đức, thẩm mỹ, chính trị, pháp luật. Giữa chúng có sự liên hệ, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau, tạo ra sự phong phú của mỗi hình thái ý thức xã hội.
Trong ý thức tôn giáo, mà chủ yếu là trong hệ tư tưởng tôn giáo, không thể không có những yếu tố của tư tưởng đạo đức, triết học, thẩm mỹ, văn hóa. Tôn giáo không thể tồn tại và phát triển qua hàng ngàn năm trong lịch sử của các dân tộc khác nhau trên thế giới, nếu như bản chất của nó chỉ bao gồm những sai lầm, ảo tưởng và tiêu cực. Chính vì có sự kết hợp của ý thức tôn giáo với các hình thái ý thức khác, nhất là với đời sống văn hóa tinh thần của mỗi dân tộc mà tôn giáo đã có thêm sức sống lâu bền của mình. Như vậy, có thể nói, trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội, giữa hình thái ý thức tôn giáo và hình thái ý thức đạo đức luôn có quan hệ tương tác, đan xen và thâm nhập lẫn nhau.
Với tư cách những thành tố tạo nên kiến trúc thượng tầng của xã hội, tôn giáo và đạo đức phản ánh tồn tại xã hội theo các cách khác nhau. Tôn giáo phản ánh một cách hư ảo hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người. Còn đạo đức phản ánh các mối quan hệ hiện thực của con người với nhau và với xã hội. Khi xem xét tôn giáo như một hình thái ý thức xã hội độc lập với các hình thái ý thức khác, chúng ta thấy nó chứa đựng nội dung đạo đức (bao gồm giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu, lý tưởng đạo đức.) thể hiện trong giáo lý tôn 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Bất cứ tôn giáo nào cũng có một hệ thống chuẩn mực và giá trị đạo đức nhằm điều chỉnh ý thức và hành vi đạo đức của các tín đồ. Đa số các tôn giáo đều đưa ra những giá trị tối cao mà mọi giá trị khác phải lấy đó làm chuẩn, đó là Thượng đế, Chúa trời, hay Thần thánh. Thực tế cho thấy, quan niệm đạo đức của hầu hết mọi tôn giáo, ngoài những giá trị đặc thù bảo vệ niềm tin tôn giáo thiêng liêng, còn đề cập đến những chuẩn mực đạo đức mang tính nhân loại, như khuyên răn con người phải hiếu thảo với cha mẹ, trung thực, sống có trách nhiệm, nhân ái, làm điều lành, tránh điều dữ. Người theo tôn giáo không phải sống thế nào cũng được, mà phải sống theo những khuôn phép đạo đức hợp với tín điều của tôn giáo mình, hành động không phải chỉ là thực hành một số hình thức nghi lễ, mà còn phải sống theo những quy tắc đạo đức nhất định.
Những chuẩn mực này đều là những nguyên tắc ứng xử phù hợp giữa người với người, rất có ích cho việc duy trì đạo đức xã hội. Các tôn giáo đã đề cập trực tiếp đến những vấn đề đạo đức cụ thể của cuộc sống thế tục và những quan niệm đó thường mang giá trị nhân văn. Trên thực tế, những giá trị, chuẩn mực đạo đức của các tôn giáo có ý nghĩa nhất định trong việc duy trì đạo đức xã hội.