Giáo Trình Văn Học Việt Nam Giai Đoạn 1945 - 1975

Khám phá giáo trình văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975, tìm hiểu những tác phẩm và tác giả tiêu biểu trong thời kỳ lịch sử quan trọng này.

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2015

197
59
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. Chương 1: Khái quát văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

1.1. Các chặng đường phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

1.2. Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

1.3. Câu hỏi thảo luận và ôn tập

2. Chương 2: Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

2.1. Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954

2.2. Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1955 – 1964

2.3. Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1965 – 1975

2.4. Tác giả tiêu biểu 1. Chế Lan Viên

2.5. Câu hỏi thảo luận và ôn tập

3. Chương 3: Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

3.1. Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954

3.2. Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1954 – 1964

3.3. Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1965 – 1975

3.4. Tác giả tiêu biểu 1

3.5. Câu hỏi thảo luận và ôn tập

Tài liệu tham khảo

Trích đoạn nội dung tài liệu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA NGỮ VĂN PHẠM NGỌC HIỀN (chủ biên) NGUYỄN VĂN ĐÔNG – LÊ THỊ KIM ÚT GIÁO TRÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 BÌNH DƯƠNG, NĂM 2015 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA NGỮ VĂN PHẠM NGỌC HIỀN (chủ biên) NGUYỄN VĂN ĐÔNG – LÊ THỊ KIM ÚT GIÁO TRÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 BÌNH DƯƠNG, NĂM 2015 1 MỤC LỤC Chương 1: Khái quát văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975…………………. Các chặng đường phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975. Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975……….19 Câu hỏi thảo luận và ôn tập …………………………………………………………32 Chương 2: Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975………………………………. Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954……………………………………….

Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1955 – 1964………………………………………. Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1965 – 1975…………………………………….75 Tác giả tiêu biểu 1. Chế Lan Viê n…………………………………………………………………….116 Câu hỏi thảo luận và ôn tập …………………………………………………….141 Chương 3: Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975…………………………. Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954…………………………………….

Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1954 – 1964…………………………………. Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1965 – 1975………………………………….159 Tác giả tiêu biểu 1.183 Câu hỏi thảo luận và ôn tập ……………………………………………………….194 Tài liệu tham khảo…………………………………………………………………195 2 Chương 1: KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 1. Các chặng đường phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 1. Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 Đây là giai đoạn mở đầu của nền văn học cách mạng.

Văn học chuyển mình sang quỹ đạo mới, nhiều giá trị còn đang định hình. Những yếu tố cũ vẫn còn tồn tại, những yếu tố mới nảy sinh và tìm chỗ đứng trong thời đại mới. Có thể chia văn học thời kỳ này thành ba giai đoạn như sau: 1. Giai đoạn 1945 - 1946 Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã tạo ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc.

Nó chấm dứt sự tồn tại của chế độ thực dân, phong kiến. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thực hiện nhiều chính sách thiết thực: diệt giặc đói, giặc dốt, thiết lập nền hành chính các cấp và ban hành hiến pháp mới. Một nền văn hóa mới cũng từng bước được xây dựng. Một không khí dân chủ tràn ngập khắp non sông và hầu như mọi người đều thấy mình phải có trách nhiệm đóng góp cho chế độ mới.

Trong chính phủ liên hiệp của Hồ Chí Minh ở Hà Nội, người ta thấy sự có mặt của nhiều nhà văn nổi tiếng như Cù Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Tường Tam, Hoàn g Đạo… Mặc dù mỗi người có một quan điểm khác nhau nhưng đều hướng tới công cuộc xây dựng một nền văn hóa mới. Chữ quốc ngữ được dùng làm văn tự hành chính quốc gia và là ngôn ngữ giảng dạy chính thức trong nhà trường. Phong trào bình dân học vụ được phát triển rộng khắp, hệ thống trường học được mở rộng đến khắp các xã. Nhờ Chính phủ coi trọng công tác tuyên truyền nên hệ thống báo chí, đài phát thanh ngày càng phổ biến ở nông thôn.

Nói đến phong trào cải cách văn hóa nước nhà, phải kể đến vai trò của Hộ i Văn hóa Cứu quốc. Hội đã ra mắt tạp chí Tiên Phong, tổng cộng 24 số. Ban biên tập gồm nhiều nhà văn nổi tiếng như: Hải Triều, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai, Nguyên 3 Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Kim Lân, Xuân Diệu, Học Phi, Thâm Tâm, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Trần Huyền Trân… Ngoài các mục tin tức, bình luận thời sự chính trị, xã hội, tạp chí còn có mục đăng các sáng tác văn học nghệ thuật, bình luận, giới thiệu sách mới… Đây cũng là giai đoạn diễn ra nhiều cuộc tranh luận gay gắt về văn hó a nghệ thuật. Năm 1946, có cuộc tranh luận giữa nhóm Marxist và nhóm Trotskis về Đề cương văn hóa do Đảng Cộng sản công bố từ năm 1943.

Các khuynh hướng văn học, các quan niệm nghệ thuật cũng có dịp va chạm nhau. Các cuộc tranh luận đó diễn ra trong các buổi diễn thuyết, hội thảo về văn hóa nghệ thuật. Có khi, diễn ra các cuộc bút chiến trên báo chí, tập trung ở báo Tiên Phong, Chính nghĩa, Ngày nay. Tại Hà Nội lúc bấy giờ, còn có một số báo thường đăng các bài bút chiến văn nghệ như: Văn mới, Thiếu sinh, tập Văn hóa và cách mạng… Sau khi chiếm xong Nam Bộ, đầu năm 1946, Pháp tiến quân ra Nam Trung Bộ.

Chính phủ kêu gọi thanh niên gia nhập đoàn quân Nam tiến. Nhiều văn nghệ sĩ cũng có mặt trong đoàn quân này: Tô Hoài, Hoài Thanh, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Trần Mai Ninh, Hữu Loan. Nhiều bài ký nóng hổi lửa chiến trường đã được đăng tải trên báo chí Hà Nội, giúp nhân dân miền Bắc hiểu thêm tình hình chiến sự và văn hóa miền Trung. Ngày 24 - 11 - 1946, trong khi tiếng súng kháng Pháp đang râm ran ở Hải Phòng và nhiều tỉnh lân cận thì Hội nghị Văn hóa toàn quốc được khai mạc tại Hà Nội.

Hội nghị đã xác định một số mục tiêu của cách mạng trong thời kỳ mới. Một trong những thành công lớn của Hội nghị là tập hợp được nhiều thành phần trí thức văn nghệ sĩ khác nhau, hướng họ đến mục tiêu chung. Các khuynh hướng văn học cũ vẫn tiếp tục tồn tại theo quán tính. Khuynh hướng lãng mạn vẫn còn nhưng không giữ vai trò chủ lưu nữa và có phần lạc điệu.

Khuynh hướng tả chân vẫn phát triển mạnh trên cảm hứng mới, tố cáo chế độ cũ, ca 4 ngợi chế độ mới. Trước đây, khuynh hướng văn học cách mạng không có điều kiện phát triển. Nay, nó được phát triển công khai và đang vươn lên địa vị chủ lưu. Trong hai năm 1945 - 1946, trung tâm văn học nằm ở Hà Nội và chỉ hoạt động ở đây trong 16 tháng (từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 12 năm 1946).

Đó là một thời kỳ sôi động và có nhiều kỷ niệm khó quên. Nói như Xuân Diệu: “Cái thuở ban đầu Dân quốc ấy / Nghìn năm chưa dễ đã ai quên”. Chỉ trong một thời gian ngắn, các nhà văn đã nhanh chóng kết thành một đội ngũ đông đảo và chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Giai đoạn 1947 - 1950 Cuối năm 1946, các văn nghệ sĩ từ biệt thủ đô hoa lệ để làm cuộc “dấn thân” vào môi trường mới đầy khó khăn, nguy hiểm.

Đa số các văn nghệ sĩ xuất thân từ tầng lớp trung lưu, chưa quen cuộc sống lao động ở rừng núi và nông thôn. Họ phải chấp nhận một sự “nhập cuộc”, “lột xác” để biến thành con người mới, thích nghi với đời sống kháng chiến gian khổ. Đây cũng là thời kỳ “nhận đường” của các văn nghệ sĩ Tiền chiến. Chính phủ Việt Minh đề ra các khẩu hiệu: “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”.

Hồ Chủ Tịch nhắc nhở: “Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Trường Chinh đề ra luận văn “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” để hướng văn nghệ sĩ đi vào quỹ đạo văn hóa XHCN. Ông nêu lên các mục tiêu cơ bản của nền nghệ thuật mới là: Dân tộc - Khoa học - Đại chúng.

Tố Hữu cũng đề ra phương châm “Xây dựng nền văn nghệ nhân dân”, hướng tới phục vụ công - nông - binh. Trong thời gian này, tại Việt Bắc, có các hoạt động văn nghệ sau: Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai (7 - 1948), Hội nghị Văn nghệ toàn quốc (7 - 1948), Hội nghị văn nghệ bộ đội (4 - 1949), Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (9 - 1949), Hội nghị Văn hóa, văn nghệ Việt Bắc (tháng 7, 8 - 1950), Hội nghị tranh luận về sân khấu (1950)… Ngoài ra, ở các địa phương, ban ngành cũng diễn ra nhiều hội nghị văn 5 nghệ, báo chí tuyên truyền để xác lập nhiệm vụ của các trí thức văn nghệ sĩ trong thời kỳ mới. Năm 1948, Hội Văn nghệ Việt Nam được thành lập, do Nguyễn Tuân làm Tổng thư ký. Ông tuyên bố “lột xác”, đoạn tuyệt với di sản sản cũ để góp phần xây dựng một nền văn học mới.

Sau một thời gian băn khoăn “nhận đường”, đến năm 1949, Nguyễn Đình Thi cùng nhiều văn nghệ sĩ khác hăng hái tòng quân. Họ gia nhập các đơn vị bộ đội, làm công tác tuyên truyền, viết báo, sáng tác và biểu diễn nghệ thuật… Chuyến thực tế này giúp các văn nghệ sĩ có thêm nhiều chất liệu sáng tác và có điều kiện hòa mình cùng với quần chú ng và bộ đội. Mặc dù hoạt động trong điều kiện khó khăn nhưng báo chí cách mạng vẫn tồn tại và phát triển. Có thể kể ra một số tờ báo có đăng các sáng tác, tin tức, bình luận về nghệ thuật như: Sự thật, Cứu quốc, Độc lập, Sao vàng, Văn nghệ, Phụ nữ, Lao độ ng, Tiền phong, Thông tấn xã, Đài tiếng nói Việt Nam….

Các liên khu cũng có nhà in, các đơn vị bộ đội cũng có tờ tin riêng. Trong thời kỳ này, văn học rất đa dạng về cảm hứng thẩm mỹ. Phong vị lãng mạn vẫn còn. Ta vẫn còn bắt gặp những chiến binh dũng c ảm ngang tàng và hào hoa mơ mộng.

Cách diễn đạt lên gân, dùng nhiều từ ngữ cổ kính… Bên cạnh đó, cảm hứng mới đang hình thành. Nhiều tác phẩm đã dựng lên chân dung bình dị của các chiến sĩ xuất thân từ nhân dân lao động. Họ biết gác bỏ tình riêng để lo việ c nước. Hình thức diễn đạt dễ hiểu, gần gũi với lời ăn tiếng nói nhân dân.

Giai đoạn 1951 - 1954 Năm 1950, chính phủ Việt Minh mở chiến dịch Biên giới Thu Đông và khai thông với Trung Quốc. Năm 1951, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức đại hội lần thứ hai, vạch ra những mục tiêu chiến lược mới. Chính phủ chủ trương đường lối văn hóa vô sản, theo mô hình văn nghệ các nước XHCN. Từ đây, các văn nghệ sĩ đã có một hướng đi rõ ràng, nhất quán, không còn phân tán tư tưởng như giai đoạn trước.

6 Sau 5 năm hòa nhập vào đời sống kháng chiến, các văn nghệ sĩ trưởng thành hơn trước rất nhiều. Một đội ngũ văn nghệ sĩ mới được hình thành, lấp đầy khoảng trống các văn nghệ sĩ hy sinh hoặc “dinh tê” về thành. Các văn nghệ sĩ kháng chiến đã tập hợp thành một tổ chức chung khá chặt chẽ và tương đối thống nhất về tư tưởng sáng tác. Trong giai đoạn này, văn học đã giảm bớt âm hưởng Tiền chiến.

Thơ ca tập trung vào các chủ đề chính: ca ngợi anh bộ đội cụ Hồ, các tấm gương điển hình trong nông dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ