CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT VÀ VĂN HÓA TÂM LINH Ở TÀ RỤT 1.Tổng quan về vùng đất Tà Rụt 1.Vị trí hành chính ĐaKrông là huyện miền núi nằm phía Tây Nam tỉnh Quảng Trị. Thành lập ngày 1.1997 trên cơ sở 10 xã của huyện Hướng Hóa và 3 xã của huyện Triệu Phong.332 ha dân số 25. Có vị trí địa lý từ 16017’55”- 16049’12” vĩ độ Bắc và 106044’01”- 107014’15” kinh độ Đông. - Phía Bắc giáp huyện Gio Linh và Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
- Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và nước CHDCND Lào. - Phía Đông giáp huyện Triệu Phong và Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. - Phía Tây giáp huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị và nước CHDCND Lào. Huyện có 14 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm: 13 xã: Đakrông, A Vao, A Bung, A Ngo, Tà Rụt, Húc Nghì, Tà Long, Ba Nang, Mò Ó, Triệu Nguyên, Ba Lòng, Hải Phúc, Hướng Hiệp và thị trấn Krông Klang.
Đường biên giới đất liền tiếp giáp với nước CHDCND Lào dài 52,8 km trên địa bàn của 5 xã biên giới. Xã Tà Rụt nằm dọc theo đường Hồ Chí Minh dài 14,5 km, cách trung tâm huyện lỵ Đakrông 60km về phía Nam. Có diện tích tự nhiên 6061,93 ha, dân số đến cuối năm 2009 là 3.553 người, mật độ dân số bình quân 58,6 người/km2. Phía Bắc giáp xã Húc Nghì, ranh giới là khe Kỳ Đô.
Phía Nam giáp xã Abung, A Ngo, ranh giới là suối Pi Rao. Phía Đông giáp xã Húc Nghì, A Bung. 13 Phía Tây giáp xã A Vao. Xã có 9 thôn: Tà Rụt 1, Tà Rụt 2, Tà Rụt 3, A Pul, Ka hẹp, A Đăng, Vực Leng, A Leng, A Liêng, A Vương.
Trên địa bàn có nhiều sông suối nên có 2 thôn bị chia cắt bởi dòng sông Đakrông là thôn A Liêng và Vực Leng nên về mùa mưa lũ các thôn này đi lại rất khó khăn. Nhìn chung vị trí địa lý của xã thuộc vùng biên giới, vùng sâu, xa so với trung tâm huyện nên cũng khó khăn cho đi lại và giao lưu kinh tế xã hội với vùng khác 1. Điều kiện tự nhiên Xã Tà Rụt nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, ảnh hưởng khí hậu tiểu vùng Tây Trường sơn, có tính chất nhiệt đới nóng ẩm và nền nhiệt cao hầu như quanh năm, với các yếu tố khí hậu có những đặc trưng chính sau: Sự phân chia 2 vùng rõ rệt: mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau: mùa ít mưa từ tháng 2 đến tháng 7. Nhiệt độ trung bình hàng năm 250C, nhiệt độ cao nhất trung bình 29,10C (mùa nóng do ảnh hưởng của gió Tây, nhiệt độ cao tuyệt đối có thể lên đến 39,2- 40,50C), thấp nhất tuyệt đối 9,50C.
Mùa lạnh khi gặp gió mùa đông bắc thì nhiệt độ trung bình có thể xuống dưới 150C. Đặc biệt tháng 1-2 năm 2008 do rét đậm toàn bộ miền Bắc, đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp của xã. Thời kỳ nhiệt độ cao cộng với độ ẩm đã làm bốc hơi lớn, gây khô hạn, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân. Đặc điểm kinh tế xã hội Lịch sử vùng đất Đakrông từng thuộc các huyện Hướng Hóa, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong: Do ảnh hưởng của chiến tranh do yêu cầu cách mạng nên nhiều lần tách ra hợp vào nhiều lần.
Đakrông là nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa thời tiền sử. vùng này, trên toàn thế giới là những trung tâm nảy sinh nghề nông (khảo cổ học gọi là trung tâm “cách mạng đá mới” hay “cách mạng nông nghiệp”, bước 14 nhảy vọt sau thời Đá cũ, thu lượm. ở Đakrông các nhà khảo cổ học đã tìm được ven đồi ven suối một ít dấu vết của thời kỳ đá mới thuộc văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn. Ở đây còn phát hiện nhiều dấu vết của nền văn hóa đồ đồng như rìu đồng, giáo đồng, lưỡi câu đồng và một số đồ trang sức vv… Và giáo sư Trần Quốc Vượng đã khẳng định rằng: “Tôi tin rằng chủ nhân của các rìu đá mài đó là tổ tiên của đồng bào thuộc ngữ hệ Môn- Khơme, như người Vân Kiều, Pa Kô, Kơtu…trước cách mạng họ làm nương rẫy không làm ruộng lúa”2.
Qua những dữ kiện đó chứng tỏ Đakrông có bề dày lịch sử lâu đời là nơi con người lập nghiệp từ rất sớm có những đóng góp to lớn trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc. Vào buổi đầu của lịch sử nơi đây là địa bàn của trú của bộ Việt Thường. Từ cuối thế kỷ II đến thế kỷ XIV thuộc về châu Ô, Châu Lý của nhà nước Chăm Pa. Từ năm 1306 thuộc về nhà nước Đại Việt sau khi Chế Mân lấy Châu Ô, Châu Lý làm lễ vật cầu hôn Huyền Trân công chúa.
Năm1307 nhà Trần đổi Châu Ô, Châu Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu, Đakrông lúc này thuộc Hóa Châu. Dân cư ở đây không chỉ có người Chăm mà gồm cả đồng bào dân tộc ít người như Vân Kiều, Pa Kô cùng người Kinh định cư lâu đời. Từ năm 1831 khi nhà Nguyễn thành lập tỉnh Quảng Trị thì Đakrông chính thức thuộc về tỉnh Quảng Trị từ đó đến năm 1976 Đakrông thuộc tỉnh Bình Trị Thiên đến ngày 18.1981 xã Đakrông được thành lập trên cơ sở sát nhập các thôn Taliêng, Pa ra Từng, Chân Rò tách từ xã Tà Long và thôn Ba ngao, Làng Cát, Vùng Kho. Các xã A Túc, A Xốc và Kỳ Nơi thuộc huyện Hướng Hóa nhập vào làm một và lấy tên là A Túc.
Dân cư Đakrông ngoài các dân tộc thiểu số như Ba Hy, Vân Kiều, Pa Kô là chủ yếu còn có người Kinh sinh sống tính đến 2005. Mặc dù thành phần dân tộc phức tạp nhưng trải qua quá trình chung sống vật lộn đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm cư dân Đakrông đã trở thành một khối thống 2 Trần Quốc Vượng (1998), Việt Nam cái nhìn địa-văn hóa, Nxb. Văn hóa dân tộc/ Tạp chí Văn hóa văn nghệ. 15 nhất trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu của cộng đồng cư dân Việt Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng.
Cộng đồng cư dân sinh sống đầu tiên ở trên địa bàn huyện Đakrông đó là cộng đồng người Ba Hy. Họ sống theo dạng du canh du cư từ ngọn núi này sang ngọn núi khác nhưng sau một thời gian sinh sống họ gặp phải dịch bệnh và thú dữ tấn công nên đã chuyển đi nơi khác sinh sống. Sau khi người Ba Hy dời đi thì những người mới đến định cư ở đây (còn gọi là người Bru nghĩa là những người sống ở trên cao). Ngoài người Vân Kiều còn có người Pa Kô cư trú ở phía Tây Nam của huyện ở các xã A Túc, A Bung, Tà Rụt.
Ngôn ngữ của của đồng bào Vân Kiều gọi là Kado, Kanay, thuộc ngữ hệ Môn – Khơme Người Vân kiều Pa Kô sống thành các bản làng gọi là Vil hay Vel mỗi bản thường có 20-30 gia đình. Đứng đầu Vil hay Vel là Aryay vel có thể là người đứng đầu dòng họ hoặc được bầu lên nói chung đó là người có uy tín và trách nhiệm với cộng đồng được cộng đồng tin tưởng. Nhà ở của đồng bào Đakrông đều là nhà sàn lợp bằng lá tranh, mây, sàn lát bằng nứa hoặc gỗ. Giữa hai cộng đồng có nhiều điểm tương đồng về văn hóa như cà răng, căng tai, các mô típ trang trí, hay các câu chuyện dân gian v.v… Sau khi người Kinh lên sinh sống cùng với cộng đồng ở đây dã trở thành một cộng đồng cư dân mới hết sức đoàn kết và gắn bó cùng nhau tồn tại và phát triển.
Nông nghiệp cơ bản dựa vào sản xuất lương thực là chủ yếu nhưng năng suất thấp, diện tích ít, kỹ thuật canh tác kém. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá chậm; sản xuất phân tán, qui mô nhỏ lẻ, chưa tập trung. Giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích còn thấp, thiếu tính bền vững. Năng suất chất lượng và khả năng cạnh tranh của một số sản phẩm chưa cao.
Chăn nuôi chủ yếu theo hình thức thả rong, không có chuồng trại và chăn dắt nên không phòng ngừa được các loại dịch bệnh lây lan (như đợt dịch năm 2007 và đầu năm 2008 làm thiệt hại rất lớn đến tổng đàn gia súc, gia cầm, thu nhập kinh tế hộ gia đình giảm, ảnh hưởng đến đời sống khó khăn chung của toàn vùng). 16 Tình trạng phát rừng làm nương rẫy vẫn còn tiếp tục ở một số nơi dẫn đến rừng bị tàn phá, đất bị xói mòn, lũ lụt thường xuyên xảy ra hàng năm, ảnh hưởng rất lớn đến việc canh tác nông nghiệp, sản lượng thu hoạch thấp, không đảm bảo an toàn lương thực tại chỗ. Do sản xuất các ngành nông, lâm nghiệp với quy mô nhỏ lẻ, không có vùng chuyên canh, trình độ canh tác lạc hậu, do đó tổng sản lượng nông sản phẩm hàng hoá ít, thị trường tiêu thụ khó nên mức thu nhập từ sản xuất của người dân đạt ở mức rất thấp. Phần lớn sản phẩm nông nghiệp dành cho tiêu dùng tại chỗ.
Dân tộc Pa Kô ở Tà Rụt 1. Đôi nét về dân tộc Pa Kô Quảng Trị là một vùng đất có bề dày lịch sử khá lâu đời. Từ rất sớm trên vùng đất này đã có con người cư trú. Tuy nhiên họ có phải là tổ tiên của những cư dân này hay không vẫn chưa có câu trả lời chính xác từ các nhà khoa học.
Đây là địa bàn cư trú chủ yếu của các dân tộc thiểu số: Pa Kô, Vân Kiều, Cơtu. Dân tộc Pa Kô có khoảng 13.000 người, thuộc ngữ hệ Môn – Khmer, tên gọi này có nghĩa là “phía núi”, vì địa hình cư trú chủ yếu của họ trên miền núi có (trung bình 1.600m), cao hơn địa bàn cư trú các dân tộc khác, đa số cư dân thuộc bộ phận chính dòng phân bố tại vùng núi mang tên họ. Do có những mối quan hệ gần gũi, văn hóa và ý thức tự giác tộc người, các nhà Dân tộc học đã cố tình xếp dân tộc Pa Kô và một số dân tộc thuộc nhóm địa phuơng khác như Pa Hy, Kađô, Tà Ôi… vào dân tộc Tà Ôi. Tuy nhiên tên gọi Pa Kô đã xuất hiện từ rất lâu và đuợc dùng phổ biến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, gắn liền với những bài hát như “người con gái Pa Kô” của nhạc sĩ Huy Thục, với các tên tuổi anh hùng như: Hồ Vai, Kan Lịch, Hồ Dục… tuy mới xuất hiện nhưng họ đuợc cộng đồng các cư dân phụ cân đều dùng đó làm tên gọi cho dân tộc họ.