Luận Văn Thạc Sĩ: Làng Bản Của Người Nùng Ở Huyện Bình Gia, Tỉnh Lạng Sơn (1986 - 2013)

Luận văn thạc sĩ phân tích hay làng bản của người nùng ở huyện bình gia tỉnh lạng sơn 1986 2013, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

119
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH GIA – TỈNH LẠNG SƠN

1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.1.1. Vị trí địa lý

1.1.2. Điều kiện tự nhiên

1.2. Lịch sử hành chính

1.3. Các thành phần dân tộc và dân tộc Nùng ở huyện Bình Gia

1.3.1. Các thành phần dân tộc

1.3.2. Dân tộc Nùng

1.4. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Bình Gia

2. CHƯƠNG 2: LÀNG BẢN CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN (1986 - 1998)

2.1. Khái niệm làng bản

2.2. Tên gọi và không gian sinh tồn

2.2.1. Nguồn gốc tên gọi

2.2.2. Không gian sinh tồn

2.3. Cơ cấu tổ chức

2.3.1. Tổ chức gia đình và dòng họ

2.3.2. Tổ chức làng

2.4. Hoạt động kinh tế

2.5. Văn hóa vật chất và tinh thần

2.5.1. Tín ngưỡng, tôn giáo

2.5.2. Kiến trúc công cộng

2.6. Lễ hội truyền thống

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA LÀNG BẢN NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN (1999 - 2013)

3.1. Nguyên nhân biến đổi

3.2. Biến đổi về không gian sinh tồn và đời sống của người Nùng

3.3. Biến đổi trong tổ chức

3.3.1. Dòng họ

3.3.2. Tổ chức làng

3.4. Biến đổi về kinh tế

3.5. Biến đổi về văn hóa

3.6. Những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tích cực của làng bản người Nùng trong việc xây dựng đời sống văn hóa hiện nay

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám Phá Văn Hóa Làng Bản Người Nùng Tại Huyện Bình Gia

Văn hóa làng bản của người Nùng tại huyện Bình Gia, Lạng Sơn, từ năm 1986 đến 2013, là một chủ đề phong phú và đa dạng. Nơi đây không chỉ là nơi sinh sống mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống độc đáo. Người Nùng đã tạo ra một nền văn hóa đặc sắc, phản ánh qua các phong tục tập quán, ngôn ngữ và nghệ thuật dân gian. Việc nghiên cứu văn hóa làng bản của người Nùng không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

1.1. Tổng Quan Về Văn Hóa Người Nùng

Văn hóa người Nùng được hình thành qua nhiều thế kỷ, với những đặc trưng riêng biệt. Các nghi lễ, phong tục tập quán và nghệ thuật dân gian là những yếu tố quan trọng trong đời sống của họ. Những giá trị này không chỉ thể hiện bản sắc văn hóa mà còn là cầu nối giữa các thế hệ.

1.2. Đặc Điểm Văn Hóa Làng Bản Người Nùng

Làng bản của người Nùng thường có cấu trúc tổ chức chặt chẽ, với các hoạt động cộng đồng diễn ra thường xuyên. Các lễ hội truyền thống, như lễ hội mừng cơm mới, là dịp để người dân thể hiện sự đoàn kết và gắn bó. Những hoạt động này không chỉ mang tính chất văn hóa mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc.

II. Những Thách Thức Đối Với Văn Hóa Làng Bản Người Nùng

Trong bối cảnh hiện đại hóa và toàn cầu hóa, văn hóa làng bản của người Nùng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Sự xâm nhập của các yếu tố văn hóa ngoại lai, cùng với sự thay đổi trong lối sống và thói quen tiêu dùng, đã ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa truyền thống. Việc bảo tồn và phát huy văn hóa làng bản trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

2.1. Ảnh Hưởng Của Hiện Đại Hóa

Hiện đại hóa đã mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng tạo ra áp lực lớn lên văn hóa truyền thống. Nhiều phong tục tập quán đang dần bị lãng quên, và các thế hệ trẻ có xu hướng tiếp nhận văn hóa hiện đại hơn là giữ gìn di sản văn hóa của tổ tiên.

2.2. Sự Biến Đổi Trong Tổ Chức Làng Bản

Cấu trúc tổ chức làng bản cũng đang có sự thay đổi. Sự di cư của người dân đến các thành phố lớn để tìm kiếm cơ hội việc làm đã làm giảm số lượng người sống tại các làng bản, dẫn đến sự suy giảm trong các hoạt động văn hóa cộng đồng.

III. Phương Pháp Bảo Tồn Văn Hóa Làng Bản Người Nùng

Để bảo tồn văn hóa làng bản của người Nùng, cần có những phương pháp hiệu quả và bền vững. Việc kết hợp giữa bảo tồn và phát triển là rất quan trọng. Các chương trình giáo dục và truyền thông có thể giúp nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa, đồng thời khuyến khích cộng đồng tham gia vào các hoạt động bảo tồn.

3.1. Giáo Dục Và Truyền Thông

Giáo dục là một trong những phương pháp quan trọng để bảo tồn văn hóa. Các chương trình giáo dục về văn hóa truyền thống có thể được đưa vào trường học, giúp thế hệ trẻ hiểu và trân trọng di sản văn hóa của dân tộc.

3.2. Khuyến Khích Hoạt Động Cộng Đồng

Khuyến khích các hoạt động cộng đồng như lễ hội, hội thảo văn hóa sẽ tạo cơ hội cho người dân giao lưu và chia sẻ kinh nghiệm. Những hoạt động này không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn tăng cường sự gắn kết trong cộng đồng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Nghiên cứu văn hóa làng bản người Nùng không chỉ mang lại hiểu biết sâu sắc về văn hóa mà còn có thể ứng dụng vào các chính sách phát triển địa phương. Các kết quả nghiên cứu có thể giúp các nhà quản lý xây dựng các chương trình phát triển bền vững, bảo tồn văn hóa và nâng cao đời sống người dân.

4.1. Chính Sách Phát Triển Bền Vững

Các chính sách phát triển bền vững cần được xây dựng dựa trên nền tảng văn hóa địa phương. Việc kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa sẽ giúp tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho người dân.

4.2. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Các Tổ Chức

Hợp tác giữa các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trong việc bảo tồn văn hóa là rất cần thiết. Các tổ chức này có thể hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các dự án bảo tồn văn hóa, giúp nâng cao hiệu quả của các hoạt động bảo tồn.

V. Kết Luận Về Tương Lai Văn Hóa Làng Bản Người Nùng

Tương lai của văn hóa làng bản người Nùng phụ thuộc vào sự nỗ lực của cả cộng đồng và các cơ quan chức năng. Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân hay tổ chức mà là của toàn xã hội. Cần có những chiến lược dài hạn để đảm bảo rằng văn hóa truyền thống sẽ được gìn giữ và phát triển trong bối cảnh hiện đại.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Bảo Tồn Văn Hóa

Bảo tồn văn hóa làng bản không chỉ giúp gìn giữ bản sắc dân tộc mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng. Văn hóa là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế và xã hội.

5.2. Hướng Đi Tương Lai

Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc kết hợp giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế. Các chương trình phát triển cần phải tôn trọng và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của người Nùng.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay làng bản của người nùng ở huyện bình gia tỉnh lạng sơn 1986 2013

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH GIA – TỈNH LẠNG SƠN 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Huyện Bình Gia nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Lạng Sơn với tổng diện tích tự nhiên là 109.352,73 ha gồm 19 xã và 1 thị trấn. Trụ sở UBND huyện đặt ở trung tâm huyện, cách thành phố Lạng Sơn 70km về phía Tây; cách cửa khẩu Hữu Nghị Quan 62km theo quốc lộ 1B và cách thành phố Thái Nguyên 85km về phía Tây Nam. Vị trí tiếp giáp của huyện như sau: Phía Bắc giáp huyện Tràng Định.

Phía Đông giáp huyện Văn Quan và huyện Văn Lãng Phía Nam giáp huyện Bắc Sơn. Phía Tây giáp huyện Na Rì - tỉnh Bắc Kạn. Bình Gia là huyện có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế và an ninh quốc phòng. Bình Gia có Quốc lộ 1B đi qua, nối liền Thành phố Lạng Sơn với Thành phố Thái Nguyên, thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa.

Ngoài ra còn có Quốc lộ 279 nối liền Bình Gia với Na Rì - Bắc Kạn, các mặt hàng nông sản thực phẩm của Bình Gia có thể qua tuyến đường này cung cấp cho thành phố Lạng Sơn, Thái Nguyên, Thủ đô Hà Nội cũng như các khu dân cư tập trung khác. Về quốc phòng an ninh, Bình Gia có vị trí đặc biệt quan trọng. Trong kháng chiến chống Pháp Bình Gia là căn cứ địa cách mạng, chiến thắng Bình Gia vang dội góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Trong chiến tranh Biên giới tháng 2/1979, Bình Gia là tuyến phòng thủ thứ 2 đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới phía Bắc Việt Nam.2 Điều kiện tự nhiên Bình Gia có tổng diện tích tự nhiên là 109.352,73 ha, trong đó 2/3 diện tích là đồi núi, 1/3 là đất ruộng, vườn nương canh tác.

Địa hình Bình Gia bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đất và núi đá các dãy đồi, núi ở Bình Gia đều có 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độ dốc từ 25- 30 trở lên. Xen với những lớp đất trải rộng ra phía Đông và phía Bắc là những cánh đồng và thung lũng khe suối nối tiếp nhau thành các lòng máng ngắn. Các dải thung lũng hẹp có diện tích nhỏ, không đáng kể, diện tích cây hàng năm vì thế không có nhiều nên sản lượng lúa và hoa màu không cao. Bình Gia có ngọn núi Phia Ngàm (Yên Lỗ) cao 1.193m và ngọn Slam Táng (Hưng Đạo) cao 1.

Bình Gia có nhiều đồng cỏ xanh tốt thuận lợi cho việc chăn nuôi các loại gia súc như trâu, bò, ngựa, dê. Các loại gia súc này không những đảm bảo cung sức kéo, thực phẩm trong huyện mà còn có thể cung cấp cho các địa phương khác trong và ngoài tỉnh. Bình Gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng mang những nét độc đáo, riêng biệt.,Ở Bình Gia mùa đông thường thịnh hành gió Đông Bắc lạnh và ít mưa, nhiều năm có hiện tượng sương muối. Mùa hè thịnh hành gió Đông Nam và Tây Nam.

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 20,8 độ c, độ ẩm không khí trung bình năm là 82,0% thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp như chè, hồi, trẩu, sở, bông và các loại cây ăn quả như lê, mận, đào…và đặc biệt rất phù hợp với điều kiện sinh thái của cây hồi – một loại cây có giá trị kinh tế cao của Lạng Sơn. Trong điều kiện có vốn đầu tư có thể mở mang phát triển sản xuất với quy mô lớn, tập trung thành các vùng sản xuất hàng hóa. Lượng mưa trung bình năm ở Bình Gia là 1540mm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9.

Lượng mưa bình quân năm là 1. Vào mùa mưa, lượng mưa bình quân tháng là 212 mm. Lượng nước mưa là nguồn nước tưới thiên nhiên quan trọng cho các loại cây trồng hoa màu lương thực, cây ăn quả và cây hồi. Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau ít mưa, lượng mưa tháng chỉ đạt 44,5mm/tháng.

Thời gian này cây hồi, lê, mận, đào đã cho thu hoạch và chuẩn bị tích lũy dinh dưỡng cho kì ra hoa năm sau nên không cần thiết nhiều nước tưới. Nhưng ngược lại, đối với các cây trồng ngắn vụ xuân lại thiếu nước vì thế, diện tích lúa 2 vụ ở Bình Gia không nhiều chỉ chiếm 31,2% tổng số diện tích đất lúa và 0,97% tổng diện tích tự nhiên. Số giờ nắng trung bình khoảng: 1. Lượng bốc hơi bình quân năm: 811 mm, chiếm 52,7% lượng mưa cả năm.

Trong các tháng mùa 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lạnh, lượng bốc hơi cao nhiều hơn so với lượng mưa, gây hạn hán cục bộ ở nhiều khu vực có địa hình cao xa nguồn nước. Nhìn chung, khí hậu của huyện có nhiều thuận lợi cho sự phát triển nông lâm nghiệp. Trên địa bàn huyện ít chịu ảnh hưởng của các cơn bão lớn. Tuy nhiên do biên độ nhiệt dao động giữa các mùa lớn, mùa khô kéo dài, chế độ mưa tập trung đã gây nên những hiện tượng hạn hán, xói mòn trên đất dốc, mùa đông lạnh có sương muối vào khoảng tháng 11, 12, ảnh hưởng khá lớn đến sản xuất nông nghiệp của người dân.

Huyện Bình Gia có sông Bắc Giang (sông Văn Mịch) chảy qua với chiều dài trên 50km là nguồn nước, là tuyến giao thông đường thủy quan trọng, tại đây có thể xây dựng nhà máy thủy điện … Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có sông Pắc Khuông chảy qua và có hàng trăm con suối lớn nhỏ phân bố ở khắp các xã là nguồn cung cấp chủ yếu nước sinh hoạt cho nhân dân và nước tưới cho sản xuất. Hệ thống sông suối, hồ đập dải đều khắp trên địa bàn huyện nên thuận lợi cho việc phát triển hệ thống thủy lợi. Bình Gia có hồ Phai Danh (Văn Thụ) rộng 13 – 15 ha có sức chứa 3,3 triệu m3 cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất cho một số xã xung quanh thị trấn Bình Gia. Bình Gia là một huyện nghèo khoáng sản, chỉ có đá vôi và cát sông, có khả năng khai thác sử dụng làm đường giao thông và xây dựng của nhân dân.

Trên địa bàn huyện Bình Gia có mỏ than bùn ở xã Hoàng Văn Thụ, trữ lượng khoảng vài trăm ngàn tấn có thể khai thác để sản xuất phân vi sinh mang lại nguồn thu đáng kể trong nền kinh tế trên địa bàn huyện. Ngoài ra, huyện còn có một số kim loại quý như vàng sa khoáng (ở khu vực xã Tân Văn, Hồng Phong), quặng sắt, Ăngtymol (ở xã Hoa Thám), tuy nhiên trữ lượng nhỏ không đáng kể. Bình Gia còn có một khối lượng đá vôi lớn tập trung ở các xã Tô Hiệu, Tân Văn. Hoàng Văn Thụ, thị trấn Bình Gia… làm nguyên liệu cho công nghiệp khai thác sản xuất vật liệu xây dựng, đá xẻ, đá ốp lát phục vụ cho các công trình xây dựng trên địa bàn huyện và tỉnh Lạng Sơn.

Bình Gia có nhiều hang động, trong đó có hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai là những di chỉ khảo cổ học đã được xếp hạng. Ở đó các chuyên gia khảo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cổ học đã phát hiện ra hóa thạch xương người Việt cổ cách đây 25 vạn năm. Đồng thời Bình Gia còn nằm trên tuyến du lịch Thành phố Lạng Sơn – Đồng Đăng – Bắc Sơn. Các dân tộc huyện Bình Gia có truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc như hát Then, hát Sli, hát lượn của các dân tộc Tày, Nùng, các ngày lễ hội ở Pắc Khuông,Văn Mịch… Trong tương lai nơi đây sẽ trở thành điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch hang động có giá trị.

Rừng nguyên sinh ở Bình Gia có diện tích khá lớn, với nhiều loại gỗ quý như: lát, lim, vàng tâm, nghiến,… Theo số liệu điều tra năm 2009, huyện Bình Gia có 56.850 ha đất rừng, chiếm 52,1% diện tích tự nhiên. Trong đó đất rừng sản xuất là 38.427,43 ha, đất rừng phòng hộ là 18. Diện tích rừng trồng tập trung mới đạt 511,0 ha với các loại cây chủ yếu như hồi, mỡ, thông, keo. đặc biệt cây hồi có điều kiện phát triển nhanh.

Trên địa bàn huyện còn có khu rừng đặc dụng Lân Luông (xã Thiện Hòa) còn bảo tồn được nhiều cây gỗ quý: nghiến, lát hoa, đinh và nhiều loại sản vật có giá trị như sa nhân, nấm hương, mộc nhĩ… Rừng ngoài việc cung cấp gỗ, lâm sản còn góp phần quan trọng vào việc điều tiết cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường. Tài nguyên động vật tương đối phong phú với nhiều loài quý hiếm như gà lôi, hươu nai, lợn rừng, nhím, sóc,… Tuy nhiên do diện tích rừng suy giảm mạnh, đặc biệt là trong mấy năm gần đây, cùng với tập quán săn bắt thú rừng bừa bãi của dân cư miền núi nên hầu hết các loài thú quý hiếm trên đã bị suy giảm về số lượng loài và cá thể, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng.2 Lịch sử hành chính Bình Gia là huyện có lịch sử lâu đời. Qua những cuộc tìm kiếm, khai quật khảo cổ học, các nhà sử học đã phát hiện dấu tích của người vượn cổ và nhiều hóa thạch khác ở hang Thẩm Hai, Thẩm Khuyên thuộc xã Tân Văn. Những dấu tích đó là những mảnh tước, rìu, răng … thuộc về văn hóa Bắc Sơn trong thời kì đầu thời đại đồ đá mới mà người vượn dùng để kiếm ăn hàng ngày cách đây hàng vạn năm (ở hang Kéo Lèng xã Tân Văn).

Theo Địa chí Lạng Sơn: “Đầu thế kỷ XIX về trước, vùng đất Bình Gia hiện nay thuộc về châu Văn Quan (tổng Bằng Gia, tổng Uy Mãnh) và Văn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Uyên (tổng Hóa Nhân) thuộc Phủ Tràng Khánh. Cho đến thời Tự Đức thì Bình Gia thuộc về châu Văn Uyên, huyện Văn Quan của phủ Tràng Định”[4, tr. Cuối năm 1980, thực dân Pháp đánh chiếm Bình Gia. Đến năm 1885, Pháp đã áp đặt xong bộ máy cai trị ở châu Bình Gia.

Tháng 9-1894 thực dân Pháp tách hai tổng Bằng Gia và Tuyền Cam của châu Văn Quan lập thành một đơn vị hành chính mới là châu Bình Gia. Từ năm 1891 đến 1905 châu Bình Gia là một châu thuộc hạt Thất Khê, trên phần lãnh thổ của Quân chính đạo số 1 do thực dân Pháp lập ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ