Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai" do nghiên cứu sinh Đỗ Thị Nhàn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Mạnh Tiến, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2020. Luận án thuộc chuyên ngành Lí luận văn học, mã số 9.20.

Về tính cấp thiết, Lan Khai là cây bút hoạt động trong trào lưu cách tân văn học nửa đầu thế kỷ XX, được nhà phê bình Vũ Ngọc Phan xếp vào hàng ngũ những tác giả nỗ lực tìm đường đổi mới văn học trong công trình Nhà văn hiện đại (1942). Xét về số lượng, Lan Khai là tác giả có số lượng tiểu thuyết lịch sử lớn nhất trong các nhà văn hiện đại Việt Nam với 26 tác phẩm. Mặc dù mảng truyện đường rừng của ông từng được quan tâm nghiên cứu và giới thiệu trên tạp chí quốc tế (Tạp chí của Học viện Kinh doanh hành chính, Luật và Khoa học xã hội châu Âu, ISSN 2410-3918, tháng 7 năm 2019), mảng tiểu thuyết lịch sử của ông trong một thời gian dài chưa được khảo sát đầy đủ và có hệ thống. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc sau năm 1945, sự ra đi chưa rõ tung tích của ông khiến các di cảo và hàng chục tác phẩm lịch sử không được tái bản rộng rãi. Năm 2006, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Lễ Kỷ niệm 100 năm ngày sinh và Hội thảo khoa học "Lan Khai với văn học Việt Nam hiện đại", đánh dấu việc hoàn nguyên vị thế văn học của tác giả. Bên cạnh đó, thực tiễn lý luận và phê bình về tiểu thuyết lịch sử tại Việt Nam vẫn còn những tranh luận về mối quan hệ giữa lịch sử và hư cấu. Việc khảo sát sáng tác của Lan Khai giải quyết yêu cầu nhận diện tiến trình đổi mới thể loại và phục vụ việc giảng dạy tích hợp liên môn Ngữ văn - Lịch sử tại các trường phổ thông.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ ý thức nghệ thuật, thành quả đổi mới và đóng góp của Lan Khai đối với sự vận động của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, từ đó rút ra các nhận định lý luận về thể loại.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua 5 nội dung:

  1. Khái quát các công trình nghiên cứu tiêu biểu về tiểu thuyết lịch sử trên thế giới và tại Việt Nam để làm điểm tựa liên hệ tới sáng tác của Lan Khai.
  2. Tổng hợp kết quả nghiên cứu về Lan Khai và tiểu thuyết lịch sử của ông; khảo sát quan niệm nghệ thuật và quá trình sáng tác trong bối cảnh văn học đầu thế kỷ XX.
  3. Phân tích các đặc trưng tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai ở các bình diện cảm hứng sáng tác, sự kiện lịch sử và thế giới nhân vật.
  4. Khảo sát các phương thức, phương tiện biểu hiện nghệ thuật: nghệ thuật hư cấu, tổ chức kết cấu, xây dựng nhân vật, không gian, thời gian, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu.
  5. Xác định thành tựu đổi mới, đóng góp, cũng như những giới hạn trong tiểu thuyết lịch sử của tác giả.

Đối tượng nghiên cứu là 20 tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu của Lan Khai đã xuất bản và tái bản từ trước năm 1945 đến nay. Phạm vi nghiên cứu khảo sát các tác phẩm này trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật; đồng thời mở rộng liên hệ với các truyện ngắn, ký lịch sử của ông (Sóng nước Lô Giang, Mũi tên dẹp loạn, 8023) cùng các tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu trong nước và quốc tế. Phạm vi thời gian và không gian gắn với tiến trình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, trọng tâm là giai đoạn 1930 - 1945.

STT Tên tiểu thuyết lịch sử STT Tên tiểu thuyết lịch sử
1 Gái thời loạn 11 Treo bức chiến bào
2 Chiếc ngai vàng 12 Chàng áo xanh
3 Cái hột mận 13 Tình ngoài muôn dặm
4 Ai lên phố Cát 14 Trăng nước Hồ Tây
5 Chế Bồng Nga 15 Trong cơn binh lửa
6 Bóng cờ trắng trong sương mù 16 Thành bại với anh hùng
7 Cánh buồm thoát tục 17 Rỡn sóng Bạch Đằng
8 Đỉnh non Thần 18 Ái tình và sự nghiệp
9 Người thù của mặt trời 19 Chàng đi theo nước
10 Gửi cái xuân tàn 20 Chàng kỵ sỹ

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại hệ thống nghiên cứu lý thuyết về thể tài tiểu thuyết lịch sử trên thế giới. Tác phẩm Tiểu thuyết lịch sử (1937) của G. Lukacs xác định thể tài này hình thành từ đầu thế kỷ XIX với đại diện Walter Scott qua tác phẩm Waverley, đề xuất khái niệm "sự sai lệch thời gian cần thiết" (necessary anachronism) nhằm giúp nhân vật bộc lộ tư tưởng thời đại một cách rõ nét trên nền tảng xác thực lịch sử. G. Lenobl trong Lịch sử và văn học (1960) đưa ra ba tiêu chí: nhân vật - sự kiện có thực; nguyên tắc lịch sử phản ánh xung đột thời đại; nội dung là hiện thực đã qua mà tác giả và độc giả không phải người đương thời. Dorothy Brewster và John Angus Burrell trong Tiểu thuyết hiện đại (1971) xem thể loại này là phương tiện soi sáng hiện tại từ quá khứ. Trường phái Tân duy sử với Hayden White (Metahistory) xác định "lịch sử như là tự sự" với 4 phương thức tu từ: lãng mạn, bi kịch, hài kịch và châm biếm. Karl Popper trong Sự nghèo nàn của thuyết sử luận (2012) nhấn mạnh sự đa dạng của các cách diễn giải lịch sử. Michel Foucault quan niệm lịch sử là sự đứt đoạn và tồn tại như một diễn ngôn. Luận án cũng điểm qua các quan niệm của Aristote, F. Schelling, Benedetto Croce, G. W. F. Hegel, V. Belinsky, G. Lukacs, Milan Kundera (Nghệ thuật tiểu thuyết, 1998), Alexandre Dumas, A. Tolstoy, Kikuchi Kan, Edmond và Jules de Goncourt, Hella S. Haasse.

Tại Việt Nam, tình hình nghiên cứu được tác giả phân chia theo ba giai đoạn:

Giai đoạn 1930 - 1945: Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942) đã đưa ra các nhận xét cụ thể về Phan Trần Chúc, Nguyễn Triệu Luật (Chúa Trịnh Khải) và Lan Khai, qua đó phân biệt việc viết lịch sử với việc sáng tác tiểu thuyết lịch sử. Bản thân các nhà văn cũng bộc lộ quan niệm nghề nghiệp: Lan Khai trong Ai lên phố Cát (1937) cho rằng nhà tiểu thuyết được quyền tự do biên chép các điều huyền hoặc để tăng sự sinh động; trái lại, Nguyễn Triệu Luật trong lời tựa Bà Chúa Chè (1938) và Ngược đường trường thi (1939) nhấn mạnh việc hóa hợp giữa sử liệu và hư cấu như nhà kim hoàn hòa trộn kim loại quý.

Giai đoạn sau 1945 đến hết thế kỷ XX: Nhóm Lê Quý Đôn (Lịch sử văn học Việt Nam, tập III), Lê Văn Siêu (Văn học thời thuộc Pháp), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên) giới thiệu sơ lược về thể tài. Hà Minh Đức (Tuyển tập Nguyễn Huy Tưởng, 1966, 1984) nhấn mạnh quyền sáng tạo và tính lý tưởng của nghệ sĩ. Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974) phân tích Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu như một tiểu thuyết lịch sử có tính luận đề. Nguyễn Đình Chú (1967, 1981) và Nguyễn Phương Chi (1980) tiếp cận nhân vật người anh hùng và đề tài chống ngoại xâm. Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng trong Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930 (1983) đánh giá tác phẩm của Đinh Gia Thuyết và Nguyễn Tử Siêu. Bùi Văn Lợi trong luận án Tiến sĩ (1998) nghiên cứu diện mạo tiểu thuyết lịch sử từ đầu thế kỷ XX đến 1945, phân biệt ngòi bút "thực lục" của sử gia và "hư bút" của nhà tiểu thuyết. Tranh luận về ranh giới hư cấu bùng nổ qua chùm truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp (1988) với các ý kiến trái chiều của Tạ Ngọc Liễn, Đỗ Văn Khang, Lại Nguyên Ân, Ngô Văn Giá, Trịnh Bá Đĩnh (được Phạm Xuân Nguyên tập hợp trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, 2001). Cùng giai đoạn, các tác giả Trương Đăng Dung (1994), Nguyễn Mộng Giác (Sông Côn mùa lũ, 1998), Nam Dao (Gió lửa, 1999) tiếp tục đóng góp các góc nhìn về đối thoại lịch sử.

Giai đoạn từ thế kỷ XXI đến nay: Thể tài phát triển với các tác phẩm của Hoàng Quốc Hải (Bão táp triều Trần, Tám triều vua Lý), Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn), Võ Thị Hảo (Giàn thiêu), thu hút sự quan tâm của Hữu Thỉnh, Bằng Việt, Nguyễn Quang Thiều, Đinh Công Vỹ. Các nhà nghiên cứu Trần Vũ (2003), Phan Cự Đệ (2004), Nguyễn Văn Dân (2006) đi sâu vào kỹ thuật tiểu thuyết và sự pha trộn giữa tư liệu thực tế với hư cấu nghệ thuật.

Về tình hình nghiên cứu Lan Khai:

  • Giai đoạn 1946 - 1965: Tên tuổi ông vắng bóng ở miền Bắc; ở miền Nam, Phạm Thế Ngũ (1967) và Nguyễn Văn Xung (1972) ghi nhận sở trường miêu tả cảnh chiến trận và tâm lý của ông.
  • Giai đoạn 1965 - 1990 ở miền Bắc: Các công trình của Hồng Chương (1965), Nguyễn Đức Đàn (1968), Trần Văn Giáp (1972), Phan Cự Đệ (1975) có phần nhìn nhận chưa thỏa đáng khi xếp tác phẩm của ông vào khuynh hướng lãng mạn tiêu cực.
  • Giai đoạn từ sau 1990 đến nay: Nghiên cứu dần trở nên khách quan qua các bài viết của Ngọc Giao (1992), Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Viện Văn học (2002), Hoài Anh (2001), Vũ Đức Hoan (2011), Trần Mạnh Tiến (2011), Nguyễn Thị Tuyết Minh (2012). Một số luận văn Thạc sĩ bước đầu khảo sát tác giả: Nguyễn Thanh Trường (2001), Đỗ Ngọc Thúy (2004), Đỗ Thị Nhàn (2009), Trần Thị Huyền Trang (2013).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ rõ: Các công trình trước đây chỉ mới đề cập đến khoảng 1/3 tổng số tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai, mang tính chất nhận xét điểm xuyết, chưa khảo sát toàn diện cả hệ thống 20 - 26 tác phẩm. Chưa có công trình nào đánh giá quy mô về quan niệm nghệ thuật, sự biến chuyển bút pháp, thi pháp trần thuật và những cách tân thể loại của Lan Khai trong tương quan với tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Luận án này được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống đó.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận đa diện, cụ thể:

Về cơ sở lý thuyết:

  • Nền tảng triết học: Học thuyết duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam để phân tích mối liên hệ giữa hoàn cảnh xã hội Việt Nam thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến với nội dung tác phẩm.
  • Lý thuyết chuyên ngành: Lý thuyết thể loại tiểu thuyết lịch sử phương Tây hiện đại, kết hợp với các trường phái nghiên cứu: Trường phái văn hóa lịch sử, Phân tâm học, Chủ nghĩa siêu thực, Lý thuyết tự sự học (Narratology), Ký hiệu học (Semiotics), Nữ quyền luận (Feminism), Chủ nghĩa tân lịch sử (New Historicism) và Lý thuyết liên văn bản (Intertextuality).

Về phương pháp nghiên cứu: Luận án phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu văn học cụ thể:

Phương pháp nghiên cứu Nội dung vận dụng trong luận án
Phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng Đặt tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai vào hoàn cảnh sáng tác giai đoạn 1930 - 1945 và tiến trình văn học dân tộc để giải thích nguyên nhân, đặc điểm và kết quả sáng tạo.
Phương pháp hệ thống Tập hợp và liên kết 20 tác phẩm thành chỉnh thể để khảo sát sự vận động của quan niệm nghệ thuật và thi pháp thể loại.
Phương pháp so sánh Đối chiếu tác phẩm của Lan Khai với tiểu thuyết lịch sử trung đại, tiểu thuyết của các tác giả cùng thời (Nguyễn Tử Siêu, Phan Trần Chúc, Nguyễn Triệu Luật) và các sáng tác đương đại, nước ngoài.
Phương pháp phân loại Phân chia các kiểu dạng nhân vật, hệ thống sự kiện và các mô hình kết cấu nghệ thuật.
Phương pháp liên ngành Phân tích ranh giới và mối quan hệ tương hỗ giữa sử học và văn học trong việc tái hiện quá khứ văn hóa.
Phương pháp loại hình Nhận diện mô hình tổ chức nghệ thuật và chức năng thể loại của tiểu thuyết lịch sử Lan Khai trong cấu trúc thể tài văn xuôi.

Các thao tác bổ trợ: Thao tác phân tích thi pháp văn bản, tiếp cận văn hóa học, tiếp cận phê bình nữ quyền và nghiên cứu liên văn bản.

Nguồn tư liệu khảo sát trực tiếp gồm 20 tác phẩm tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai đã xuất bản; các truyện ngắn, ký lịch sử của ông; các bài tiểu luận phê bình của chính tác giả đăng trên báo chí đương thời như Tài hoa cái lụy ngàn đời (1934), Thiên chức của văn sĩ Việt Nam (1939), Tính cách Việt Nam trong văn chương (1939), Bàn qua về nghệ thuật, tự truyện Mực mài nước mắt, cùng các khảo cứu về Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này tập trung xác định hệ thống khái niệm và lược thuật lịch sử nghiên cứu thể loại tiểu thuyết lịch sử tại Việt Nam và trên thế giới, đồng thời phân tích diễn trình tiếp nhận tác phẩm Lan Khai.

Về khái niệm thể loại, luận án đối chiếu định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, 1992) và 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân, 1999), kết hợp ý kiến của các nhà văn Hoàng Quốc Hải, Thái Vũ, Nguyễn Xuân Khánh, Trường An. Tác giả luận án đề xuất cách hiểu: Tiểu thuyết lịch sử là sự kết hợp giữa đặc trưng của tiểu thuyết với sử liệu trên cơ sở lấy lịch sử làm đề tài và tôn trọng sự kiện, nhân vật lịch sử; hư cấu nghệ thuật đóng vai trò bù đắp khoảng trống sử học và tăng tính chân thực nghệ thuật.

Luận án phân tích sự khác nhau giữa tiểu thuyết lịch sử thời kỳ trung đại và hiện đại: Thời kỳ trung đại chủ yếu chịu ảnh hưởng từ mô hình tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa, phản ánh lịch sử theo nguyên tắc mô phỏng biên niên sử, mang tính chất "văn - sử - triết bất phân". Sang đầu thế kỷ XX, thể tài này chuyển dần sang hình thức hiện đại, giải phóng yếu tố hư cấu, đi sâu vào tâm lý cá nhân và đời sống thế sự.

Về tình hình nghiên cứu Lan Khai, chương 1 chỉ rõ sự phân hóa trong tiếp nhận qua các thời kỳ: Trước năm 1945, các nhà phê bình như Vũ Ngọc Phan, Trương Tửu bước đầu ghi nhận nỗ lực đổi mới hình thức của ông. Giai đoạn 1945 - 1990 ở miền Bắc tồn tại cái nhìn phiến diện do định kiến xã hội học dung tục, trong khi ở miền Nam ông được các học giả như Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Văn Xung đánh giá cao về văn phong. Từ sau năm 1990, tác giả được hoàn nguyên vị thế và nghiên cứu công bằng hơn. Từ đó, chương 1 khẳng định tính cấp thiết của việc nghiên cứu toàn diện 26 tác phẩm tiểu thuyết lịch sử của ông.

Chương 2: TỪ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT ĐẾN QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI

Chương 2 làm rõ nền tảng tư tưởng văn học và con đường sáng tác của tác giả.

Về quan niệm:

  • Quan niệm về nhà văn: Qua các bài viết Tài hoa cái lụy ngàn đời, Gửi một bạn trẻ muốn theo đuổi nghề viết văn, Thiên chức của văn sĩ Việt Nam, Lan Khai xác định nhà văn là người có trách nhiệm đối với vận mệnh văn hóa dân tộc. Nhà văn phải như "thứ cây có đủ hai tính chất âm dương", kết hợp trí tuệ nam nhi và trái tim phụ nữ, gánh vác sứ mệnh khai phá, chịu đựng thử thách và bảo tồn cốt cách dân tộc. Ông lên án lối viết lai căng, sao chép lý thuyết ngoại nhập và phê phán thái độ vụ lợi của một số cây bút đương thời.
  • Quan niệm về văn học: Lan Khai khẳng định tính dân tộc là giá trị nền tảng, gắn liền với ý thức độc lập văn hóa. Ông xác định văn học phải lấy con người làm đối tượng trung tâm: "Quan niệm nghệ thuật của nhà văn là quan niệm nghệ thuật về con người". Ông phê phán thứ văn chương thoát ly thực tế và lối viết sáo mòn lặp lại công thức cũ.
  • Quan niệm nghệ thuật về con người: Con người trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai không phải là những bức tượng đài ước lệ nguyên phiến mà là con người đời thường với đầy đủ ưu điểm và khiếm khuyết, chịu sự chi phối của tâm sinh lý và hoàn cảnh lịch sử.

Về quá trình sáng tác: Luận án phân tích sở trường sáng tác, hoàn cảnh xuất thân và diễn trình sáng tác của Lan Khai từ truyện ngắn, tiểu thuyết đường rừng đến tiểu thuyết lịch sử. Hoạt động dịch thuật và vốn sống điền dã phong phú tại vùng trung du miền núi phía Bắc đã cung cấp cho ông nguồn tư liệu phong phú. Luận án xác định vị trí của tiểu thuyết lịch sử Lan Khai trong tiến trình hiện đại hóa thể tài: Ông là người sớm thoát ly ảnh hưởng của tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa, đưa tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hòa nhập vào trào lưu tiểu thuyết tâm lý hiện đại.

Chương 3: TỪ HIỆN THỰC LỊCH SỬ ĐẾN BỨC TRANH NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI

Chương này khảo sát phương thức chuyển hóa tư liệu lịch sử thành thế giới hình tượng nghệ thuật qua ba bình diện:

Cảm hứng sáng tác:

  • Cảm hứng ca ngợi truyền thống yêu nước của dân tộc: Thể hiện qua các tác phẩm Cái hột mận, Gái thời loạn, Chàng đi theo nước, Rỡn sóng Bạch Đằng, làm nổi bật khí phách độc lập chống giặc ngoại xâm qua các triều đại.
  • Cảm hứng ca ngợi cái đẹp, cái thiện: Hướng về vẻ đẹp nhân cách, tình mẫu tử, đức hy sinh của con người trong hoàn cảnh loạn lạc.
  • Cảm hứng phê phán xã hội phong kiến và chiến tranh phi nghĩa: Lên án các cuộc xung đột phe phái tranh giành ngai vàng làm nhân dân lầm than.

Hệ thống sự kiện lịch sử: Luận án phân loại sự kiện lịch sử trong tác phẩm của Lan Khai thành 4 nhóm:

  1. Sự hoán đổi ngôi vị của các triều đại phong kiến (như chuyển giao Lý - Trần, Trần - Hồ, Lê - Mạc).
  2. Những cuộc nội chiến giữa các thế lực thống trị phong kiến (Trịnh - Nguyễn phân tranh, xung đột phe phái cung đình).
  3. Những cuộc nổi dậy của nhân dân và các tầng lớp cùng khổ chống ách áp bức.
  4. Những cuộc chiến đấu chống quân xâm lược và bè lũ tay sai qua các thời kỳ lịch sử.

Thế giới nhân vật: Được phân chia và phân tích qua 5 kiểu dạng nhân vật:

  1. Nhân vật vua chúa, quan lại và tướng lĩnh: Được soi chiếu cả ở góc độ trách nhiệm chính trị lẫn cuộc sống đời tư, tính cách đa chiều.
  2. Nhân vật người anh hùng: Không xuất hiện theo khuôn mẫu siêu nhiên mà mang phẩm chất dũng cảm gắn liền với những trăn trở, bi kịch số phận.
  3. Người phụ nữ trong xã hội phong kiến: Thường chịu nhiều thiệt thòi nhưng có đời sống nội tâm phong phú, có ý thức phản kháng bảo vệ phẩm giá.
  4. Nhân vật binh sĩ và dân chúng: Đám đông quần chúng chịu đựng mất mát của chiến tranh, giữ vai trò nền tảng trong các biến cố.
  5. Nhân vật kẻ thù xâm lược và bán nước: Bị vạch trần bản chất tàn bạo, tham lam và những mưu mô phản trắc.

Chương 4: CÁC PHƯƠNG THỨC VÀ BIỆN PHÁP BIỂU HIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI

Chương này phân tích các yếu tố thi pháp làm nên diện mạo hiện đại cho tác phẩm của Lan Khai:

Sự kết hợp giữa lịch sử và hư cấu: Tác giả dung hòa giữa nhân vật, sự kiện lịch sử có thật trong chính sử với các nhân vật, tình huống hư cấu. Hư cấu được sử dụng như một phương tiện làm sống động các khoảng trống mà sử liệu bỏ ngỏ, không nhằm xuyên tạc bản chất lịch sử.

Nghệ thuật kết cấu: Tác phẩm của Lan Khai cho thấy sự kết hợp giữa hai yếu tố:

  • Kế thừa kết cấu tiểu thuyết truyền thống: Vận dụng một phần trật tự thời gian tuyến tính và cốt truyện ly kỳ.
  • Vận dụng kết cấu tiểu thuyết hiện đại: Phá bỏ cấu trúc chương hồi, sử dụng kết cấu tâm lý, cốt truyện đa tuyến, đan cài giữa hiện tại và hồi ức.

Phương thức kiến tạo chân dung nhân vật:

  • Giới thiệu tiểu sử và miêu tả ngoại hình: Khắc họa diện mạo bên ngoài làm nổi bật tính cách cá nhân.
  • Khắc họa qua hành động và tâm lý: Chú trọng trạng thái tâm lý phức tạp, các xung đột nội tâm và hiện tượng vô thức.
  • Khắc họa qua đối thoại và độc thoại nội tâm: Sử dụng lời thoại đời thường, loại bỏ bớt ngôn ngữ ước lệ kinh viện.
  • Bút pháp miêu tả thiên nhiên: Cảnh sắc thiên nhiên vùng rừng núi trung du được miêu tả gắn liền với trạng thái cảm xúc của nhân vật.

Không gian và thời gian nghệ thuật:

  • Thời gian nghệ thuật: Đan xen giữa thời gian lịch sử khách quan với thời gian tâm lý chủ quan, có sự đảo trật tự thời gian.
  • Không gian nghệ thuật: Mở rộng từ không gian cung đình, chiến trận sang không gian đời tư, không gian thiên nhiên hoang sơ, tạo không khí lịch sử cụ thể.

Nghệ thuật trần thuật:

  • Người trần thuật và điểm nhìn trần thuật: Đa dạng hóa điểm nhìn, di chuyển điểm nhìn từ người kể chuyện toàn tri sang điểm nhìn bên trong của từng nhân vật.
  • Ngôn ngữ và giọng điệu: Giọng điệu trần thuật mang tính đa thanh, kết hợp giữa giọng ngợi ca sử thi với giọng thế sự đời tư, giọng điệu trữ tình và suy tư triết lý.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hiện thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong thể tài tiểu thuyết lịch sử. Công trình phân tích thực tiễn chuyển biến thi pháp từ mô hình văn xuôi chương hồi trung đại sang mô hình tiểu thuyết hiện đại ở Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, qua đó khẳng định nguyên tắc phản ánh lịch sử gắn với việc nhận thức con người cá nhân.

Về mặt thực tiễn, đây là công trình nghiên cứu quy mô và có hệ thống đầu tiên khảo sát trực tiếp 20 tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai trên cả bình diện nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện. Luận án xác định Lan Khai là tác giả có số lượng tiểu thuyết lịch sử lớn nhất trong văn học hiện đại Việt Nam (26 tác phẩm), có đóng góp lớn trong việc đổi mới kết cấu, xây dựng nhân vật tâm lý, tổ chức trần thuật và ngôn ngữ văn xuôi. Công trình phục hồi thỏa đáng vị trí lịch sử văn học của tác giả sau thời gian dài bị quên lãng hoặc đánh giá chưa toàn diện. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu phục vụ việc giảng dạy tích hợp liên môn Ngữ văn và Lịch sử trong nhà trường phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do điều kiện tư liệu và hoàn cảnh thất lạc di cảo sau năm 1945 của Lan Khai, luận án mới chỉ tiếp cận và khảo sát trực tiếp 20 trong tổng số 26 tiểu thuyết lịch sử của ông. Một số tác phẩm phải sử dụng bản in cũ từ trước năm 1945, chưa thể bao quát trọn vẹn toàn bộ các bản thảo còn lại.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án chỉ ra nhu cầu tiếp tục sưu tầm, khảo dị văn bản đối với 6 tiểu thuyết lịch sử chưa tiếp cận được cùng các di cảo khác của Lan Khai. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát so sánh văn bản học giữa các bản in trước 1945 và các bản tái bản sau 2000, cũng như áp dụng sâu hơn các lý thuyết tự sự học và thi pháp học hậu hiện đại để giải mã các tầng cấu trúc trong sáng tác của nhà văn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lí luận văn học và Văn học Việt Nam trong việc nghiên cứu tiến trình hiện đại hóa văn học giai đoạn 1930 - 1945.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử văn học quan tâm đến di sản văn xuôi của nhóm Tân Dân và phong trào cách tân tiểu thuyết đầu thế kỷ XX.
  • Giáo viên Ngữ văn và Lịch sử tại các trường trung học phổ thông trong việc thiết kế các chủ đề dạy học tích hợp liên môn.

Phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật là Chương 1 với hệ thống tư liệu tổng quan lý thuyết tiểu thuyết lịch sử thế giới và Việt Nam; cùng Chương 4 với các phân tích chi tiết về phương thức trần thuật, cấu trúc kết cấu và thi pháp nhân vật hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát trực tiếp bao nhiêu tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai và tổng số tác phẩm của ông ở thể tài này là bao nhiêu? Luận án khảo sát trực tiếp 20 tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu đã được xuất bản và tái bản từ trước năm 1945 đến nay. Tổng số tiểu thuyết lịch sử mà Lan Khai đã sáng tác được văn bản luận án xác nhận là 26 tác phẩm, đưa ông trở thành nhà văn có số lượng tiểu thuyết lịch sử lớn nhất trong các tác giả hiện đại Việt Nam.

2. Lan Khai quan niệm như thế nào về sự khác nhau giữa nhà làm sử và nhà viết tiểu thuyết lịch sử? Trong tác phẩm Ai lên phố Cát (1937), Lan Khai nêu rõ quan điểm: Nhà làm sử có nhiệm vụ sưu tầm nguyên sự thực và gác bỏ những điều huyền hoặc; ngược lại, nhà tiểu thuyết được quyền tự do biên chép và hư cấu thêm các chi tiết để tạo sự hấp dẫn cho câu chuyện mà không làm sai lệch không khí của thời đại.

3. Quan niệm nghệ thuật cốt lõi của Lan Khai về văn học được luận án chỉ ra là gì? Lan Khai quan niệm văn chương phải lấy con người làm nền tảng và khẳng định: "Quan niệm nghệ thuật của nhà văn là quan niệm nghệ thuật về con người". Ông cho rằng văn học chân chính phải diễn tả chân thực bản chất con người trước thời gian và vũ trụ, gắn bó với thực tế xã hội và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

4. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai được luận án phân loại thành những nhóm nào? Luận án phân loại thế giới nhân vật của Lan Khai thành 5 nhóm cụ thể:

  1. Nhân vật vua chúa, quan lại và tướng lĩnh.
  2. Nhân vật người anh hùng.
  3. Người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
  4. Nhân vật binh sĩ và dân chúng.
  5. Nhân vật kẻ thù xâm lược và bán nước.

5. Vì sao tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai từng có giai đoạn dài bị đánh giá chưa thỏa đáng ở miền Bắc? Từ sau năm 1945 đến trước năm 1990, do sự biến mất chưa rõ nguyên nhân của Lan Khai và tác động của phương pháp phê bình xã hội học dung tục, một số nhà nghiên cứu ở miền Bắc đã xếp tiểu thuyết lịch sử của ông vào khuynh hướng lãng mạn tiêu cực hoặc xem là văn chương thoát ly, khiến các tác phẩm không được tái bản và khảo sát đúng mức.

Kết luận

Luận án "Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai" của tác giả Đỗ Thị Nhàn là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về mảng sáng tác lịch sử của một tác giả có số lượng tác phẩm lớn nhất thể tài này trong văn học Việt Nam hiện đại. Bằng việc phối hợp các phương pháp nghiên cứu văn học sử và thi pháp học hiện đại, luận án đã làm sáng tỏ ý thức nghệ thuật và những đóng góp của Lan Khai trong việc chuyển đổi thể loại từ mô hình chương hồi truyền thống sang tiểu thuyết hiện đại. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị thế của nhà văn trong giai đoạn 1930 - 1945, bổ sung tư liệu cho nghiên cứu lý luận thể loại và đáp ứng yêu cầu giảng dạy tích hợp liên môn trong nhà trường.