Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm phim truyền hình (Trường hợp truyện thơ Lục Vân Tiên của tác giả Nguyễn Đình Chiểu)" do sinh viên Nguyễn Thị Hồng Ngân (Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện năm 2023 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thu Yến. Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, định vị trong phân môn lý luận văn học và nghiên cứu liên ngành văn học – truyền hình.

Về bối cảnh thực tiễn, Lục Vân Tiên là kiệt tác truyện thơ Nôm tiêu biểu cho văn hóa và cốt cách con người Nam Bộ thế kỷ XIX. Tác phẩm có sức sống lâu bền, đi sâu vào sinh hoạt văn hóa dân gian qua các hình thức nói thơ, kể thơ, hát hò, đối đáp, hát giặm và sân khấu cải lương. Năm 2004, Hãng phim truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (TFS) chuyển thể tác phẩm thành phim truyền hình 14 tập phát sóng trên kênh HTV7. Mặc dù các công trình nghiên cứu về chuyển thể từ văn học sang điện ảnh đã xuất hiện tương đối phong phú, mảng đề tài chuyển thể từ tác phẩm văn học trung đại sang phim truyền hình nhiều tập vẫn còn là khoảng trống học thuật chưa được khảo sát chuyên sâu.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về cải biên, lý thuyết tiếp nhận văn học và lý thuyết liên văn bản để làm khung tham chiếu cho việc nghiên cứu chuyển thể từ văn học sang phim truyền hình.
  2. Khảo sát, so sánh và đối chiếu sự tương đồng, khác biệt giữa truyện thơ Lục Vân Tiên và phim truyền hình Lục Vân Tiên trên hai bình diện tư tưởng và đề tài.
  3. Phân tích các phương diện nghệ thuật trong quá trình chuyển dịch loại hình từ văn bản thơ Nôm sang ngôn ngữ nghe – nhìn của phim truyền hình (nhân vật, không gian – thời gian, ngôn ngữ, trang phục, âm thanh, ánh sáng, kỹ thuật dựng phim).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tiến trình cải biên từ nguyên tác truyện thơ Lục Vân Tiên sang tác phẩm phim truyền hình Lục Vân Tiên.
  • Phạm vi tư liệu văn học: Bản phiên âm, khảo đính và chú thích trong công trình Truyện Lục Vân Tiên (2001) do Hà Huy Giáp giới thiệu, Nguyễn Thạch Giang khảo đính (từ trang 129 đến trang 206), dung lượng 2.082 câu thơ lục bát.
  • Phạm vi tư liệu truyền hình: Bộ phim truyền hình Lục Vân Tiên (2004) gồm 14 tập (thời lượng trung bình 60 phút/tập) do Đỗ Phú Hải, Lê Bảo Trung và NSƯT Nguyễn Phương Điền đồng đạo diễn, Hãng phim TFS sản xuất.
  • Phạm vi lý thuyết: Công trình nền tảng A Theory of Adaptation (2011) của Linda Hutcheon cùng các nghiên cứu chuyển thể, liên văn bản và tiếp nhận văn học trong và ngoài nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống lý thuyết văn học và điện ảnh hiện đại nhằm giải quyết mối quan hệ giữa văn bản nguồn và văn bản chuyển thể:

  • Lý thuyết cải biên (Adaptation Theory): Dựa trên quan niệm của Walter Benjamin (The Task of the Translator), Thomas Leitch (A Companion to Literature, Film, and Adaptation với luận điểm "chuyển thể là bản dịch" và khẳng định tính độc lập của tác phẩm chuyển thể), Timothy Corrigan (Film and Literature), và công trình then chốt A Theory of Adaptation của Linda Hutcheon. Hutcheon xem chuyển thể vừa là quá trình (process) vừa là sản phẩm (product), mang bản chất "văn bản phức tấu" (palimpsest). Tác giả cũng tiếp thu các công trình nghiên cứu chuyển thể tại Việt Nam của Đỗ Thị Ngọc Điệp (2010), Phan Bích Thủy (2012), Đào Lê Na (2015), Trần Thị Dung (2016) và Bùi Trần Quỳnh Ngọc (2017), từ đó khu biệt hai mức độ cải biên: chuyển thể trung thành và chuyển thể tự do.
  • Lý thuyết tiếp nhận văn học (Reception Theory): Kế thừa quan điểm từ Platon, Aristote (khái niệm catharsis) đến Hans Robert Jauss với khái niệm "tầm đón đợi" (horizon of expectations) và cấu trúc tam giác "tác giả – tác phẩm – người đọc", khẳng định vai trò đồng sáng tạo của công chúng tiếp nhận trong việc duy trì đời sống văn bản.
  • Lý thuyết liên văn bản (Intertextuality): Tiếp thu luận điểm về tính phức điệu và đối thoại của Mikhail Bakhtin (Những vấn đề thi pháp Dostoievski), thuật ngữ "tính liên văn bản" của Julia Kristeva (1966), luận đề "Cái chết của tác giả" của Roland Barthes và quan niệm "không có cái bên ngoài văn bản" của Jacques Derrida, xem văn bản chuyển thể là sự đối thoại liên tục giữa các hệ thống ký hiệu và văn cảnh văn hóa.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp:

  1. Phương pháp tiểu sử: Liên hệ cuộc đời, biến cố mù lòa và hành trình sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu với cảm hứng sáng tạo tác phẩm.
  2. Phương pháp lịch sử – xã hội: Đặt tác phẩm vào bối cảnh lịch sử Nam Bộ thế kỷ XIX và bối cảnh sản xuất phim truyền hình Việt Nam đầu những năm 2000.
  3. Phương pháp hệ thống kết hợp so sánh, đối chiếu: Đối sánh từng tuyến nhân vật, mạch tự sự, cấu trúc không – thời gian giữa hai phiên bản.
  4. Phương pháp phân tích – tổng hợp: Thống kê tần suất từ ngữ, phân tích các chi tiết kịch bản, lời thoại và tổng hợp thành các quy luật chuyển thể.
  5. Phương pháp liên ngành: Kết hợp thi pháp học văn học trung đại với kỹ thuật truyền hình (quay phim, biên tập, âm thanh, ánh sáng).

Nguồn dữ liệu bao gồm: văn bản Truyện Lục Vân Tiên (ấn bản khảo đính của Nguyễn Thạch Giang, 2001); bản ghi hình 14 tập phim Lục Vân Tiên (TFS, 2004); các tư liệu lịch sử tiếp nhận của Đoàn Lê Giang, Lê Văn Hy, Cao Tự Thanh, Huỳnh Ngọc Trang; cùng các công trình lý luận phê bình của Viện Văn học và các tạp chí chuyên ngành.


Nội dung chính theo từng chương

Chương Tên chương trong văn bản Nội dung trọng tâm và phạm vi khảo sát Dữ liệu và phát hiện chính
Chương 1 Những vấn đề giới thuyết Khái quát lý thuyết cải biên, tiếp nhận, liên văn bản; lịch sử tác giả, tác phẩm và tiếp nhận hai phiên bản. Khảo sát 2.082 câu thơ lục bát; tiến trình sản xuất phim 14 tập (2002–2004); các hình thức diễn xướng dân gian (Thơ Bùi Kiệm dặm 1928, Thơ Vân Tiên cờ bạc 1932, Thơ Vân Tiên ghiền 1929).
Chương 2 Truyện thơ Lục Vân Tiên và phim truyền hình Lục Vân Tiên trong hành trình cải biên nhìn từ phương diện nội dung Khảo sát sự chuyển dịch và tái cấu trúc về mặt tư tưởng (Nhân nghĩa, Phật giáo, Đạo giáo) và đề tài (quan hệ con người, hiện thực, tự truyện). Thống kê tần suất: chữ "nhân/nhơn" (12 lần), chữ "nghĩa/ngãi" (20 lần); chỉ ra sự gia tăng xung đột hiện thực và làm rõ tính chất thế tục hóa trong phim truyền hình.
Chương 3 Tương quan giữa truyện thơ Lục Vân Tiên và phim truyền hình Lục Vân Tiên nhìn từ phương diện nghệ thuật Đối sánh thi pháp văn học trung đại với ngôn ngữ nghe – nhìn: nhân vật, không – thời gian, ngôn ngữ, trang phục, âm thanh, ánh sáng, dựng phim. Phân tích cơ chế bổ sung chi tiết hành động, cụ thể hóa bối cảnh Nam Bộ, biến đổi độc thoại nội tâm và lời dẫn tự sự thành ngôn ngữ điện ảnh đa chiều.

Chương 1. Những vấn đề giới thuyết

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận và khảo lược lịch sử vấn đề. Tác giả tổng hợp các khái niệm chuyển thể, phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa văn học và truyền hình. Về tác giả, khóa luận khẳng định lập trường "nghệ thuật vị nhân sinh" và cương lĩnh sáng tác "chở đạo", "đâm gian" của Nguyễn Đình Chiểu.

Về văn bản truyện thơ Lục Vân Tiên (gồm 2.082 câu thơ lục bát), tác giả dẫn cấu trúc 3 phần theo phân chia của Nguyễn Thạch Giang:

  • Phần 1 (câu 1 – 286): Lục Vân Tiên đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga.
  • Phần 2 (câu 287 – 1664): Tai biến xảy ra với Lục Vân Tiên (câu 287 – 1264) và biến cố xảy ra với Kiều Nguyệt Nga (câu 1265 – 1664).
  • Phần 3 (câu 1665 – 2082): Vân Tiên sáng mắt, đỗ Trạng nguyên, đánh tan giặc Ô Qua và đoàn viên.

Về phim truyền hình Lục Vân Tiên (2004), tác phẩm nêu rõ quá trình sản xuất kéo dài từ năm 2002 đến 2004 do các sự cố kỹ thuật và thay đổi diễn viên (Hồng Ánh nhận vai Kiều Nguyệt Nga thay cho Hà Kiều Anh). Phim quy tụ dàn diễn viên: Chi Bảo (Lục Vân Tiên), Trương Ngọc Anh (Võ Thể Loan), Cao Minh Đạt (Trịnh Hâm), Phước Sang (Bùi Kiệm), Quyền Linh (Hớn Minh). Chương này cũng ghi nhận sự tiếp nhận phong phú của truyện thơ qua các xuất bản phẩm phái sinh lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp như Thơ Bùi Kiệm dặm (Nguyễn Văn Tròn, 1928), Thơ Vân Tiên cờ bạc (Nguyễn Văn Khỏe, 1932), Thơ Vân Tiên ghiền (1929), cùng nhận định của học giả người Pháp Gabriel Aubaret về mức độ phổ biến của tác phẩm trong quần chúng lao động Nam Kỳ.

Chương 2. Truyện thơ Lục Vân Tiên và phim truyền hình Lục Vân Tiên trong hành trình cải biên nhìn từ phương diện nội dung

Chương 2 đi sâu phân tích hai trục nội dung cốt lõi:

1. Phương diện tư tưởng:

  • Tư tưởng nhân nghĩa (ảnh hưởng Nho giáo): Khóa luận đối chiếu quan niệm nhân nghĩa của Khổng Tử (nhân gắn với lễ và chính danh), Mạnh Tử (nhân gắn với hiếu đễ, nghĩa gắn với phận sự tôi trung) và Nguyễn Trãi (nhân nghĩa gắn với yên dân và trừ bạo) với tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu. Trong Lục Vân Tiên, tư tưởng nhân nghĩa được bình dân hóa, mang đậm phong vị Nam Bộ. Khảo sát văn bản cho thấy chữ "nhân/nhơn" xuất hiện 12 lần (trong đó 3 lần qua lời Ngư ông), trong khi chữ "nghĩa/ngãi" xuất hiện tới 20 lần (4 lần qua lời Lục Vân Tiên, 4 lần qua lời Kiều Nguyệt Nga). Khi chuyển thể sang phim truyền hình, tinh thần nghĩa hiệp của Lục Vân Tiên, Hớn Minh, Vương Tử Trực và bộ ba Quán – Ngư – Tiều được trực quan hóa qua hành động, làm nổi bật lối sống trọng nghĩa khinh tài và tinh thần xả thân vì cộng đồng.
  • Tư tưởng Phật giáo và Đạo giáo: Phân tích quan niệm nhân quả "thiện ác đáo đầu" và các yếu tố linh dị (Phật Bà Quan Âm cứu mạng Nguyệt Nga, Lão Tiều dẫn đường Vân Tiên), cho thấy bản phim truyền hình có xu hướng giải ảo, gia tăng tính hợp lý tâm lý và hiện thực đời thường.

2. Phương diện đề tài: Khóa luận khảo sát đề tài quan hệ giữa con người (tình nghĩa thầy trò, bè bạn, phu thê), đề tài hiện thực xã hội (sự suy thoái đạo đức phong kiến, thói bội ước, lừa lọc của nhóm nhân vật phản diện như Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Võ Thái Loan) và đề tài tự truyện (những chi tiết phản chiếu cuộc đời cụ Đồ Chiểu như việc bỏ thi về chịu tang mẹ, bị mù lòa, bị bội hôn).

Chương 3. Tương quan giữa truyện thơ Lục Vân Tiên và phim truyền hình Lục Vân Tiên nhìn từ phương diện nghệ thuật

Chương 3 khảo sát sự chuyển dịch hệ thống phương tiện biểu đạt:

  • Xây dựng hệ thống nhân vật: Đối lập rõ nét giữa tuyến chính diện (Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực) và phản diện (Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Thái Loan). Bản phim truyền hình phát triển thêm các tuyến nhân vật phụ, đào sâu động cơ tâm lý và tạo thêm đất diễn cho các nhân vật phản diện nhằm tăng xung đột kịch tính.
  • Không gian và thời gian nghệ thuật: Chuyển đổi từ không gian ước lệ, phiêu lưu của truyện Nôm trung đại sang không gian hiện thực cụ thể mang đặc trưng sông nước, làng quê Nam Bộ; thời gian tuyến tính của truyện thơ được xử lý đan xen bằng kỹ thuật dựng cảnh, hồi tưởng trong phim.
  • Hệ thống ngôn ngữ, trang phục, âm thanh và kỹ thuật dựng phim: Lược bỏ tính chất văn vần biền ngẫu để chuyển thành ngôn ngữ thoại đời thường, giữ lại các từ ngữ địa phương Nam Bộ; âm nhạc truyền thống kết hợp với nhạc cảnh hiện đại; trang phục được thiết kế nhằm tái hiện không khí lịch sử dù còn chịu nhiều giới hạn kỹ thuật của thời kỳ sản xuất.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể sau:

  1. Tổng hợp dữ liệu định lượng và cấu trúc: Xác lập cấu trúc văn bản 2.082 câu thơ Nôm của nguyên tác qua 3 phần chính; thống kê tần suất xuất hiện của các phạm trù đạo đức then chốt (12 lần chữ "nhân/nhơn", 20 lần chữ "nghĩa/ngãi"), chứng minh sự chuyển dịch trọng tâm từ Nho giáo kinh viện sang đạo nghĩa bình dân Nam Bộ.
  2. Khảo sát tiến trình chuyển thể văn học – truyền hình: Ghi nhận đầy đủ thông số sản xuất của bản phim năm 2004 (14 tập, thời lượng 60 phút/tập, quá trình bấm máy 3 năm từ 2002 đến 2004) và phân tích các trường hợp biến đổi kịch bản giữa văn bản gốc và phim truyền hình.
  3. Đóng góp học thuật: Khóa luận là công trình chuyên biệt đầu tiên tiếp cận toàn diện mối quan hệ cải biên giữa truyện thơ Lục Vân Tiên và bản phim truyền hình năm 2004 dưới góc độ lý thuyết chuyển thể và liên văn bản; cung cấp tư liệu tham khảo có hệ thống về sự tiếp nhận tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu trong văn hóa nghe – nhìn hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát một phiên bản phim truyền hình duy nhất sản xuất năm 2004; các phân tích về kỹ thuật điện ảnh (góc máy, ánh sáng, xử lý hậu kỳ) chủ yếu dựa trên bản phim phát sóng và tư liệu báo chí, thiếu sự tiếp cận trực tiếp với kịch bản phân cảnh gốc của đoàn làm phim.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các loại hình cải biên nghệ thuật khác của Lục Vân Tiên như sân khấu cải lương, tuồng, kịch nói hoặc các ấn phẩm truyện tranh; nghiên cứu so sánh liên văn hóa giữa các tác phẩm chuyển thể truyện thơ trung đại Việt Nam trên màn ảnh nhỏ.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn hóa học trong việc nghiên cứu thi pháp truyện thơ Nôm và tiến trình tiếp nhận văn học Nguyễn Đình Chiểu.
  • Người nghiên cứu chuyên ngành Biên kịch, Đạo diễn, Lý luận phê bình Điện ảnh – Truyền hình trong việc tham khảo mô hình phân tích chuyển thể kịch bản từ tác phẩm văn học cổ điển sang phim truyền hình.
  • Các phần đáng tham khảo nhất gồm: Khung lý thuyết cải biên và liên văn bản ở Chương 1; bảng thống kê từ ngữ tư tưởng đạo nghĩa ở Chương 2; và các phân tích đối sánh thi pháp nhân vật, không – thời gian nghệ thuật ở Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng ấn bản văn bản truyện thơ Lục Vân Tiên nào để làm cơ sở nghiên cứu?
Tác giả sử dụng văn bản trong quyển Truyện Lục Vân Tiên do Hà Huy Giáp giới thiệu, Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2001 (từ trang 129 đến trang 206), dung lượng gồm 2.082 câu thơ lục bát.

2. Bản phim truyền hình Lục Vân Tiên được khảo sát có quy mô và thông số sản xuất như thế nào?
Bộ phim do Hãng phim truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (TFS) sản xuất, gồm 14 tập (trung bình 60 phút/tập), do Đỗ Phú Hải, Lê Bảo Trung và NSƯT Nguyễn Phương Điền đồng đạo diễn. Phim bấm máy năm 2002, hoàn thành và phát sóng trên HTV7 từ ngày 05/09/2004 trong chương trình Tạp chí văn nghệ.

3. Khảo sát từ ngữ trong khóa luận chỉ ra tần suất xuất hiện của chữ "nhân" và chữ "nghĩa" trong truyện thơ như thế nào?
Khóa luận thống kê chữ "nhân" (hoặc "nhơn") xuất hiện 12 lần (trong đó có 3 lần qua lời Ngư ông), còn chữ "nghĩa" (hoặc "ngãi") xuất hiện 20 lần (trong đó có 4 lần trong lời thoại của Lục Vân Tiên và 4 lần trong lời thoại của Kiều Nguyệt Nga).

4. Tác giả vận dụng lý thuyết chuyển thể của học giả nào làm khung lý thuyết nền tảng?
Khung lý thuyết nền tảng được tác giả sử dụng là công trình A Theory of Adaptation (2011) của nhà nghiên cứu người Canada Linda Hutcheon (bản dịch của Hoàng Cẩm Giang, Phạm Minh Điệp; Trần Nho Thìn hiệu đính), kết hợp các quan niệm của Thomas Leitch, Walter Benjamin và Đào Lê Na.

5. Khóa luận ghi nhận những tư liệu diễn xướng dân gian phái sinh nào của Lục Vân Tiên đang được lưu trữ?
Tác giả dẫn chứng các tài liệu do nhà nghiên cứu Đoàn Lê Giang sưu tầm, bao gồm: Thơ Bùi Kiệm dặm của Nguyễn Văn Tròn (in năm 1928 tại Nhà in Bảo Tồn, hiện lưu tại Thư viện Quốc gia Pháp), Thơ Vân Tiên cờ bạc (Nhà in Xưa Nay, 1932) và Thơ Vân Tiên ghiền (Nhà in Xưa Nay, 1929).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Hồng Ngân đã hệ thống hóa và vận dụng hiệu quả các lý thuyết cải biên, tiếp nhận văn học và liên văn bản vào việc đối sánh truyện thơ Lục Vân Tiên với phiên bản phim truyền hình năm 2004. Công trình làm rõ sự chuyển dịch từ thi pháp truyện thơ Nôm trung đại sang ngôn ngữ điện ảnh truyền hình trên cả hai bình diện tư tưởng – đề tài và hình thức nghệ thuật. Đây là nghiên cứu chuyên sâu, đóng góp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho việc tìm hiểu sức sống liên văn hóa của tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu trong bối cảnh truyền thông hiện đại.