CHƯƠNG 1. NHUNG VAN DE GIỚI THUYET 1. Khái quát về cải biên và một số lý thuyết liên quan có khả năng vận dụng trong nghiên cứu cải biên 1. Quan niệm về cải biên và lý thuyết cdi biên Theo dòng cháy của vẫn đề nghiên cứu, thuật ngữ “cai biên” (còn được sử dụng với cách gọi khác là “chuyén thé”) đã trở thành một khái niệm then chốt trong quá trình nghiên cứu môi quan hệ giữa văn học với điện anh, sân khẩu (kịch, cải luong),.
Trong Từ điển tiếng Việt (2003) của Viện Ngôn ngữ học biên soạn, Hoàng Phê chủ biên, “cai biên” được định nghĩa như sau: “Suwa đổi hoặc biên soạn lại (thưởng nói về von nghệ thuật cũ) cho hợp với yêu câu mới. Trong khi đó, tại Việt Nam, cũng định nghĩa ve cải biên, tác giá Đào Lê Na ở công trình nghiên cứu Lý thuyết cải biên học: Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh ~ Trường hợp Kurosawa Akira đã xuất phát từ khái niệm gốc “Adaptation” của Từ điển Oxford là “hanh dong ứng dung một cai gì đó toi cái khác hoặc hành động gom hai cái lại với nhau đề đem lại sự thay đổi trong bản chất của dai tượn 2g. Như thế, với cách định nghĩa nảy, cải biên được xem xét ở khía cạnh thay đôi ở loại hình cũ lẫn thích nghỉ trong một loại hình mới. Nhìn nhận một cách tông quát hơn.
công trình này chi ra được hành trình chuyên đổi ở phương diện hình thức và nội dung để từ một tac phẩm văn học trở thành một tác pham điện ảnh, từ ngôn ngữ, cách thức dan xen, cài cắm các hình thức nghệ thuật chuyền thành tiếng nói. bối cảnh, góc quay, chuyên cảnh trên màn ảnh rộng. Dong thời, nhà nghiên cứu nay cũng khai thác thuật ngữ “cai biên" hàm chứa cả tính chủ động của người (tác gia) cải biên với sự tự do khi họ thường ding chất liệu có trước từ tác phầm văn học đề xây đựng thành tác phẩm của riêng mình mà không can thông qua tác pham nguồn. Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Bùi Trần Quỳnh Ngọc trong bài viết Chuyển thể và liên văn bản (Trường hợp tác phẩm Long Thanh cam giả ca) cùng có sự đào sâu nhất định đối với khái niệm tương tự cải biên là "chuyên thé”.
Trong đó, khi luận giải về thuật ngữ này, tác giả trình bày như sau: “Chuyển thể (Adaptation) là một thuật ngữ 16 được sứ dụng rộng rãi hiện nay khi bàn về các tác phẩm điện ảnh được sáng tạo trên nên tác phẩm văn học. Tác phẩm chuyển thé từng có lúc, cỏ nơi bị coi là “thứ yeu”, “phái sinh”, “bội tin”, “tam gửi” của tác phẩm góc, còn tác phẩm gốc thì được ví như “con moi”, “nạn nhân "của tác phẩm chuyển thé. Hơn thé nữa, tác giả cũng khu biệt rõ hai cách hiểu của thuật ngữ này: Thứ nhất là “coi tac phẩm chuyển thể như một sản phẩm phụ thuộc vào tác phẩm gốc, là sự sao chép lại tác phẩm gốc bằng một hình thức nghệ thuật khác” [42. Với cách hiểu này, ta thấy rõ những quan niệm của các nhà phê bình trong nghiên cứu chuyền thé thời kì đầu ở chỗ họ đều nhìn nhận các tác phâm chuyên thê là “thi yếu”, “phải sinh”, “sau muộn, thú vị nhưng đơn giản, hoặc hạ cấp về vấn hoa” (6, 9].
Thậm chí, có lúc việc chuyên thé cùng các san phẩm của nó vừa ra đời còn bị đánh giá bằng những từ ngữ rất quyết liệt và day thô bạo, chăng hạn như: “gid mao”, “bội tín”, “bang bổ” khi nói về tác phâm điện anh chuyên thé lay chất liệu từ tác phẩm văn học — cái mà người ta vẫn gọi là “nạn nhân”, “con mỗi” của “loài ký: sinh” mang tên điện anh chuyên thé [6, 9]. Thứ hai là “coi tac phẩm chuyển thé độc lập (tương đổi) với tác phẩm văn học do chuyển thể liên quan đến tái diễn giải, tái sáng tao” (42, 7 — §]. Ở day, người tà sẽ nhắc tới các cụm “quy trình kép”, “cái nhìn kép”, “ban chất kép” và quan sát hành trình chuyền thé giữa hai dạng thức văn học và điện anh ở cả khâu sáng tạo và giải mã những nét mới mẻ. Theo đó, đù nó sử dụng chất liệu từ tác phẩm văn học, song nó cũng có những nét riêng.
nét sáng tạo ghi lại dau an của mình, Dé diễn giải cho tường tận van dé này, Linda Hutcheon trong công trình của minh đã dành han một mục trình bày rat tỉ mi, dựa theo cách mượn thuật ngữ “palimxet” của nha thơ, học giả người Scotland Michael Alexander (Ermarth 2001: 47) [6, 12] với tên gọi chính xác và day du: Xem xét tác phẩm chuyển thể với tư cách là tác phẩm chuyền thể. Ngoài ra, theo Phan Bích Thủy trong luận án Ti tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh — Khao sát việc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện điện ảnh trong lịch sử văn học và điện ảnh Việt Nam, điện ảnh nước ta vẫn sử dung cách lí giải cũng như nhìn nhận thuật ngữ này với hai mức độ: chuyển thể trung thành với nguyên tác và chuyển thể tự do. Mức độ thứ nhất, chuyền thé tác phẩm điện ảnh trung thành với nguyên tác văn học được biết đến với cách gọi là “dựa theo” khi “nha Điển 17 kịch bám sát đường dây câu chuyện, tôn trọng cầu trúc thậm chí cá hình thức của tác phẩm văn học gốc” [70, 190]. tác phẩm cải biên sẽ mang dáng dap hoàn toàn giông và trở thành phim minh họa cho tác phẩm văn học.
Mức độ thứ hai, chuyên thé văn học sang điện ảnh nhưng nhà làm phim có sự chắt lọc các yếu tố, chỉ tiết phù hợp với dụng ý nghệ thuật của mình khi xây dựng tác phẩm chuyền thé. Sự thay đôi ấy có thể là thêm thắt hoặc lược bỏ các mạch dẫn trong cấu trúc của tác phẩm nguồn, bộc lộ sự tự do trong việc tái sáng tạo, tiếp cận tác phâm văn học và kiến giải, hiện thực hóa cách hiểu về nội dung lẫn hình thức ấy thông qua quy trình dựng phim. Cùng với các cách định nghĩa, li giải về khái niệm trên, nhà nghiên cứu Linda Hutcheon trong công trình A Theory of Adaptation (Lý thuyết về chuyển thé) đã đè cập như sau: “Chuyển thể” có nghĩa gốc là thích nghỉ, thay đối, làm cho phù hợp. Với cách lí giải này, chuyên thê cũng được thừa nhận sự xuất hiện việc cải biến những bối cảnh, nội dung và hình thức từ nguyên bản đẻ dạng thức của sản phẩm chuyền thé đáp ứng tối ưu ý đồ sáng tạo của người thực hiện.
Không dừng lại ở đó. việc chuyền thê cũng được xem xét như một quá trình tương tự phiên dịch khi có khâu tiếp nhận và mã hóa, ở đây chính là tiếp nhận và tái điển giải, tái sáng tạo dé biến những điều quen thuộc từ tác pham văn học thành một dang thức mới mẻ. Từ đó, người tiếp cận tác phẩm ở cả loại hình văn học lẫn điện ảnh sẽ tiếp tục đi từ cảm nhận, góc nhìn và quan diém tiếp nhận cá nhân dé kiến giải, trao đôi và đồng sáng tạo nên tác phẩm ấy cùng với người viết lẫn nhà làm phim. Tựu trung, trên diễn đàn nghiên cứu.
phê bình tôn tại rat nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh khái niệm “cai biên” (hay “chuyền thê”). Dau vậy, theo hành trình phát triển va dao sâu khai thác về phạm trù này, cần thay rằng chúng đều giao nhau ở một số đặc điểm, cách thức. Do đó, chúng tôi sẽ khái quát thành một số vấn đề chính như sau: Xét về khái niệm trên, “cải biên” (hay “chuyên thể") đều là một quá trình bien đổi một tác phim nghệ thuật của loại hình này (tác phâm “nguồn” hay “nguyên ban”) có thê là văn học hoặc bộ môn nghệ thuật bất kì sang một loại hình nghệ thuật khác như: phim điện anh, phim truyền hình, sân khấu (kịch, cai lương). dé tao cho chúng một hình hài mới hap dẫn, thu hút hơn, phù hợp với yêu cầu, chủ đích của người thực hiện (có thé là người biên soạn, nhà làm phim, đạo diễn).
18 Xét về cách thức cải biên (hay chuyển thể), nhìn chung có hai phương thức cơ bản: Mét la, cải biên (hay chuyển thể) trung thành với nguyên tác (tác phẩm nguồn). trong đó tác phẩm cải biên sẽ tuân thủ việc bám sát vào nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm ban đầu, tôn trọng cấu trúc và có sự minh họa lại ở một hình thái khác. Hai là, cải biên (hay chuyền thể) tự do, trong đó tác phẩm cai biên sẽ được tái dién giải. tái cau trúc, tái sáng tao cho phù hợp chủ ý nghệ thuật của người thực hiện, có thé chon lọc dé thêm hoặc bớt chi tiết nhằm tạo nên diện mạo mới có tính độc lập tương đối so với nguyền tác.
Đặc biệt, quá trình sáng tạo cái mới cũng không vượt quá những khuôn khô, quá khác xa sẽ khiến dé rơi vào việc xuyên tạc, tạo nên sai khác, cách biệt to lớn với nguyên bản mà cần hết sức lưu ý chuyển đôi, khai thác, xây dựng một cách hợp lý, có tính liên kết, gợi sự liên hệ sâu sắc, thú vị giữa hai dạng thức cũ và mới. Cùng sự tông hợp van dé nêu trên. quả thực với những nghiên cứu về sau, sự khai mở trong cách nhìn nhận vẻ khái niệm lẫn phương thức cải biên (hay chuyền thé) đã dan thông nhất, công nhận được tính chất thực thu của nó. Dau sao, việc nghiên cứu về dạng thức này trong thẻ đối sánh với nguyên ban vẫn luôn là mảnh đất day mới lạ, thu hút những bước chân nghiên cứu đào sâu chỉnh phục bằng sự cảm thụ, lí giải và trao đôi lẫn nhau trên các diễn đàn phê bình, nghiên cứu học thuật.
Lý thuyết tiếp nhận tác phẩm văn học Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán. Tran Dinh Sử, Nguyễn Khắc Phi, “Tiếp nhận văn học là hoạt động chiếm lĩnh các giá tri tư tưởng, thẩm my của tác phẩm văn học, bắt dau từ sự cảm thu văn bản n gon từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, dn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể,. Xuất phat từ ý niệm về tiếp nhận văn học này, có thẻ thay khi một tác phẩm được viết ra, nếu nó không được đọc, không được đón nhận, phê bình sẽ không thé nào ghi danh mình trong lịch sử văn học mà sẽ chỉ là sự bàn luận về những văn bản. Vì lẽ đó, lý thuyết hướng về tiếp nhận văn học đã nêu cao vai trò quan trọng mang tính quyết định của nó đôi với tác phẩm văn học.