mở đầu cho các bước tiếp theo trong quá trình nghiên cứu, phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam. Tuy nhiên, các khái niệm du lịch sinh thái được đưa ra cho đến nay cũng chưa có sự thống nhất. Theo Phạm Trung Lương và cộng sự (Nxb Giáo dục, 2002): du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương, có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn. Theo Điều 3, Luật Du lịch Việt Nam 2017: "Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường".
Đặc điểm của du lịch sinh thái Những đặc điểm cơ bản nhất của du lịch sinh thái cũng đã được Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) tóm tắt như sau: - Du lịch sinh thái bao gồm những hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà ở đó mục đích chính của du khách là tham quan tìm hiểu về tự nhiên cũng như những giá trị văn hoá truyền thống ở các vùng thiên nhiên đó. - Du lịch sinh thái bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Du lịch sinh thái hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi trường tự nhiên và văn hoá – xã hội. - Du lịch sinh thái có hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn tự nhiên bằng cách: + Tạo ra những lợi ích về kinh tế cho địa phương, các tổ chức chủ thể quản lý, với mục đích bảo tồn các khu tự nhiên đó.
+ Tạo ra cơ hội về việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương. + Tăng cường nhận thức của du khách và người dân địa phương về sự cần thiết phải bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hoá. Mô hình du lịch sinh thái (Nguồn: Hội thảo về nghiên cứu phát triển DLST với phát triển bền vững ở Việt Nam) d. Vai trò của du lịch sinh thái Phát triển DLST sẽ mang lại lợi ích về mặt kinh tế, xã hội, thẩm mĩ và sinh thái, cụ thể: - Lợi ích kinh tế: + Với việc tổ chức du lịch sinh thái, các khu thiên nhiên, đặc biệt các khu bảo tồn thiên nhiên sẽ được đưa vào phục vụ du lịch, giúp tăng thêm nguồn tài nguyên thiên nhiên cho ngành du lịch, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch.
Du lịch sinh thái phát triển góp phần tạo công ăn việc làm, thu nhập thêm cho các cộng đồng trong 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và quanh khu vực tổ chức hoạt động du lịch sinh thái, góp phần cải thiện tình hình kinh tế địa phương, xóa đói giảm nghèo ở những vùng xa xôi hẻo lánh. + Góp phần cải thiện và nâng cao cơ sở hạ tầng của các khu du lịch sinh thái, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của cộng đồng địa phương, cùng với việc giáo dục môi trường giúp cộng đồng địa phương có kế hoạch phát triển nguồn tài nguyên mà không bị xuống cấp trong quá trình khai thác và sử dụng. Du lịch sinh thái cũng góp phần khôi phục và phát triển những ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, thúc đẩy các ngành nghề khác cùng phát triển và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì vậy du lịch sinh thái mang lại lợi ích cho kinh tế rất lớn đóng góp vào sự phát triển kinh tế quốc gia, địa phương, đơn vị kinh doanh du lịch - Lợi ích xã hội:Cùng với sự phát triển của đô thị hóa, con người ngày càng tách rời với môi trường tự nhiên, một số hình ảnh thiên nhiên chỉ còn tìm thấy trong ký ức, nhờ có sự phát triển của du lịch sinh thái nhu cầu tìm hiểu thiên nhiên của con người mới được đáp ứng.
- Lợi ích thẩm mỹ: Lợi ích này được thể hiện: + Mỗi một cảnh quan chứa đựng trong nó biết bao nhiêu là vẻ đẹp, sự sinh động của thế giới tự nhiên và sự năng động trong cách thích ứng với thế giới tự nhiên của con người. Nơi du lịch sinh thái phát triển là nơi cảnh quan thiên nhiên được phát hiện, phát triển và bảo tồn. + Du lịch sinh thái tạo điều kiện cho các nhà thiết kế tour tiến hành khảo sát các tuyến điểm du lịch nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn. + Sự khảo sát này kèm theo những nguyên tắc chặt chẽ như nghiêm cấm mọi hành vi phá hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên, cấm sờ mó vào các thạch nhũ, các công trình kiến trúc, văn hóa cổ,…thúc đẩy sự bảo tồn nguồn tài nguyên nhân văn.
- Lợi ích sinh thái: Thông qua các hoạt động, du lịch sinh thái sẽ giúp cho các loài động thực vật quý hiếm được khôi phục, gìn giữ và bảo vệ sự đa dạng hệ sinh học trên toàn thế giới, du lịch sinh thái góp phần giúp con người sống có trách nhiệm hơn với môi trường tự nhiên. Du lịch sinh thái kết hợp hài hòa cả 3 mục tiêu: kinh tế, xã hội, sinh thái. Do đó du lịch sinh thái là một loại hình du lịch bền vững, nó đảm bảo cho môi trường tự nhiên và xã hội không những không bị suy thoái mà còn được củng cố phát triển lâu dài. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên vùng nghiên cứu 1. Vị trí địa lý Võ Nhai là một huyện miền núi vùng cao của Thái Nguyên, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, dọc theo quốc lộ 1B tiếp giáp hai dãy núi cao, có toạ độ địa lý 21 o 36’ đến 210 56’ vĩ độ Bắc và 105o 45’ đến 1060 17’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp huyện Nà Rì (Bắc Cạn), phía Đông giáp huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn), phía Nam giáp huyện Yên Thế (Bắc Giang), phía Tây giáp huyện Phú Lương và Đồng Hỷ (Thái Nguyên).2: Bản đồ hành chính huyện Võ Nhai 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Diện tích tự nhiên của huyện Võ Nhai 845,1 km². Hiện nay Huyện Võ Nhai có 15 đơn vị hành chính cấp xã/phường (gồm 1 thị trấn và 14 xã): Thị trấn Đình Cả Bình Long Cúc Đường Dân Tiến Phương Giao Vũ Chấn Phú Thượng Tràng Xá Nghinh Tường Thượng Nung Liên Minh La Hiên Lâu Thượng Sảng Mộc Thần Sa Bảng 1.
Diện tích huyện Võ Nhai Diện tích Đất lâm Đất hưa Đất nông Đất nuôi trồng Đất phi nông tự nhiên nghiệp sử dụng nghiệp (km2) thủy sản (km2) nghiệp (km2) (km2) (km2) (km2) 845,1 561,27 77,24 1,55 22,13 182,92 Nguồn: Cục thống kế Thái Nguyên 1. Địa hình Diện tích tự nhiên của Võ Nhai là 845,1 km2 trong đó đất lâm nghiệp chiếm 561,27 km2; đất nông nghiệp chiếm 77,24 km2; đất nuôi trồng thủy sản chiếm1,55 km2; đất phi nông nghiệp là 22,13 km2 và đất chưa sử dụng là 182,92 km2. Điểm nổi bật cuả địa hình Võ Nhai là núi cao, dãy núi Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và dãy Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Nhìn chung những vùng đất đồng bằng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, tập trung chủ yếu theo các khe suối, dọc các triền và thung lũng của các vùng đá vôi.
Căn cứ vào địa hình địa mạo và đất đai, huyện được chia 3 tiểu vùng như sau: Tiểu vùng I: Bao gồm các xã, thị trấn dọc quốc lộ 1B: Thị trấn Đình Cả, các xã La Hiên, Lâu Thượng và Phú Thượng. Đây là vùng thấp nhất của huyện, có địa hình tương đối bằng phẳng hơn các vùng còn lại, tạo nên bởi các thung lũng chạy dọc theo quốc lộ 1B, hai bên là hai dãy núi có độ dốc lớn. Tiểu vùng II: gồm 5 xã phía Nam: Tràng Xá, Liên Minh, Phương Giao, Dân Tiến và Bình Long. Địa hình đồi núi bát úp, bị chia cắt bởi nhiều khe suối xen kẽ núi đá vôi.
Các bãi soi bằng phẳng phù hợp với phát triển cây công nghiệp, cây lương thực và chăn nuôi đại gia súc. Tiểu vùng III: Vùng núi cao bao gồm 6 xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Lung, Vũ Chấn, Thần Sa, Cúc Đường. Các tiểu vùng khác nhau sẽ có chức năng riêng trong phát triển kinh tế, bảo vệ tự nhiên và phát triển du lịch. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Khí hậu Thái Nguyên nói chung và huyện Võ Nhai nói riêng khí hậu vẫn thể hiện rõ nét kiểu khí hậu bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông như các huyện miền Bắc Việt Nam, tuy nhiên, rõ rệt hơn cả là sự thể hiện hai mùa theo chế độ mưa ẩm trong năm là mùa mưa (nóng, ẩm, mưa nhiều, thường bắt đầu từ tháng 5 tới cuối tháng 10) và mùa ít mưa (lạnh, khô, thường bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau). Với sự phân hóa mùa rõ rệt như vậy, tạo sự phong phú trong phân hóa cảnh quan theo mùa, cộng thêm sự phân hóa địa hình tạo ra những kiểu cảnh quan theo các bậc địa hình khác nhau, hấp dẫn du khách. Lượng mưa trung bình hàng năm 1.941,5 mm và phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa, khoảng 1. Lượng mưa lớn nhất thường diễn ra vào tháng 8, trung bình khoảng 372,2 mm.
Thủy văn Nguồn nước tự nhiên trên địa bàn huyện khá phong phú nhưng phân bố không đều. Ngoài các sông, suối, còn có mạch nước ngầm từ các hang động trong núi đá vôi. Võ Nhai có hai con sông nhánh thuộc hệ thống sông Cầu và sông Thương, được phân bố ở phía Bắc và phía Nam huyện. Sông Nghinh Tường có chiều dài 46 km, bắt nguồn từ dãy núi của vòng cung Bắc Sơn (Lạng Sơn), chảy qua các xã Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa, rồi đổ ra sông Cầu.
Sông Rong bắt nguồn từ xã Phú Thượng, chảy qua thị trấn Đình Cả, Tràng Xá, Dân Tiến, Bình Long, sang địa phận huyện Bắc Giang và đổ về sông Thương. Suối Vũ Chấn gồm nhiều nhánh khe, bắt nguồn từ các dãy núi của xã Vũ Chấn, có chiều dài khoảng 23km. Suối này chảy qua thác Nậm Dứt về Thần Sa. Với hệ thống sông suối phong phú kết hợp với địa hình núi đá vôi tạo cho Võ Nhai những cảnh quan sơn thủy, hữu tình như: Hang phượng hoàng, suối mỏ gà, thác mưa rơi.
Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 1.