mở đầu, không rõ kất thúc. Thường các trạng thái này đi kèm theo hiện tượng tâm lí khác, chúng đóng vai trò làm nần cho các hiện tượng tâm lí. Ví dụ: Trạng thái chú ý trong nhận thức. BÀI 1: TÂM LÍ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC za Tâm trạng buồn bực, vui vẻ, sợ hãi.trong cảm xúc của con người Trạng thái căng thẳng trong hành động.
° Cac thuộc tính tâm lí: là những hiện tượng tâm lí tương đối ổn định, khó hình thành và khó mất đi, tạo thành những nét riêng của nhân cách. Người ta thường nói tới bốn nhóm thuộc tính tâm lí cá nhân là: xu hướng, tính cách, khí chất và năng lực. Ngoài ra tình cảm, ý chí cũng là những thuộc tính tâm lí của con người. Sự phân chia các hiện tượng tâm lí thành 3 dạng nói trên chỉ có tính chất ước lệ, tiện cho việc nghiên cứu của khoa học tâm lí.
Trong thực tế, các hiện tượng tâm lí đan xen vào nhau, tác động qua lại với nhau một cách biện chứng trong một thể thống nhất. Có thể biểu hiện mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lí bằng sơ đồ sau: TÂM LÝ ke ⁄ ` Các quả Các trạng - » Các thuộc trình tâm lí thai tam li tính tâm lí rr A Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lí - Dựa vào sự tham gia của ý thức: Ta có thể phân chia các hiện tượng tâm lí thành 2 loại như sau: e Cac hiện tượng tâm lí có ý thức: Các hiện tượng tâm lí có ý thức là hiện tượng tâm lí có sự tham gia của ý thức. Nhờ có sự tham gia của ý thức mà các hiện tượng tâm lí có sự biến đổi về chất, trở nên cực kỳ tinh nhậy, phức tạp và có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống con người. Ví dụ, con người biết mình đang quan sát điều gì, biết mình đang rung động bởi ai.
e Các hiện tượng tâm lí chưa được ý thức: Chúng ta thường nhận biết về các hiện tượng tâm lí có ý thức (được nhận thức, hay tự giác), còn những hiện tượng tâm lí chưa được ý thức vẫn luôn diễn ra, nhưng | 4 BAI 1: TAM Li HOC LA MOT KHOA HOC ta không ý thức về nó, hoặc dưới ý thức, chưa kịp ý thức. Ví dụ, một số bản năng vô thức, một số hành động lỡ lời hoặc ngủ mơ, mộng du. -_ Người ta còn phân biệt hiện tượng tâm lí thành hai loại: « Hiện tượng tâm lí sống động thể hiện trong hành vi, hoạt động; « Hiện tượng tâm lí tiềm tàng: tích đọng trong sản phẩm của hoạt động. -_ Cũng có thể phân biệt hiện tượng tâm lí của cá nhân với hiện tượng tâm lí xã hội (phong tục, tập quán, định hình xã hội, tin đồn, dư luận xã hội, tâm trạng xã hội, "mốt”.) Như vậy, thế giới tâm lí của con người vô cùng đa dạng và phức tạp.
Các hiện tượng tâm lí có nhiều mức độ, cấp độ khác nhau, có quan hệ đan xen vào nhau, chuyển hóa cho nhau.2 NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÍ HỌC Nhiệm vụ cơ bản của tâm lí học là nghiên cứu bản chất hoạt động của tâm lí, các quy luật nảy sinh và phát triển tâm lí, cơ chế diễn biến và thể hiện tâm lí, quy luật về mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lí. Có thể nêu lên các nhiệm vụ cụ thể của tâm lí học như sau: - Nghiên cứu bản chất của hoạt động tâm lí cả về mặt số lượng và chất lượng. -_ Phát hiện các quy luật hình thành, phát triển tâm lí. -_ Tìm ra cơ chế của các hiện tượng tâm lí.
Trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu, tâm lí học đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc hình thành, phát triển tâm lí, sử dụng tâm lí trong nhân tố con người có hiệu quả nhất. Để thực hiện các nhiệm vụ nói trên, tâm lí học phải liên kết, phối hợp chặt chế với nhiều khoa học khác.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TÂM LÍ HỌC Khoa học tâm lí sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu để nghiên cứu các hiện tượng tâm lí. Trong đó, có thể kể đến các phương pháp như quan sát, điều tra bằng phiếu hỏi, thực nghiệm, nghiên cứu các sản phẩm hoạt động, trắc nghiệm. BÀI 1: TÂM LÍ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC a 1.1 Phuong phap quan sat Quan sát là phương pháp được dùng ở nhiều ngành khoa học, trong đó có tâm lí học.
Quan sát là quá trình tri giác có chủ định, nhằm xác định đặc điểm của đối tượng qua những biểu hiện như hành động, cử chỉ, điệu bộ lời nói. Quan sát tâm lÍ giúp chúng ta từ việc quan sát các biểu hiện tâm lí bên ngoài của con người rút ra đặc điểm và quy luật tâm lí bên trong của họ. Ví dụ: Nghiên cứu hứng thú học tập của học sinh thông qua quan sát các biểu hiện bên ngoài: sự đúng giờ khi đi học, chuẩn bị bài trước khi đến lớp, tính tích cực khi tham gia xây dựng bài, tiếp thu tri thức mới. Phương pháp quan sát cho phép nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trung thực, khách quan và nghiên cứu tâm lí trong trạng thái tồn tại tự nhiên của nó, đơn giản về thiết bị và ít tốn kém về kinh phí.
Hạn chế của quan sát là ở chỗ: mang tính bị động cao, tốn nhiều thời gian, tốn nhiều công sức. Quan sát có nhiều hình thức: quan sát trực tiếp, quan sát gián tiếp, quan sát có tham dự và quan sát không tham dự. Trong tâm lí học, có thể sử dụng hai hình thức quan sát như sau: e Quan sát khách quan: Đây là phương pháp quan trọng nhất của tâm lí học, quan sát khách quan là sự tri giác có mục đích, có kế hoạch các hoạt động của con người trong những điều kiện bình thường của họ. « Tự quan sát (nội quan) là sự tự thể hiện, tự mô tả diễn biến tâm lí của bản thân.
Trường phái tâm lí học duy tâm đã quá đề cao và phát triển phương pháp nội quan. Ngược lại, tâm lí học duy vật khoa học cho rằng: phương pháp tự quan sát chỉ có mục đích đánh giá những nội dung của ý thức để nhận thức được chính bản thân mình. Khi sử dụng phương pháp tự quan sát phải tuân theo những yêu cầu khách quan để tránh suy diễn theo kiểu "suy bụng ta, ra bụng người”. Để quan sát có kết quả khoa học cao, phải chú ý những yêu cầu sau: e Xác định rõ mục đích (quan sát ai, quan sát điều gì), với nội dung và kế hoạch quan sát cụ thể.
a BAI 1: TAM Li HOC LA MOT KHOA HOC Chuẩn bị quan sát chu đáo và quan sát phải có tính hệ thống. Tài liệu quan sát phải được ghi chép một cách khách quan, trung thực và bảo đảm tính tiêu biểu.2 Phương pháp thực nghiệm -_ Thực nghiệm là quá trình tác động vào đối tượng một cách chủ động, trong những điều kiện đã được khống chế, để gây ra ở đối tượng những biểu hiện về quan điểm nhân quả, tính quy luật, cơ cấu, cơ chế của chúng. -_ Thường có hai loại thực nghiệm cơ bản sau: Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: phương pháp trong phòng thí nghiệm được tiến hành dưới điều kiện khống chế một cách nghiêm khắc các ảnh hưởng bên ngoài. Nhà nghiên cứu tạo ra những điều kiện có thể gây ra các hiện tượng tâm lí mình định nghiên cứu và có thể biến đổi những điều kiện đó theo ý định của bản thân nhằm tác động vào các quá trình tâm lí được nghiên cứu.
Người ta thường sử dụng máy móc để ghi lại những diễn biến tâm lí ở người (hoặc nhóm người) được thực nghiệm. Thực nghiệm tự nhiên được tiến hành trong các điều kiện bình thường của cuộc sống và hoạt động. Trong thực nghiệm tự nhiên, nhà nghiên cứu chủ động gây ra các biểu hiện và diễn biến tâm lí bằng cách khống chế một số nhân tố cần thiết có khả năng giúp cho việc nghiên cứu, làm nổi bật các yếu tố cần thiết có khả nắng giúp cho việc khai thác, tìm hiểu nội dung cần thực nghiệm. Tùy theo mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà người ta phân biệt thực nghiệm tự nhiên nhận định và thực nghiệm tự nhiên xây dựng.
-_ Wundt (người thành tập phòng thực nghiệm đầu tiên trên thế giới ở Đức năm 1879) đã nêu ra những điều kiện để một thực nghiệm tâm lí học được chính xác là: Hiện tượng tâm lí định nghiên cứu phải được người phụ trách thực nghiệm tạo ra một cách có chủ định. Các điều kiện phải mang tính chất có thể xem xét một cách bao quát rõ ràng và có thể thay đổi được. Thực nghiệm phải có khả năng lặp lại trong những điều kiện tương tự. BÀI 1: TÂM LÍ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC e Hiệu quả đạt được phải đo lường được.
Thực nghiệm dù được tiến hành ở phòng thí nghiệm hoặc trong hoàn cảnh tự nhiên cũng khó hoàn toàn khống chế những ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan của người được thực nghiệm, do vậy phải tiến hành thực nghiệm một số lần và phải phối hợp đồng bộ với nhiều phương pháp khác thì kết quả thực nghiệm mới khách quan.3 Phương pháp trắc nghiệm (test) - Trắc nghiệm tâm lí là một công cụ đã được tiêu chuẩn hoá dùng để đo lường một cách khách quan một hay một số mặt tâm lí nhân cách thông qua những mẫu câu trả lời bằng ngôn ngữ, phi ngôn ngữ hoặc bằng các hành vi khác. Các tiêu chuẩn của một trắc nghiệm tâm lí khác với các phương pháp nghiên cứu tâm lí khác là: Có độ tin cậy cao, nghĩa là kết quả đo bằng trắc nghiệm cùng một nghiệm thể, đối tượng ở nhiều lần đo khác nhau đều cho kết quả giống nhau. Có tính hiệu lực (ứng nghiệm) là trắc nghiệm phải đo được chính hiện tượng tâm lí cần đo, đúng với mục đích của trắc nghiệm. Tính tiêu chuẩn hoá - cách thức tiến hành, xử lí kết quả phải theo một tiêu chuẩn xác định và có quy chuẩn theo một nhóm chuẩn.
Trắc nghiệm trọn bộ thường bao gồm bốn phần: văn bản trắc nghiệm, hướng dẫn quá trình tiến hành, hướng dẫn đánh giá, bản chuẩn hoá. -_ Trắc nghiệm tâm lí có những ưu và nhược điểm sau: « _ Ưu điểm cơ bản của trắc nghiệm: © © © Tính chất ngắn gọn, Tính tiêu chuẩn hoá, Đơn giản về thiết bị và kĩ thuật, Định lượng được kết quả nghiên cứu. e Mặt hạn chế của trắc nghiệm: © © Trắc nghiệm chỉ quan tâm đến kết quả thống kê cuối cùng, không chú ý đến quá trình dẫn đến kết quả. Khó soạn thảo một bộ trắc nghiệm đảm bảo tính tiêu chuẩn hoá.