phần mở đầu. kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình đã công bố, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chương: Chương L: Cơ sở lý luận về sinh viên trên địa bản Hà Nội và tâm lý chung của họ ngày nay Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về tâm lý chung của sinh viên trên địa bản Hà Nội và nhận thức của họ về thiên.
10 CHUONG 1: CO SO LY LUAN. Nghiên cứu về nhận thức 1. Tiép cận lý thuyết về nhận thức Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là “quá trình phản ánh hiện thực khách quan vảo trong bộ óc của con người”), có vận động và phát triển, là quá trình tác động biện chứng giữa chú thê và khách thể thông qua hoạt động thực tiễn. Thái độ được Allport (1935) định nghĩa là trạng thái chuẩn bị, sẵn sảng trong tinh than, thong qua trải nghiệm, tác động của những ảnh hưởng, đáng kế lên phản Ứng ú của một cá nhân với đối tượng hoặc chủ thể liên quan”).
Hoặc có thê hiểu đơn giản hơn là tư duy hoặc xu hướng hành động tùy theo một cách cụ thê dựa trên môi trường và kinh nghiệm của mỗi cá nhân. Theo Jeffrey Pickens, “khi noi đến thái độ của ai đó, người ta thường giải thích dựa trên hành vi thường dựa trên hành v1. Bởi, thái độ là một tô hợp phức tạp của nhân cách, niềm tin, giá trị, hành động và động lực của mỗi cá nhân"®), Từ đó, có thê rút ra kết luận rằng nhận thức có ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của con người. Những yếu tô ảnh hưởng đến hảnh vi và thái độ cần phải được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức.
Cụ thể như. với đề tài “Nhận thức của.” có thể hiểu được một cách tương đối mức nhận thức về những vấn đề cần quan tâm thông qua co so la tìm hiểu hành vi và thái độ của khách thê đối với những chủ dé có liên quan. Tac giả Baron-Cohen cùng cộng sự (2001), với nghiên cứu: The "Reading the Mind in the Eyes" Test revised version: a study with normal adults, and adults with Asperger syndrome or high-functioning autism (bài kiêm tra "Đọc tâm trí trong mắt" phiên bản sửa đổi: một nghiên cứu với người lớn bình thường vả người lớn mắc hội chứng Asperger hoặc tự kỷ chức năng cao đọc suy nghĩ thông qua đôi mat), ong xem đây là thước do về nhận thức xã hội. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: “Nữ giới thâu hiểu cảm xúc tốt hơn nam giới” [108, tr.49-72] Nhà Tâm lý học Laney cùng cộng sự với nghiên cứu False memory— trí nhớ sai Asparagus, a love story: Healthier eating could be just a false memory away (Mang tây, câu chuyện vé so thich: an uống lành mạnh hơn có thê chỉ từ những ký ức sai lầm).
Nghiên cứu được tiến hành khi cay phép trí nhớ giả với việc thích ăn măng tây của con người để thay đôi sở thích ăn uông vả sự san sang chi trả tiền cho món mang tây của họ. Từ nghiên cứu chúng ta thấy nhận thức tích cực có ảnh hưởng đến thái độ và hành vị của con người [ 128, tr. 291-300] Năm 2007, Davis và Loftus trong nghiên cứu của mình Internal and external sources of misinformation in adult witness memory, cho rằng, sự hồi ức của con người có thê không đáng tin cậy, nếu câu hỏi chỉ dẫn được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên nếu 11 các cuộc phỏng vấn, nhận thức mang tính diễn đạt trung lập, tính chính xác của ghi nhận hồi ức sẽ được tăng lên [116, tr.
195-237] Từ những lý thuyết trên, có thể đưa ra các câu hỏi nghiên cứu và khảo sát số liệu sao cho phù hợp với thực tiền khách quan. Năm 1999, Dunnine và Kruser đưa ra nghiên cứu trong Unskilled and UỦnaware of It: How Difficulties in Recognizing One's Own Incompetence Lead to Inflated Self- Assessments. Từ đó hiệu ứng Dunning-Kruger ra đời để cập đến sự đánh gia vé ban thân của con người dựa trên kinh nghiệm. Dựa trên nghiên cứu do, gia thuyết của đề tài được xác định dựa trên lập luận răng độ tuôi sinh viên lả lúc con người ớ ngưỡng đánh giá cao bản thân mình so với hiểu biết thực tế.
Qua đó dẫn tới sự khác biệt về ảnh hưởng của quan niệm và các yếu tô bên ngoài tới nhận thức của sinh viên 1. Tiếp cận lý thuyết xã hội Lý thuyết xã hội nghiên cứu về ảnh hưởng của các quá trình xã hội vả nhận thức lên cách mỗi cá nhân tiếp nhận, ảnh hưởng và tương tác hay nói cách khác là bộc lộ hành vĩ với những người xung quanh. Đây là cách bộc lộ nhận thức, cảm xúc, thái độ và hành động của chính chúng ta đối với thé giới. Năm 1986, Bandura gidi thiéu Social Cognitive Theory (Ly thuyét nhan thức xã hội), có nhắc tới: Học tập quan sát Thành phần chính trong ly thuyết nhận thức xã hội là học tập quan sát.
Như Bandura đã khang định rằng, con người học tập và bắt chước mẫu người mà họ từng tiếp xúc, điều nảy cho phép con người tiếp nhận thông tin nhanh hơn rất nhiều. Học tập quan sát xáy ra thông qua bốn quá trình: 1. Quá trình chú ý: Bao gồm các thông tin được chọn để quan sát trong môi trường. Con người có thế chọn quan sát hình mẫu trong thực tế hoặc trên các phương tiện truyền thông.
Quá trình giữ lại: Bao gồm việc ghi nhớ các thông tin đã được quan sát để sau này có thê nhớ lại va tai tao dé dang hon. Quá trình sản xuất: tái tạo những ký ức trong các quan sát trước đó. Vậy nên, những điều đã học có thê được áp dụng trong các tình huống phù hợp. Trong nhiều trường hợp, điều nảy không có nghĩa là mọi người sẽ sao chép chính xác hành động được quan sát, tuy nhiên họ sẽ biến đổi hành vi sao cho phủ hợp với từng ngữ cảnh.
Quá trinh tạo động lực: xác định liệu một hành vị được quan sat có được thực hiện hay không dựa trên hành vi đó sẽ dẫn đến kết quả mong muốn hay bất lợi cho bản thân. Củng cô vả trừng phạt đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo động lực. Nếu bắt chước hanh vi quan sát trước đó được khen thưởng, người quan sát sẽ có động lực hơn đề tái tạo nó sau nảy. Ngược lại, nếu hành vi bi phạt theo một cách nào đó, người quan sát sẽ ít hoặc không thực hiện lại hành vị đó nữa.
Do do, ly thuyết nảy cho rằng, mọi người không thực hiện mọi hành vi mà họ học được thông qua mô hình hóa. Tin tưởng vào năng lực ban than 12 Ngoài các mô hình thông tin có thê truyền tải trong quá trình học tập quan sát, các hình mâu cũng có thê làm tăng hoặc giảm niêm tin của người quan sát vào năng lực bản thân. Khi mọi người thấy những người khác thành công, họ tin rằng minh cting co thé thanh công và làm được như vậy. Do đó các hình mẫu chính là nguồn động lực truyền cảm hứng cho họ.
Sự nhận thức về năng lực bản thân ảnh hưởng đến lựa chọn và niềm tin của con người vào chính bản thân họ, bao gồm mục tiêu họ chọn đề theo đuôi và những nỗ lực họ bỏ ra, họ sẵn sảng đối mặt với những cản tro va thất bại. Do đó, sự tin tưởng vào bản thân ảnh hưởng rất lớn đến động lực và niềm tin của họ. Mô hình hóa phương tiện truyền thông Tiềm năng xã hội của các mô hình truyền thông được minh chứng qua các bộ phim truyền hình nhằm phát triển cộng đồng dựa trên các vấn để như: xóa nạn mù chữ, xây dựng kế hoạch hóa gia đình và củng cố địa vị người phụ nữ. Những bộ phim này đã mang lại sự thay đôi xã hội theo hướng tích cực, đồng thời chứng minh sự tương quan và khả năng ứng dụng của lý thuyết nhận thức xã hội đến truyền thông.
Ví dụ: một chương trình truyền hình ở Ân nhằm nâng cao vị thế người phụ nữ và thúc đây các gia đình nhỏ bằng cách đưa những ý tướng này vào chương trình. Qua chương trình, người xem học được răng, phụ nữ nên có quyên bình đẳng, quyền tự do trong việc lựa chọn cách sông. Ví dụ này thê hiện, các nguyên ly trong ly thuyết nhận thức xã hội được tận dụng nhằm tạo ra tác động tích cực thông qua các mô hình truyền thông hư cấu. Từ đó, ta có thế xây dựng được cầu trúc khảo sát dựa trên lý thuyết để tiễn hành phân tích cách và kết quả của các yêu tö xã hội đến nhận thức của khách thê khảo sát.
Sinh viên và những đặc trưng tâm lý: 1. Sinh viên là al: "Sinh viên" thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng La tỉnh "Student", mang nghĩa là người tích cực lao động, học tập, nghiên cứu, truyền thụ và tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm lịch sử, văn hoá xã hội của loài người. Bên cạnh đó cũng có khái niệm sinh viên là người học tập tại những trường đại học, cao đăng, trung cấp. Ở đây họ được truyền thụ kiến thức chuyên sâu về một ngảnh nghề, phục vụ cho công việc sau nảy của họ và được xã hội thừa nhận thông qua các thành tích đạt được trong học tập Sinh viên cũng là một trong những giai đoạn phát triển quan trọng của nhân cách con người (thanh niên), trong giai đoạn nảy, sự phát triển về thê lực (trọng lượng, hệ xương, hệ cơ), hệ thần kinh và các giác quan đã tương đối hoàn chỉnh.
Sinh viên có những đặc điểm 13 tâm-sinh lý hết sức đặc trưng về ý thức, tư đuy, tình cảm do đặc điểm lứa tuổi và tính chất hoạt động học tập ở đại học quy định. Một số đặc trưng tâm lý của sinh viên Ở giai đoạn sinh viên nảy thì hoạt động chủ yếu của họ là hoạt động học tập theo định hướng chuyên ngành, nhằm tiếp thu các tri thức, hình thành các kỹ năng nghề nghiệp của họ và có những mối quan hệ mới và rộng hơn ở các giai đoạn trước. Sinh viên có những đặc trưng tâm lý nỗi bật sau: Định hình cái “tôi” cá nhân G vi thé sinh viên, họ sẽ có rất nhiều thay đối so với lứa tuôi trước. Một mặt các quan hệ xã hội của sinh viên được mở rộng, đặc biệt các quan hệ như với người lớn, thầy cô giáo và bố mẹ.
Họ xem sinh viên không còn là trẻ con nữa, mà coi họ như là người lớn thực thụ và việc nảy yêu cầu sinh viên có cách ứng xử phù hợp, trưởng thành hơn.