CHƯƠNG 1 TRUYỆN NÔM, MỘT CÁI NHÌN TRÊN TRỤC LỊCH SỬ 1. Về một số khái niệm và thuật ngữ liên quan đến truyện Nôm 1. Truyện Nôm Xung quanh việc định danh cho thể loại, từ trước đến nay đã tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Bên cạnh các cách gọi truyện thơ, truyện thơ Nôm, truyện diễn ca… nhìn chung, phổ biến nhất vẫn là xu hướng gọi loại tiểu thuyết văn vần này là truyện Nôm.
Trong công trình này, chúng tôi chọn dùng thuật ngữ truyện Nôm như phần lớn các học giả đã sử dụng. Việc lựa chọn “truyện Nôm” chứ không phải “truyện thơ Nôm” mà không sợ nhầm lẫn là truyện văn xuôi Nôm, một phần vì như GS. Trần Đình Sử đã có lần đề cập trong cuốn sách Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại, coi truyện Nôm “là cách rút gọn của khái niệm truyện thơ Nôm, và cũng do điều kiện lịch sử văn xuôi Nôm không phát triển, nghĩa là văn Nôm chỉ tồn tại dưới dạng văn vần và biền ngẫu” [58; 395]. Qua cách định nghĩa của Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu), Đặng Thanh Lê (“Truyện Kiều” và thể loại truyện Nôm), Kiều Thu Hoạch (Truyện Nôm, lịch sử phát triển và thi pháp thể loại), Trần Đình Sử - Lê Bá Hán - Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học)… chúng tôi nhận thấy, cơ bản, truyện Nôm là thể loại tự sự, phản ánh những băn khoăn day dứt về số phận, về khát vọng hạnh phúc, công lý mang tính nhân bản của con người trong đời sống hiện thực đầy éo le, phức tạp; tác phẩm được viết bằng thể lục bát và biến thể lục bát trên cơ sở ngôn ngữ dân tộc - chữ Nôm.
Truyện Nôm bác học Bao năm qua, truyện Nôm vẫn luôn là một vấn đề phức tạp. Từ việc định danh cho đến xác định bản chất thể loại, chưa có vấn đề gì liên quan đến truyện Nôm mà không trở thành chủ đề tranh cãi của nhiều nhà nghiên cứu trong suốt một thời gian dài. Và hệ quả là việc phân loại truyện Nôm cũng không hề đơn giản. Truyện Nôm có thể được phân loại thành truyện Nôm khuyết danh và truyện Nôm hữu danh, hoặc truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học (còn gọi là truyện Nôm văn nhân); hay dựa vào nguồn gốc mà phân chia thành truyện Nôm có nguồn gốc cổ tích thần thoại, truyện Nôm có nguồn gốc Trung Quốc và truyện Nôm sáng tác dựa trên thực tế Việt Nam.
Thực ra, mọi sự phân loại đều chỉ có ý nghĩa tương đối. Do yêu cầu và phạm vi nghiên cứu, chúng tôi không có ý định cũng như chưa đủ điều kiện tư liệu hay sự phân tích khoa học để lạm bàn quá nhiều về vấn đề này. Nhưng chúng tôi chọn cách phân loại thành truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học; bởi theo thiển ý của chúng tôi, cách phân loại thành truyện Nôm khuyết danh và hữu danh hoặc dựa vào nguồn gốc mới chỉ là căn cứ vào một yếu tố, một đặc điểm cá biệt mà gọi tên, chứ không nêu lên được những vấn đề tổng quan của truyện Nôm, đặc biệt là đặc trưng thi pháp thể loại. Trong khi đó, cách phân loại thành truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học, theo chúng tôi, một phần nào đó có lẽ sẽ nói lên được biệt sắc cũng như tiến trình phát triển của thể loại.
Dẫu vậy, cần phải nhấn mạnh rằng, bản thân trong cách phân định thành truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học cũng chỉ có tính chất tương đối. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất về tiêu chí phân loại, dựa theo tác giả và hình thức nghệ thuật. Đa phần các ý kiến cho rằng, truyện 14 Nôm bác học thường có tác giả rõ ràng và là những người thuộc tầng lớp phong kiến quý tộc, có học vấn uyên bác, có trình độ tu dưỡng nghệ thuật cao. Về mặt nghệ thuật thì truyện Nôm bác học được sáng tác theo phương thức của văn học thành văn, nghĩa là để xem, để đọc chứ không phải để kể, văn chương trau chuốt nhiều hơn, ngôn ngữ điêu luyện, hàm súc hơn.
Tất nhiên, đối với hai tiêu chí phân loại này, hẳn có nhiều điều còn phải bàn cãi. Chúng tôi thiết nghĩ, điều quan trọng nhất để nhận diện một tác phẩm có phải là truyện Nôm bác học hay không, không hẳn là tên tuổi tác giả, mà là xem xét mức độ “thành thục” của các yếu tố thi pháp. Nghĩa là, muốn khẳng định một tác phẩm là truyện Nôm bác học hay bình dân, thì phải đặt nó trong cái nhìn so sánh với nhiều đối tượng nghiên cứu cùng thể loại và những đối tượng ở thể tài đối sánh. Cụ thể, chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn tại chương sau.
Truyện Nôm - cơ sở hình thành và quá trình phát triển 1. Cơ sở hình thành Một lẽ hiển nhiên mà ai trong chúng ta cũng có thể kiểm chứng, đó là, để dẫn đến sự ra đời của một thể loại mới, cần phải có sự tích hợp đầy đủ các tiền đề lịch sử - xã hội và tiền đề văn hóa - nghệ thuật. Trong phần này, chúng tôi chỉ trình bày những cơ sở văn hóa - nghệ thuật đặt nền móng cho sự xuất hiện của truyện Nôm trong ngữ cảnh văn học Nôm nói chung và trong sự phát triển của nhu cầu tự sự cũng như năng lực tự sự của các thể loại văn học đã có trước đó. Tiền đề văn hóa - nghệ thuật Người dân Đại Việt lớn lên trong một xã hội nông nghiệp, con người cần định cư để trồng cấy; cùng với đó là những năm tháng trường kỳ trải bao 15 thế hệ, lớp lớp người dân phải đoàn kết để cùng tồn tại và đánh đuổi giặc ngoại xâm.
Tâm lý cộng đồng, yêu thiện ghét ác, mong muốn ở hiền gặp lành… được hình thành từ đó. Những yếu tố này đã để lại dấu ấn sâu đậm trong văn học, đặc biệt là văn học dân gian, mà tiêu biểu là truyện cổ tích - tiền đề nảy sinh truyện Nôm sau này. Các nhà nghiên cứu như Đặng Thanh Lê, Kiều Thu Hoạch, Trần Đình Sử… đã không dưới một lần chứng minh được rằng, có rất nhiều truyện cổ tích trở thành nguồn gốc, đề tài và cốt truyện của khá nhiều truyện Nôm, mà theo lời GS. Đặng Thanh Lê thì: “nội dung tư tưởng triết lý của truyện cổ tích mới là nhân tố ảnh hưởng sâu xa nhất, có giá trị nhất đối với truyện Nôm” [38; 37].
Một bộ phận quan trọng của truyện cổ tích biểu hiện những chủ đề liên quan đến vận mệnh, cuộc sống của người dân lao động trong xã hội phong kiến: những thế lực bạo tàn và những áp bức bất công, những con người ở hiền gặp lành nhưng sống cơ cực, những ước mơ, nguyện vọng trong sáng, đẹp đẽ… Những chủ đề ấy dễ dàng có được sự “đồng điệu” của các tác phẩm truyện Nôm sau này, một thể loại mà theo nhiều nhà nghiên cứu là “sản phẩm” của thời kỳ phong kiến suy tàn. Tuy nhiên, truyện Nôm là một thể loại văn học mới; nó không chỉ đơn thuần đem truyện cổ tích kể lại bằng thể lục bát mà là một sự sáng tạo mới với khuôn khổ và dung lượng hoàn toàn khác. Rất nhiều truyện cổ tích như Thạch Sanh, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Lưu Bình - Dương Lễ, Chàng Ké… đã được “tái sinh”, “được tiểu thuyết hóa và diễn ca bằng văn vần” [38; 37]. Để minh chứng cho điều này, GS.
Trần Đình Sử đã làm một phép so sánh nhỏ về số câu trong một số truyện cổ tích và truyện Nôm, nhận thấy về cơ bản, dung lượng truyện Nôm dài gấp 10 lần truyện cổ tích (chẳng hạn, số câu trong truyện cổ tích Quan Âm Thị Kính là 71 câu, trong truyện Nôm là 786 câu; số câu trong truyện cổ tích Thạch Sanh là 120 câu, trong truyện Nôm là 1. Cùng với sự mở rộng dung lượng ấy, nhân vật, chi tiết, lời nói… cũng 16 được cụ thể hóa hơn, “chất cổ tích biến mất hoặc nhạt đi, sự sống trực tiếp và cảm nhận văn chương nổi lên hàng đầu” [58; 407]. Đó chính là “chất văn” của truyện Nôm. Mặt khác, như chúng ta biết, không giống như thế kỷ XV, khi mà cùng với sự phát triển của chế độ quân chủ chuyên chế, giai cấp phong kiến thống trị có xu hướng kìm hãm nghệ thuật dân gian, gò ép nền văn hóa nhân dân vào những khuôn vàng thước ngọc của văn hóa chính thống, thế kỷ XVI - XVII, do sự suy yếu của chế độ chuyên chế tập quyền, nhất là do sức quật khởi của nhân dân, nền văn hóa nghệ thuật dân gian có cơ sở phát triển mạnh mẽ.
Với hát chèo ở Đàng Ngoài, nghệ thuật tuồng manh nha phát triển ở Đàng Trong, múa rối nơi ao đình… có thể nói, nghệ thuật diễn xướng ngày càng diễn ra sôi động trong các sinh hoạt văn hóa, lễ hội dân gian. Sự phát triển của lối kể hạnh, hát cửa đình làm cho thể thơ lục bát, vốn có khả năng tự sự dài, ngày càng thêm hoàn chỉnh. Nội dung các bài “hạnh” thường là kể lại sự tích và đức hạnh của chư Phật hoặc các vị thần thánh được thờ ở chùa làng. Hình thức của các bài “hạnh” đều là thơ lục bát hoặc lục bát biến thể.
“Kể hạnh” thực chất là một lối đọc ngâm nga, diễn cảm tựa như lối kể chuyện, nói vè trong điệu xẩm chợ. Dĩ nhiên, không phải tất cả các bài “kể hạnh”, các diễn ca tôn giáo đều là tiền thân của truyện Nôm. Nhưng chắc chắn là có một số lượng không nhỏ diễn ca tôn giáo vốn thoát thai từ các bài “kể hạnh”, đã có đầy đủ các yếu tố về nội dung, hình thức, đề tài, cốt truyện… để có thể coi chúng như những truyện Nôm; chẳng hạn trường hợp Quan Âm tống tử bản hạnh, Địa Tạng bản hạnh, Nam Hải Quan Âm bản hạnh… Có thể nói, các diễn ca tôn giáo, chủ yếu là Phật giáo, chẳng những đã cung cấp cho thể loại truyện Nôm một nguồn đề tài, cốt truyện hấp dẫn, mà còn cung cấp cả những tiền đề nghệ thuật cần thiết để góp phần hình thành thể loại truyện Nôm. 17 Từ đôi điều kể trên, có thể thấy văn hóa truyền thống đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến văn học, mà hệ quả của nó là sự ra đời một thể loại mới - truyện Nôm.
Lẽ dĩ nhiên, truyện Nôm không phải là thể tài duy nhất tiếp nhận những ảnh hưởng trực hệ của văn hóa dân tộc. Và cũng một lẽ hiển nhiên nữa, là có nhiều thể loại văn học, mà truyện Nôm là một dẫn dụ, không chỉ được tạo nên và “sống lành mạnh” nhờ sức sống nội sinh của nó.