CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG 1. Giới thiệu về văn hóa kịch truyền thống của Nhật Bản Nhật Bản nổi tiếng là một đất nước có nền văn hóa nghệ thuật truyền thống độc đáo và đa dạng. Trong văn hóa Nhật Bản, các loại hình nghệ thuật truyền thống từ lâu đã là nguồn đam mê và cảm hứng trong nhiều thế kỷ qua, từ nghệ thuật Ikebana đến trà đạo.
Đặc biệt là các loại hình kịch nghệ nổi tiếng như kịch Bugaku, Kyogen, Bunraku, Noh và Kabuki đầy sức lôi cuốn và được nhiều nơi trên thế giới biết đến và đã trở thành những nghệ thuật đầu tiên của Nhật Bản được ghi vào danh sách của UNESCO năm 2008 giúp nhấn mạnh tầm quan trọng của những nghệ thuật này đối với di sản và lịch sử biểu diễn của Nhật Bản. Trong bài nghiên cứu này sẽ khai thác sâu tìm hiểu về 3 loại kịch chính đó là kịch múa rối Bunraku, kịch Kabuki và kịch Noh. Trước khi đi sâu vào nội dung ta cùng tìm hiểu sơ lược về nét văn hóa nổi bật của từng loại kịch này. Đầu tiên là kịch múa rối Bunraku.
Đây là loại hình nghệ thuật truyền thống của Nhật được phát triển tại Osaka vào khoảng thế kỷ XVIII thời kỳ Edo và được kế thừa cho đến ngày nay. Khi nghe đến kịch múa rối, chắc hẳn chúng ta sẽ nghĩ đây là loại hình dành cho trẻ em, nhưng thực tế là dành cho người lớn. Cốt truyện của vở kịch thường xoay quanh những 6 người anh hùng thời cổ đại, tình yêu nam nữ thời kỳ Edo và cả những vụ tự sát vì tình (tự sát của những cặp đôi yêu nhau),. Bên cạnh đó, trên các sân khấu nhỏ bằng gỗ khắp Nhật Bản, kịch Noh vẫn đang được biểu diễn.
Các diễn viên phục sức lộng lẫy với những khoảnh khắc diễn xuất xuất thần, giọng nói buồn thảm kèm theo tiếng sáo và trống, tạo nên cảm giác như một giấc mơ. Một trong số tín đồ người Nhật của loại hình này là ông Toshio Hosokawa, nhà soạn nhạc đã kết hợp sự nghiệp tiên phong thành công ở châu Âu và sự tuân thủ trung thành với cội nguồn Nhật Bản. Kịch Noh đã cuốn hút ông bằng khả năng thanh tẩy qua cách tiếp xúc với thế giới tinh thần, thông qua sự phụ thuộc vào sức mạnh của sự im lặng, qua diễn xuất những cử chỉ nghi thức của các nhạc công và diễn viên trước một tiếng trống hoặc một lần vung kiếm. Ông Hosokawa nói: "Âm nhạc của tôi là thư pháp vẽ trên tấm vải của không gian và thời gian", "Chuyển động lặng lẽ trong không khí – như khi người chơi trống thực hiện các cử chỉ - cũng sống động chẳng kém gì âm thanh.
Và chuyển động như vậy ẩn chứa trong âm nhạc của tôi." Cùng với kịch Bunraku và kịch Noh, hình thức nghệ thuật nổi tiếng nhất đó là Kabuki. Kabuki ra đời vào đầu thế kỷ XVII, dưới hình thức biểu diễn tạp kỹ, sau đó trở thành một loại hình kịch nghệ được ưa chuộng nhất trong thời kỳ Edo (1603-1868). Loại hình kịch này trình diễn nhiều cảnh bạo lực, máu me và cảnh quan hệ kích động giữa những người nam giả nữ. Bằng sự kết hợp giữa nghệ thuật diễn xuất, múa và âm nhạc, Kabuki là môn nghệ thuật hết sức độc đáo và hiện được công nhận là một trong những loại hình kịch nghệ truyền thống vĩ đại của thế giới.
Không thể phủ nhận cả ba loại hình nghệ thuật này được giữ gìn và bảo tồn đến tận ngày nay chính bởi thông điệp rất riêng được truyền tải vô cùng tinh tế và sâu sắc. Khi thật sự thấu hiểu chúng, khán giả sẽ cảm nhận được không gian khơi gợi trí tưởng tượng của Noh cùng với những mẫu chuyện cổ 7 điển đầy tính sáng tạo của Bunraku. Và nếu muốn ngắm nhìn một sân khấu được bài trí tuyệt đẹp cùng sự diễn xuất tuyệt vời của các nam diễn viên trong vài tiếng đồng hồ, có khi là cả ngày cho một vở Kabuki là không hề lãng phí. Quả vậy, với sự tồn tại và được thừa nhận của Bunraku, Noh và Kabuki, sức sống mãnh liệt của văn hóa truyền thống một lần nữa lại được chứng minh trong dòng chảy của xã hội hiện đại Nhật Bản.
Lịch sử hình thành Vào thời Nara (710 – 794), cùng với trào lưu du nhập văn hóa Trung Hoa, một loại hình âm nhạc mang phong cách đại lục có tên là Sangaku ( 散 楽 ) cũng bắt đầu được biết đến tại Nhật Bản. Cùng với Nhã nhạc Gagaku (雅楽), Sangaku chủ yếu được trình diễn trong cung đình. Vào khoảng giữa thời Heian (794 – 1185), Sangaku dần được bản địa hóa và bắt đầu biểu diễn rộng rãi trong xã hội với cái tên mới là Sarugaku (猿楽). Sarugaku chính là nền tảng của kịch Noh (能).
Theo dòng chảy lịch sử quá trình phát triển nghệ thuật kịch Noh ra đời từ thế kỷ XIII phát triển thành môn hình nghệ thuật lãnh đạo người biểu diễn, nhà soạn kịch thiên tài Kannami (1333-1384) và con trai ông, Zeami (1363-1443) Kịch Noh bao gồm múa và diễn kịch bằng điệu bộ. Kịch Noh phát triển thịnh vượng vào thời kỳ ông Zeami, dưới sự bảo trợ tướng quân Ashikaga Yoshinitsu. Sau này, vào thời kỳ Edo (1603-1868), kịch Noh trở thành môn nghệ thuật biểu diễn chính thức. Về lịch sử nghệ thuật rối Nhật Bản, sách có ghi lại vào kỷ XI.
Người ta cho rằng thậm chí trước đó, những thợ săn lang thang kiếm tiền thêm bằng cách dùng con rối nhỏ diễn kịch mua vui tại các thị trấn. Về sau nhiều người định cư tại Sanjo đảo Awaji, nơi sinh ngành kịch rối chuyên nghiệp. Kịch Bunraku phát triển qua từng thời đại và đỉnh cao là thời Edo, ông Chikamatsu Monzaemon, góp phần chuyển Bunraku từ hình thức giải trí quần chúng thành nhà hát nghệ thuật. 8 Có thể nói kịch Kabuki và Bunraku có mối liên hệ qua lại.
Các diễn viên Kabuki chịu ảnh hưởng phong cách của những người kể chuyện Bunraku và thậm chí bắt chước những điệu bộ được cách điệu hóa của những con rối. Khi Kabuki mới ra đời, có phụ nữ tham gia diễn xuất, từ sau năm 1653 Kabuki mới ra đời và chỉ có đàn ông trưởng thành mới được diễn. Cho đến thời Genroku, cấu trúc của kịch Kabuki mới định hình và có nhiều yếu tố cách điệu hóa. Nối tiếp thời Minh Trị Duy tân, trong thời kì Kabuki có nhiều biến động nhưng bên cạnh không phần thành công.
Khái niệm Sân khấu truyền thống Nhật Bản là sự kết hợp đầy màu sắc và cuốn hút của vũ đạo, kịch và nhạc đệm. Sân khấu truyền thống là một loại hình nghệ thuật đặc biệt, là sản phẩm của nền văn hóa, nơi kết tinh tâm hồn, trí tuệ, góp phần làm nên nét độc đáo của bản sắc văn hóa dân tộc. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nghệ thuật sân khấu truyền thống đã đem đến những món ăn tinh thần bổ ích, nuôi dưỡng, giáo dục và hình thành nên những đức tính, phẩm chất tốt đẹp cho con người. Có thể nói một cách cụ thể hơn, sân khấu truyền thống Nhật Bản là các vở kịch.
Kịch là loại hình nghệ thuật tổng hợp. Có sự tham gia của nhiều yếu tố, nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau: tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên, nhạc công, họa sĩ thiết kế… Là sự kết hợp giữa 2 yếu tố bi và hài kịch. Đặc trưng của bộ môn nghệ thuật này là phải hành cuộc sống bằng các hành động kịch, thông qua các xung đột tính cách xảy ra trong quá trình xung đột xã hội, được khái quát và trình bày trong một cốt truyện chặt chẽ với độ dài thời gian không quá lớn. Căn cứ vào nội dung kịch, có thể chia thành các thể loại: hài kịch, bi kịch, bi hài kịch, chính kịch.
Cũng có thể căn cứ vào nội dung của các đề tài mà chia kịch thành: kịch cổ điển, kịch dân gian, kịch thần thoại, kịch hiện đại. Vai trò Sân khấu truyền thống Nhật Bản được coi là suối nguồn của văn hóa xã hội. Góp phần đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục nhân cách, nâng cao nhận thức về các mối quan hệ xã hội, quan hệ huyết thống và luân lý đạo đức đời thường. Là nguồn cảm hứng nội tâm, nâng cao ý chí nghị lực trong cuộc sống.
Ngoài ra, còn tạo nên những cung bậc cảm xúc tinh tế. Tính giáo dục của sân khấu truyền thống ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống con người. Văn học nghệ thuật nói chung và nghệ thuật sân khấu nói riêng là tấm gương phản chiếu của hiện thực đời sống, đồng thời là tiếng chuông cảnh tỉnh cho con người. Qua tác phẩm sân khấu, qua sự diễn xuất của diễn viên, những hoàn cảnh, những tình huống đã lột tả những tính cách, số phận của con người được tái hiện chân thực, sinh động, vừa mang tính cụ thể, lại vừa có tính khái quát cao.
Các tác phẩm sân khấu có vị trí quan trọng trong việc chuyển tải các lý tưởng, nguyên tắc đạo đức tới mọi đối tượng một cách nhẹ nhàng, nhưng lại hết sức sâu sắc. Một tác phẩm sân khấu có giá trị tư tưởng và chất lượng nghệ thuật cao sẽ góp phần tạo nên những mỹ cảm mới mẻ ở người xem, nâng cao giá trị chân thiện mỹ cho con người. Mục đích Thu hút và liên kết những cảm xúc của con người lại với nhau giúp con người tìm hiểu về cuộc sống một cách sâu sắc hơn. Góp phần quan trong trong việc xây dựng con người có chức năng bồi dưỡng đạo đức, tình cảm cho con người.
Nằm trong dòng chảy đó, nghệ thuật sân khấu gắn với cuộc sống của thời đại đem đến cho con người những giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, tạo ra một hệ chuẩn mang tinh thần nhân văn cao đẹp. Với sự nghiệp cao cả đó đã đặt ra cho người nghệ sĩ phải có trách nhiệm lớn lao là đem tác phẩm nghệ thuật để giáo dục, bồi dưỡng hình thành nhân cách, vun trồng đời sống tâm hồn trong sáng, phong phú, tinh tế, nhân hậu 10 cho con người, nâng cao tính xúc cảm chân thực mãnh liệt trước cái đẹp, cái tốt trong quan hệ giữa người với người, trong quan hệ giữa gia đình, bạn bè và xã hội góp phần xây dựng nền móng đạo đức thẩm mỹ của con người. Các loại hình sân khấu truyền thống của Nhật Bản Gồm Noh và Kyogen: bổ khuyết cho nhau. Noh là hình thức kịch nghệ Nhật Bản tồn tại lâu đời nhất và có tên gọi bắt nguồn từ chữ năng trong “kỹ năng” hoặc “tài năng”.
Đây là loại hình nghiêm túc hơn, trong đó diễn viên chính đeo mặt nạ trong một số phân cảnh để góp phần truyền tải câu chuyện tốt hơn. Noh cũng dựa vào âm nhạc ở mức độ nhiều hơn.