Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Lí luận văn học (mã số: 62 22 01 20) của tác giả Trần Thanh Việt với đề tài "Khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý Việt Nam từ 1925 đến 1945" được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Thành Hưng tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (2018).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu nghiên cứu tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Trong bối cảnh văn học đầu thế kỷ XXI tiếp tục tìm tòi các hướng đi mới của tiểu thuyết dòng ý thức và tiểu thuyết hậu hiện đại, việc nhìn nhận lại di sản nghệ thuật của tiểu thuyết tâm lý giai đoạn 1925 - 1945 là cần thiết để đánh giá những đóng góp của thể loại này đối với sự phát triển của văn xuôi quốc ngữ. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trong lý luận phê bình văn học ở Việt Nam, chưa có công trình chuyên khảo nào khảo sát một cách chuyên biệt, có hệ thống về quá trình hình thành, vận động, phát triển cũng như đặc trưng thể tài và vai trò của tiểu thuyết tâm lý giai đoạn 1925 - 1945. Các công trình trước đó chủ yếu mới dừng lại ở việc tiếp cận một vài tác giả, tác phẩm cụ thể hoặc khảo sát từng khía cạnh riêng lẻ.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ sự thay đổi cách nhìn hiện thực, thế giới nhân vật đa chiều, kỹ thuật phân tích tâm lý cùng các phương thức biểu hiện đặc thù của tiểu thuyết tâm lý giai đoạn 1925 - 1945, từ đó khẳng định vị trí của khuynh hướng này trong tiến trình hiện đại hóa tiểu thuyết và văn xuôi tiếng Việt.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 4 nội dung:
- Đưa ra cách hiểu khái quát về đặc trưng nội dung và nghệ thuật của thể loại tiểu thuyết và khuynh hướng sáng tác tiểu loại tiểu thuyết tâm lý.
- Chỉ ra khuynh hướng dịch chuyển từ tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết tự truyện sang tiểu thuyết tâm lý trong tiến trình văn học 1925 - 1945.
- Nhận diện các loại hình nhân vật xuất hiện trong tiểu thuyết tâm lý nhằm phản ánh sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người của các nhà văn giai đoạn 1925 - 1945.
- Làm rõ những cách tân nghệ thuật trên các phương diện kết cấu, cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu của tiểu thuyết tâm lý giai đoạn này.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những tác phẩm tiêu biểu tạo nên khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về thời gian từ năm 1925 (được đánh dấu bằng tác phẩm Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách) đến năm 1945 (khép lại bằng tác phẩm Đứa con của Đỗ Đức Thu). Về không gian, luận án tập trung khảo sát các tác phẩm của các nhà văn ở khu vực miền Bắc. Tác giả lựa chọn khảo sát trực tiếp 28 tác phẩm tiêu biểu (như Tố Tâm, Hồn bướm mơ tiên, Gánh hàng hoa, Nắng thu, Đời mưa gió, Trống mái, Một trái tim, Những ngày thơ ấu, Trúng số độc đắc, Đôi bạn, Ngày mới, Tôi là mẹ, Hạnh, Đẹp, Lan Hữu, Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội, Mực mài nước mắt, Bướm trắng, Lấy nhau vì tình, Hai tâm hồn, Cai, Quê hương, Cô giáo tỉnh lỵ, Cỏ dại, Mưa xuân, Sống mòn, Đứa con) cùng 15 tác phẩm tham khảo mở rộng (Chiếc xuyến vàng, Nửa chừng xuân, Gia đình, Thoát ly, Thừa tự, Băn khoăn, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Làm đĩ, Cánh sen trong bùn, Con đường hạnh phúc, Lòng mẹ, Làm lẽ, Quê người, Lầm than, Bỉ vỏ, Quán Nải).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án hệ thống hóa tình hình nghiên cứu tiểu thuyết tâm lý qua hai chặng đường: các nghiên cứu đương thời (1925 - 1945) và các nghiên cứu từ sau năm 1954 đến nay.
Ở giai đoạn 1925 - 1945, các ý kiến lý luận và phê bình đã bước đầu nhận diện tiểu thuyết tâm lý:
- Phạm Quỳnh trong Bàn về tiểu thuyết (1921) dựa trên tiêu chí nội dung, ý nghĩa đã phân định tiểu thuyết tâm lý bên cạnh tiểu thuyết lịch sử, triết học, xã hội.
- Trúc Hà (1932), Thiếu Sơn trong Phê bình và cảo luận (1933) và Nhà viết tiểu thuyết (1935), Lê Tràng Kiều (1935), Như Phong trong Cao vọng của tiểu thuyết (1939) đã bàn luận về sự phát triển của thể loại tiểu thuyết.
- Hải Triều trong Đi tới khuynh hướng tả thực trong văn chương: những khuynh hướng tiểu thuyết (1939) đề cao ý nghĩa của tiểu thuyết tả thực; Trương Chính trong Dưới mắt tôi (1939) khẳng định giá trị tâm lý trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh.
- Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942) đã phân chia tiểu thuyết thành nhiều thể tài (phong tục, luận đề, xã hội, phóng sự, tình cảm, tả chân...), nhận định Hạnh của Khái Hưng là tiểu thuyết tâm lý và chỉ ra sự dịch chuyển từ tiểu thuyết lý tưởng, luận đề sang tiểu thuyết tâm lý ở Nhất Linh, Khái Hưng.
- Thạch Lam trong Theo giòng (1941) khẳng định tiểu thuyết là sự sống và đề cao việc đi sâu vào nội tâm con người; Vũ Bằng trong Khảo về tiểu thuyết (1941) nhấn mạnh nghệ thuật kết cấu và diễn tả tâm lý.
- Trần Văn Giáp (1942), Diệu Anh (1942) và Đinh Gia Trinh (1942) trên tạp chí Thanh Nghị đã phân tích sự chuyển biến của tiểu thuyết Việt Nam từ việc mô phỏng văn chương truyền thống sang tiếp thu kỹ thuật tiểu thuyết phương Tây, chú trọng miêu tả tâm lý.
Ở giai đoạn từ sau 1954 đến nay:
- Các nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Huy Cận, Tế Hanh, Trần Đình Hượu, Nguyễn Hoành Khung, Đỗ Đức Hiểu đã đánh giá những thành tựu của văn xuôi lãng mạn và nghệ thuật phân tích tâm lý trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, đặc biệt qua các tác phẩm như Hồn bướm mơ tiên, Bướm trắng.
- Nghiên cứu về văn xuôi hiện thực và các tác giả tiêu biểu có công trình của Trần Đăng Suyền (Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa tâm lý trong sáng tác của Nam Cao), Nguyễn Huệ Chi (nghiên cứu về Tố Tâm), Bích Thu (nghiên cứu về Sống mòn), Đinh Lựu (nghiên cứu tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng), Lê Thị Dục Tú (Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn), Ngô Văn Thư (Bàn về tiểu thuyết Khái Hưng), Lê Thị Ngân (Mô hình tiểu thuyết Lê Văn Trương và sức hấp dẫn của mô hình này).
- Các luận án chuyên sâu gần thời điểm nghiên cứu gồm: Trần Thị Trâm (1996) về tiểu thuyết Tố Tâm; Dương Thị Hương (2001) về nghệ thuật miêu tả tâm lý trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn; Lê Tú Anh (2010) về tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1900 - 1930; Đào Đức Doãn (2011) về bốn dạng cơ bản của tiểu thuyết tâm lý qua Tố Tâm, Lấy nhau vì tình, Bướm trắng, Sống mòn; Phùng Quý Sơn (2013) về loại hình truyện kể văn xuôi 1930 - 1945; Thành Đức Bảo Thắng (2013) về sự giao thoa giữa văn xuôi lãng mạn và hiện thực 1932 - 1945.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: xâu chuỗi, bao quát khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý giai đoạn 1925 - 1945 như một tiến trình thể tài vận động liên tục, chỉ ra quy luật dịch chuyển từ tiểu thuyết luận đề, tự truyện sang tiểu thuyết tâm lý, đồng thời phân tích toàn diện hệ thống nhân vật và các đặc điểm thi pháp nghệ thuật đặc trưng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết về thể loại tiểu thuyết: Luận án tiếp thu các luận điểm của M. Bakhtin (về tính biến đổi của tiểu thuyết, khái niệm "ký ức thể loại"), Milan Kundera (tiểu thuyết là sự chiêm nghiệm về cuộc đời qua các nhân vật tưởng tượng), I. A. Tzurganova, V. Belinsky ("sử thi của đời tư"), G. Pospelov (về ba thể tài: lịch sử - dân tộc, đạo đức - thế sự và đời tư) và các định nghĩa trong Từ điển Văn học Bộ mới.
- Khái niệm tiểu thuyết tâm lý: Luận án tổng hợp các cách hiểu từ The Penguin Dictionary of Literary Terms and Literary Theory của J. Cuddon, The Encyclopedia of The Novel (Athena Vrettos), Sổ tay Văn học (W. F. Thrall và A. Hibbard), xác định: Tiểu thuyết tâm lý là tác phẩm tự sự cỡ lớn tập trung phân tích tâm lý nhân vật, trong đó đời tư và quá trình tâm lý là yếu tố xuyên suốt, chi phối cốt truyện, nhân vật, xung đột và ngôn ngữ.
- Khái niệm khuynh hướng văn học: Luận án sử dụng quan niệm của Lại Nguyên Ân và Trần Hinh, coi khuynh hướng là cộng đồng các hiện tượng văn học liên kết trên cơ sở thống nhất tương đối về định hướng tư tưởng - thẩm mỹ và nguyên tắc thể hiện nghệ thuật; khuynh hướng mang tính chất mở và tạo ra các hình thức trung gian.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng 5 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp lịch sử - xã hội: Đặt tiểu thuyết tâm lý trong bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX để khảo sát sự vận động của thể loại.
- Phương pháp so sánh: So sánh tiểu thuyết tâm lý với các tiểu loại khác (tiểu thuyết phong tục, phóng sự, luận đề, tự truyện); so sánh nhân vật tâm lý trong khuynh hướng lãng mạn và hiện thực.
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phân tích cấu trúc tác phẩm trên các bình diện tổ chức kết cấu, cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu và thi pháp nhân vật.
- Phương pháp loại hình: Khảo sát và phân loại các kiểu nhân vật chịu áp lực tinh thần, khủng hoảng tâm lý trong tiểu thuyết giai đoạn này.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức văn học với lịch sử học, xã hội học, văn hóa học và tâm lý học.
Nguồn tư liệu khảo sát
| Nhóm tác phẩm |
Tác phẩm tiêu biểu (Năm xuất bản - Tác giả) |
| Giai đoạn mở đầu (1925 - 1930) |
Tố Tâm (1925 - Hoàng Ngọc Phách), Nước hồ Gươm (1928 - Lan Khai) |
| Giai đoạn phát triển (1933 - 1939) |
Hồn bướm mơ tiên (1933 - Khái Hưng), Gánh hàng hoa (1934 - Khái Hưng, Nhất Linh), Nắng thu (1934 - Nhất Linh), Đời mưa gió (1935 - Khái Hưng, Nhất Linh), Trống mái (1936 - Khái Hưng), Một trái tim (1937 - Lê Văn Trương), Trúng số độc đắc (1938 - Vũ Trọng Phụng), Những ngày thơ ấu (1939 - Nguyên Hồng), Đôi bạn (1939 - Nhất Linh), Ngày mới (1939 - Thạch Lam), Tôi là mẹ (1939 - Lê Văn Trương) |
| Giai đoạn hoàn thiện và thoái trào (1940 - 1945) |
Hạnh (1940 - Khái Hưng), Đẹp (1941 - Khái Hưng), Lan Hữu (1940 - Nhượng Tống), Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội (1940 - Nguyễn Bính), Mực mài nước mắt (1941 - Lan Khai), Bướm trắng (1941 - Nhất Linh), Lấy nhau vì tình (1942 - Vũ Trọng Phụng), Hai tâm hồn (1942 - Lê Văn Trương), Cai (1943 - Vũ Bằng), Quê hương (1943 - Nguyễn Tuân), Cô giáo tỉnh lỵ (1943 - Lê Văn Trương), Cỏ dại (1944 - Tô Hoài), Mưa xuân (1944 - Lan Khai), Sống mòn (1944 - Nam Cao), Đứa con (1945 - Đỗ Đức Thu) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này thực hiện việc giới thuyết các khái niệm công cụ và tổng kết lịch sử nghiên cứu:
- Giới thuyết các khái niệm cốt lõi: Thể loại tiểu thuyết, tiểu loại tiểu thuyết tâm lý, khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý. Khẳng định tiểu thuyết tâm lý là sản phẩm của quá trình hiện đại hóa văn học, gắn với sự hình thành của ý thức cá nhân và sự tiếp biến kỹ thuật tự sự phương Tây.
- Khảo cứu tình hình nghiên cứu theo 4 nhóm vấn đề: (1) Vấn đề phân định thể tài tiểu thuyết trong các công trình lý luận từ năm 1921 đến nay; (2) Vấn đề phân tích tâm lý trong tiểu thuyết; (3) Vấn đề nhân vật tâm lý trong các công trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương; (4) Vấn đề khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý trong các luận án và chuyên khảo chuyên sâu.
- Xác định khoảng trống khoa học: Cần có một cái nhìn hệ thống, toàn diện về diện mạo, quy luật vận động và thi pháp của khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý từ năm 1925 đến năm 1945.
Chương 2: Tiểu thuyết tâm lý nhìn từ sự dịch chuyển thể loại
Chương này phân tích các điều kiện hình thành và quy luật dịch chuyển nội tại của thể loại:
- Tiền đề văn hóa - xã hội: Phân tích sự thay đổi cơ cấu kinh tế và giai tầng xã hội ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX; tác động của văn hóa phương Tây và nhu cầu đổi mới nghệ thuật; ảnh hưởng của các cuộc tranh luận văn học (như phong trào Thơ mới, tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh); sự trưởng thành của ý thức cái tôi cá nhân.
- Khuynh hướng dịch chuyển từ tiểu thuyết luận đề sang tiểu thuyết tâm lý:
- Xác định căn cứ dịch chuyển: Tiểu thuyết luận đề tập trung minh họa cho một chủ thuyết, tư tưởng xã hội hoặc cải cách luân lý, trong khi tiểu thuyết tâm lý hướng vào giải mã đời sống bên trong của con người.
- Phân tích sự biến đổi qua sáng tác của các tác giả Tự lực văn đoàn: Từ các tác phẩm mang tính luận đề xã hội rõ rệt như Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân dần chuyển hóa sang các tác phẩm đi sâu khám phá các trạng thái nội tâm phức tạp, vi tế như Lạnh lùng, Bướm trắng, Hạnh.
- Khuynh hướng dịch chuyển từ tiểu thuyết tự truyện sang tiểu thuyết tâm lý:
- Xác định cơ sở dịch chuyển: Từ nhu cầu bộc bạch, giãi bày tâm sự và trải nghiệm cá nhân của tác giả trong các dạng thức tự truyện, nhật ký, hồi ký chuyển dần sang việc khách quan hóa quá trình tâm lý nhân vật.
- Khảo sát các tác phẩm mang yếu tố tự truyện như Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng), Cai (Vũ Bằng), Cỏ dại (Tô Hoài) để chỉ ra sự chuyển biến từ việc thuật lại biến cố cuộc đời sang việc phân tích các chấn thương tinh thần và diễn biến tâm lý cá nhân.
Chương 3: Nhân vật trong tiểu thuyết tâm lý
Chương này tập trung nhận diện sự đổi mới quan niệm về con người và phân loại nhân vật:
- Các khuynh hướng xây dựng nhân vật: Sự dịch chuyển cơ bản từ "nhân vật hành động" sang "nhân vật tâm lý"; tập trung đề cao đời sống tâm lý cá nhân; bản chất nhân vật được khám phá qua sự phát triển nội tại thay vì chỉ phụ thuộc vào các xung đột và biến cố bên ngoài.
- Các kiểu nhân vật cơ bản trong tiểu thuyết tâm lý 1925 - 1945:
- Nhân vật khủng hoảng tư tưởng: Những nhân vật đứng trước sự bế tắc về lý tưởng sống, mâu thuẫn giữa khát vọng cá nhân và chuẩn mực xã hội cũ, hoặc sự vỡ mộng trước thực tại (nhân vật trong tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng, Nam Cao).
- Nhân vật khủng hoảng tâm lý: Những nhân vật trải qua các trạng thái giằng xé nội tâm dữ dội, dằn vặt, âu lo, ám ảnh về cái chết, bệnh tật, sự cô đơn hoặc bất an bản năng (như Trương trong Bướm trắng, Thứ trong Sống mòn, các nhân vật trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng).
- Nhân vật phức hợp các tính cách: Nhân vật không còn đơn tuyến, nhất phiến mà mang tính đa chiều, lưỡng phân giữa thiện và ác, lý trí và bản năng, tha hóa và chống tha hóa.
Chương 4: Đặc điểm nghệ thuật của tiểu thuyết tâm lý
Chương này làm rõ các đặc trưng thi pháp của tiểu thuyết tâm lý:
- Kết cấu tâm lý: Kết cấu tác phẩm không vận động thuần túy theo trật tự thời gian tuyến tính hay sự kiện biên niên mà được tổ chức theo mạch cảm xúc, hồi ức, liên tưởng và dòng chảy nội tâm của nhân vật.
- Cốt truyện tâm lý: Cốt truyện sự kiện ngoại tại bị thu hẹp hoặc chỉ đóng vai trò làm điểm tựa; cốt truyện bên trong (cốt truyện tâm lý) với các biến cố nội tâm trở thành trục vận động chính của tác phẩm.
- Ngôn ngữ chú trọng cảm xúc, tâm trạng:
- Ngôn ngữ miêu tả trực tiếp các rung động cảm giác và trạng thái tâm hồn tinh tế.
- Sử dụng rộng rãi các hình thức diễn ngôn gián tiếp tự do, độc thoại nội tâm và nửa trực tiếp nhằm diễn đạt những ngóc ngách của tiềm thức và ý thức.
- Giọng điệu chủ đạo: Sự kết hợp giữa giọng điệu trữ tình sâu lắng (thể hiện sự cảm thông, chia sẻ với những chấn thương nội tâm) và giọng điệu triết lý suy tư (chiêm nghiệm về kiếp nhân sinh và bản thể con người).
Kết quả và những đóng góp mới
-
Về mặt lý luận:
- Luận án đã khái quát một cách hệ thống khuynh hướng vận động và phát triển của dòng tiểu thuyết tâm lý Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945 trong tiến trình hiện đại hóa văn học.
- Luận giải cơ chế vận động thể loại thông qua quy luật dịch chuyển từ tiểu thuyết luận đề và tiểu thuyết tự truyện sang tiểu thuyết tâm lý, làm rõ sự tương tác giữa quan niệm nghệ thuật về con người và phương thức tự sự.
-
Về mặt thực tiễn:
- Xác lập diện mạo thể tài của tiểu thuyết tâm lý thông qua việc phân loại 3 kiểu nhân vật tiêu biểu (nhân vật khủng hoảng tư tưởng, nhân vật khủng hoảng tâm lý, nhân vật phức hợp các tính cách).
- Chỉ ra hệ thống đặc điểm thi pháp của tiểu thuyết tâm lý giai đoạn 1925 - 1945 trên các bình diện kết cấu tâm lý, cốt truyện tâm lý, ngôn ngữ cảm xúc và giọng điệu trữ tình - triết lý.
- Khẳng định giá trị của các tác phẩm tiêu biểu từ Tố Tâm (1925), qua các sáng tác của Tự lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương đến đỉnh cao Sống mòn (1944) và Đứa con (1945).
-
Kiến nghị khoa học:
- Đề xuất cần nhìn nhận tiểu thuyết tâm lý giai đoạn 1925 - 1945 như một giai đoạn nền tảng định hình tư duy nghệ thuật hiện đại cho văn xuôi Việt Nam, từ đó tạo tiền đề để đối thoại và tiếp nối với các khuynh hướng tiểu thuyết đương đại trong thế kỷ XXI.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do điều kiện tư liệu và phạm vi nghiên cứu được xác định, luận án mới tập trung khảo sát các tác phẩm của các tác giả ở khu vực miền Bắc, chưa có điều kiện đi sâu khảo sát diện mạo và đặc điểm của tiểu thuyết tâm lý ở khu vực Nam Bộ (mặc dù đã xác nhận thể tài này có manh nha sớm từ các sáng tác Nam Bộ).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng diện khảo sát sang các tác phẩm văn xuôi tâm lý Nam Bộ đầu thế kỷ XX để có cái nhìn toàn cảnh trên phạm vi cả nước.
- Tiếp tục nghiên cứu mối liên hệ giữa thành tựu tiểu thuyết tâm lý 1925 - 1945 với tiểu thuyết dòng ý thức và tiểu thuyết tâm lý đương đại trong văn học Việt Nam thế kỷ XXI.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu lịch sử văn học, lý luận văn học, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
- Chương 2 cung cấp khung phân tích về sự dịch chuyển thể loại từ luận đề và tự truyện sang tâm lý.
- Chương 3 cung cấp mô hình phân loại nhân vật tâm lý hữu ích cho việc phân tích tác phẩm văn xuôi 1925 - 1945.
- Chương 4 cung cấp hệ thống tiêu chí thi pháp (kết cấu, cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu) để nhận diện tiểu thuyết tâm lý.
Câu hỏi thường gặp
-
Vì sao luận án giới hạn mốc thời gian khảo sát từ năm 1925 đến năm 1945?
Mốc 1925 được chọn vì gắn liền với sự ra đời của tiểu thuyết Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) – tác phẩm tạo bước ngoặt mở đầu cho khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý hiện đại. Mốc 1945 gắn với tác phẩm Đứa con của Đỗ Đức Thu khép lại giai đoạn phát triển này, trước khi bối cảnh lịch sử - xã hội chuyển sang cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập, dẫn đến việc tạm ngưng khuynh hướng sáng tác trên.
-
Tiểu thuyết tâm lý được luận án định nghĩa như thế nào?
Luận án định nghĩa tiểu thuyết tâm lý là tác phẩm văn xuôi tự sự cỡ lớn tập trung phân tích tâm lý nhân vật, trong đó đời tư và quá trình tâm lý của nhân vật là yếu tố xuyên suốt, chi phối cốt truyện, cách thể hiện nhân vật, kiểu xung đột và ngôn ngữ của tác phẩm; đồng thời gắn với kỹ thuật độc thoại nội tâm và có mối liên hệ với các lý thuyết tâm lý học hiện đại.
-
Sự dịch chuyển từ tiểu thuyết luận đề sang tiểu thuyết tâm lý diễn ra như thế nào?
Tiểu thuyết luận đề ban đầu chú trọng truyền tải một tư tưởng cải cách xã hội, luân lý (như chống gia đình phong kiến trong Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân). Trong quá trình sáng tác, các nhà văn dần chuyển trọng tâm từ việc chứng minh luận đề xã hội sang việc khám phá các xung đột nội tâm, những rung động cảm giác và diễn biến tâm lý phức tạp của cá nhân (tiêu biểu như trong Lạnh lùng, Bướm trắng, Hạnh).
-
Ba kiểu nhân vật cơ bản trong tiểu thuyết tâm lý 1925 - 1945 gồm những kiểu nào?
Luận án phân loại 3 kiểu nhân vật: (1) Nhân vật khủng hoảng tư tưởng (bế tắc về lý tưởng sống, mâu thuẫn giữa khát vọng cá nhân và thực tại); (2) Nhân vật khủng hoảng tâm lý (rơi vào trạng thái hoang mang, dằn vặt, bất an, ám ảnh bệnh tật hoặc cái chết); (3) Nhân vật phức hợp các tính cách (tính cách đa diện, lưỡng phân giữa thiện và ác, bản năng và lý trí).
-
Nghệ thuật tổ chức kết cấu và cốt truyện trong tiểu thuyết tâm lý có đặc điểm gì khác biệt?
Kết cấu tiểu thuyết tâm lý chuyển từ kết cấu biên niên sự kiện sang kết cấu tâm lý vận động theo hồi ức, liên tưởng và dòng chảy nội tâm. Cốt truyện ngoại tại (sự kiện bên ngoài) bị đẩy xuống hàng thứ yếu, nhường chỗ cho cốt truyện nội tại (các biến cố tâm lý, quá trình tự nhận thức của nhân vật).
Kết luận
Luận án "Khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý Việt Nam từ 1925 đến 1945" của tác giả Trần Thanh Việt là công trình nghiên cứu chuyên sâu về sự hình thành, vận động và thi pháp của tiểu loại tiểu thuyết tâm lý trong văn xuôi quốc ngữ nửa đầu thế kỷ XX. Bằng việc phân tích quá trình dịch chuyển thể loại từ luận đề và tự truyện sang tâm lý, luận án đã làm rõ sự đổi mới căn bản trong quan niệm nghệ thuật về con người và hiện thực của các nhà văn giai đoạn này. Hệ thống hóa các kiểu nhân vật cùng các đặc trưng về kết cấu, cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu trong luận án đã khẳng định vị trí nền tảng của tiểu thuyết tâm lý đối với tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.