mở đầu thiên truyện; hành động đó mang dấu ấn tâm lý rõ nét. Sự thay đổi nhận thức cùng những diễn biến tâm lý của Chí Phèo là một quá trình dài: ban đầu là một nông dân lương thiện, sau khi ở tù về thì trở thành nỗi khiếp sợ trong mắt mọi người; rồi cuộc gặp gỡ và tình yêu với Thị Nở đã làm sống dậy những mơ ước bình dị nhất; để rồi bị từ chối tàn nhẫn và cuối cùng là giết Bá Kiến và tự sát. Ngoài cốt truyện, nhân vật thì ngôn ngữ, giọng điệu góp phần không nhỏ vào sự thành công của dòng truyện ngắn hiện thực. Nét chung nhất của các nhà văn thuộc dòng này là sự khách quan đôi khi đến lạnh lùng.
Tuy vậy, mỗi tác giả tạo dấu ấn riêng nhờ phong cách cá nhân của mình. Nguyễn Công Hoan sử dụng ngôn ngữ quần chúng với sự chọn lọc và nâng cao, đậm đà màu sắc cuộc sống. Giọng văn của ông có sắc thái sinh động đặc biệt khiến người đọc có cảm giác nhà văn đang nói chuyện với mình. Văn phong của Nguyễn Công Hoan trong sáng, linh hoạt, sống động được biểu hiện bằng một giọng điệu trào phúng với nhiều cung bậc, sắc thái: có cả hài hước, mỉa mai, diễu cợt, lên án… (Gái tân thời, Thật là phúc, Đào kép mới, Đàn bà là giống yếu…).
Nhờ sự am hiểu sâu sắc về nhiều hạng người trong xã hội mà ngôn ngữ trong truyện Vũ Trọng Phụng có sự sống động của cuộc đời. Nhà văn để nhân vật phát ngôn thứ ngôn ngữ đặc trưng của từng hạng người. Giọng điệu của 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ông mang sắc thái khi bi hài, khi gai góc, sắc cạnh, khi lại đầy suy tưởng triết lý (Bộ răng vàng, Đoạn tuyệt, Lấy vợ xấu, Ăn mừng, Đời là một cuộc chiến đấu). Ngôn ngữ của Nam Cao rất linh hoạt: lúc giàu suy tưởng triết lý, lúc lại bình dị, gần gũi, chân thực biểu đạt ý chính xác, tự nhiên.
Nhìn chung, giọng điệu của Nam Cao có sự tổng hợp nhiều giọng điệu khác nhau được tác giả thể hiện tùy vào đối tượng: có khi khách quan đến lạnh lùng, tàn nhẫn; khi suy tư, lúc hài hước mang niềm chua xót buồn thương. Hơn tất cả, bằng giọng điệu rất riêng, ông thể hiện tấm lòng yêu thương, cảm thông cho số phận người nông dân, trí thức phải sống trong cảnh đau khổ, bế tắc (Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Trăng sáng…). Sự bao quát trên đây tuy chưa thực sự đầy đủ, nhưng chúng ta có thể thấy được những đặc trưng cơ bản cũng như phong cách sáng tác khác nhau của các tác giả tiêu biểu trong cả hai dòng truyện ngắn trữ tình và hiện thực. Hơn nữa, chúng tôi cũng muốn khẳng định vị trí vai trò của hai dòng truyện ngắn này vào công cuộc hiện đại hóa văn học nói riêng và sự phát triển của văn xuôi hiện đại nói chung.
Sự nghiệp sáng tác của Thế Lữ 1. Vài nét về con người Thế Lữ Thế Lữ sinh ngày 6 tháng 10 năm 1907 trong một gia đình viên chức nhỏ tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Ban đầu ông có tên khai sinh là Nguyễn Đình Lễ, sau đó đổi thành Nguyễn Thứ Lễ vì là con thứ. Khi anh trai ông mất ở tuổi 11, gia đình lấy lại tên Nguyễn Đình Lễ.
Một thời gian sau ông lấy lại tên Nguyễn Thứ Lễ, khi viết văn nói lái lại thành Nguyễn Thế Lữ, rồi rút gọn thành Thế Lữ. Ngoài ra, ông còn dùng bút danh Lê Ta để viết báo. Lúc còn nhỏ ông sống ở Lạng Sơn, sau đó về Hải Phòng học, đến năm 22 tuổi, ông thi đỗ dự thính vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học được một năm thì bỏ. Ông viết truyện, làm thơ từ khá sớm và bắt đầu đóng kịch từ năm 1928.
Đến năm 1932, ông được mời làm báo Phong hóa rồi gia nhập Tự lực văn đoàn, là 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một trong những người sáng lập văn phái này. Ông là nhân vật chủ chốt cho cả Phong hóa và Ngày nay, là cây bút có lối viết sắc sảo và tinh tế. Trong lĩnh vực thơ ca, Thế Lữ được biết đến nhiều nhất là bài Nhớ rừng (1934) ông đã trở thành nhà thơ tiêu biểu nhất của buổi đầu thơ mới và là người góp phần quan trọng nhất để bắt đầu phong trào Thơ mới lúc bấy giờ. Không chỉ thơ, Thế Lữ còn quan tâm đến nhiều ngành nghệ thuật khác nhau như văn xuôi, kịch nói.
Là thành viên Tự lực văn đoàn, ông vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc viết bài, biên tập, sáng tác các tác phẩm văn chương; nhưng bên cạnh đó, kịch nói và sân khấu vẫn là một niềm đam mê. Cùng một lúc ông đảm nhận nhiều công việc trong đoàn kịch như viết kịch bản, làm diễn viên, đạo diễn, chỉ đạo nghệ thuật. Ông tham gia ban kịch Tinh hoa, xây dựng ban kịch Thế Lữ, rồi ban kịch Anh Vũ. Bên cạnh đó, ông còn dịch nhiều tài liệu nước ngoài về sân khấu và kịch các loại.
Ngay từ khi còn trẻ, Thế Lữ đã có tư tưởng tiến bộ, ông tham gia Thanh niên cách mạng đồng chí hội khi mới hai mươi mốt tuổi. Trước Cách mạng, khi Tự lực văn đoàn ngừng hoạt động, ông đã chỉ đạo đoàn nghệ thuật đi phục vụ dọc miền đất nước, đưa đoàn kịch vào chiến khu để phục vụ kháng chiến. Năm 1948, ông được bầu làm Ủy viên thường vụ Ban Chấp hành tại Đại hội thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam. Thế Lữ cũng là trưởng đoàn sân khấu Việt Nam năm 1948-1949.
Cuối năm sau đó, Thế Lữ phụ trách đoàn kịch Chiến thắng, tổ chức đi biểu diễn ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Năm 1955, ông là trưởng ban Nghiên cứu Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, đồng thời là trưởng đoàn Đoàn Văn công nhân dân Trung ương, tham gia hội diễn ở Nhà hát nhân dân thành phố Hà Nội. Ông chỉ đạo đoàn Ca múa nhân dân Trung ương đi biểu diễn ở Trung Quốc, Liên Xô, Ba Lan. Từ năm 1957-1977, Thế Lữ giữ cương vị Chủ tịch Hội Nghệ sỹ sân khấu Việt Nam từ ngày đầu thành lập.
Ông là một trong những hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1962, tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc, Thế Lữ được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành. Thế Lữ lập gia đình riêng từ khá sớm, khi mới mười bảy tuổi. Ông chỉ có con với người vợ đầu là bà Nguyễn Thị Khương.
Người con cả của họ sống ở miền Bắc, có thời gian đi theo bố, được truyền nghề cộng thêm tố chất sẵn có, đã trở thành nhà đạo diễn kịch nói nổi tiếng Việt Nam, đó là Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Đình Nghi. Nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghi đã qua đời năm 2001. Vợ Nguyễn Đình Nghi, nghệ sỹ ưu tú Nguyễn Thị Mỹ Dung cũng theo nghiệp sân khấu. Cuối năm 1938, Thế Lữ kết hôn với người vợ thứ hai là diễn viên kịch nói Song Kim, bà sinh năm 1913 tại Hà Đông.
Từ đó, họ vừa là bạn đời, vừa là bạn nghề. Do tài năng vốn có cộng với sự dìu dắt của Thế Lữ, Song Kim đã trở thành một nghệ sỹ có tên tuổi, được phong tặng danh hiệu Nghệ sỹ Nhân dân. Bà đang sống tại Hà Nội, từng sở hữu một số tài liệu quý về sự nghiệp sáng tác của Thế Lữ. Năm 1979, Thế Lữ vào Thành phố Hồ Chí Minh sống với người vợ đầu và các con.
Mười năm sau ông qua đời ở đó do tuổi già, hưởng thọ tám mươi hai tuổi. Năm 2001, Thế Lữ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật với hai tác phẩm Cụ đạo, Sư ông và Đề Thám. Đó là hai vở kịch ông tham gia với vai trò diễn viên, đạo diễn, viết kịch bản, được công diễn nhiều lần từ kháng chiến chống thực dân Pháp cho tới sau này. Thế Lữ, người mở đầu một trào lưu thơ ca.
Thế Lữ đã ra mắt độc giả hơn 50 bài thơ, chủ yếu được sáng tác trước năm 1945 và được in trên báo Phong hóa và Ngày nay, sau tập hợp vào hai tập thơ: Mấy vần thơ (1935), Mấy vần thơ (tập mới, 1941). Có rất nhiều người đánh giá vai trò của ông với thơ mới, đáng chú ý là ý kiến của Vũ Ngọc Phan : “ Phan Khôi, Lưu Trọng Lư chỉ là những người làm cho người ta chú ý đến 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thơ mới mà thôi, còn Thế Lữ mới chính là người làm cho ta tin cậy ở tương lai của thơ mới” [3, tr. Một ý kiến khác của Hoài Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam: “Độ ấy thơ mới vừa ra đời. Thế Lữ như vầng sao đột hiện, ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam” [3, tr.
Có thể thấy, Thế Lữ là nhà thơ tiên phong mở đầu cho phong trào Thơ mới. Ông đã mang đến cho thơ mới những sáng tác đầy giá trị. Vào buổi đầu ấy, ông đã thổi hồn mới vào thơ mà đối với lớp người cũ người ta chỉ quen ngâm thơ Tản Đà, Á Nam, đọc Truyện Kiều,… Bắt đầu từ Nhớ rừng, sau đó là Cây đàn muôn điệu, Tiếng sáo thiên thai…Trong lúc vấn đề cũ và mới trong thơ chưa được phân định thì sự cách tân táo bạo cả về hình thức và nội dung của Nhớ rừng đã mang lại sự thắng thế hoàn toàn cho thơ mới. Nhà phê bình Hoài Thanh đã từng nhận xét: “Thế Lữ không bàn về thơ mới, không bênh vực thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiêm bước những bước vững vàng trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ” [3, tr.
Tiếp theo Thế Lữ là cả một thế hệ, một phong trào thi ca sáng tạo và tân tiến như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận,… Thế Lữ là người đi đầu trong phong trào Thơ mới. Ông đã đưa ra một quan niệm có tính tuyên ngôn: thơ phải là cây đàn muôn điệu, phải vang lên những khúc nhạc, giai điệu trong đời. Cảnh vĩ đại, sóng nghiêng trời, thác ngàn đổ Nét mong mang, thấp thoáng cánh hoa bay Cảnh cơ hàn nơi nước đọng bùn lầy; Thú xán lạn mơ hồ trong ảo mộng; Chí hăng hái đua ganh đời náo động Tôi đều yêu, đều kiếm, đều say mê ( Cây đàn muôn điệu) Có thể nói, thơ và cuộc đời có mối liên hệ, cuộc sống là chất liệu của thơ, nhà thơ cần biết khai thác. Nhưng với Thế Lữ, thơ không phải là sự ghi chép tìm tòi về cuộc đời mà ông muốn tìm đến cái đẹp về vật chất và tinh thần.