mở đầu với những sáng tic thơ văn gắn liền với cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao nhất là Xô viết Ngệ Tĩnh. Bộ phân văn học tư sản, tiếu tư sản thời kỳ này nỗi lên là văn. học lãng mạn tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và Thơ mới. Xu hướng văn học phê phán có từ trước 1930 đến thời ky nay phát triển hơn và xác định rõ rằng hơn về phương pháp th tài.
Tiếp đó là thời kỳ 1936-1939 với sự thành công của văn học vô sản, văn học hiện thực phê phần và văn học lãng mạn tư sản, tiễu tư sản. Văn học vô sin khắc họa thành công hình tượng người chiến sĩ cộng, sản say mẽ lí tưởng, mang một tỉnh thần nhân đạo mới mé: Thể loại phỏng sự, ký sự phát triển. Thơ ca cách mạng phát triển. Một loạt nhà thơ cách mạng đã xuất hit Sóng Hồng, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, ố Hữu.
Văn học cách mang thời kỳ này đánh dấu một bước tiến triển mới mẻ của văn học vô sản theo "hướng hiện đại hóa. Bên cạnh đó, văn học hiện thực phê phán phát triển mạnh. mẽ và đạt được nỈ hành tựu xuất Vấn đề nông dân, nông thân được đặt ra trong tác phẩm hiện thực phê phán Øước đường cùng của Nguyễn Công, Hoan, Vo dé cia Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tắt Tố. Vấn đề phong, kiến thực đân được nêu lên một cách gay git trong các tác phẩm hiện thực phê phán: SỐ đó, Giổng tổ của Vũ Trọng Phụng, Tắt đền của Ngô Tất “Tổ.Tác phẩm ên thực phê phán không đừng lại ở truyện ngắn, phóng sự mà phát triển mạnh mẽ ở thể loại tiểu thuyết.
Đây chính là một thành công lớn của văn học hiện thực phê phần thời kì này. Văn học lãng mạn tư sản, tiêu tư sản vẫn tiếp tục phát triển, song nó phân hóa theo các hướng khác nhau. Bên canh chủ đề cũ chống lễ giáo phong kiến và để cao hạnh phúc cá nhân, Tự lực ‘van đoàn còn nêu chủ. mới: chủ trương cải cách bộ mặt nông thôn và cái thiện đời sống cho nông dân trong tác phẩm Gia đình của Khái Hưng, Cam đường sảng của Hoàng Đạo.
Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đề cập tới hình tượng người chiến sĩ như: Đoạn tuyệt, Đổi bạn của nhà văn Nhất Linh. mới vẫn tiẾp tục trên đà phát triển. Cái tôi vẫn được khai thác đến phút chót. Thị dày, Xuân Diệu nổi lên như một hiện tượng văn học.
Cái tôi của các nhà thơ mới cảng đi sâu vào thể giới yêu đương thì cảng cô đơn, lạc lồng và cảng sợ sết. Đồi với thời kỳ cuối cùng, thời kỹ 1939-1945, văn học vô sản rút vào bí mật nhưng vẫn phát triển mạnh mẽ. Thơ ca cách mạng trong tù và thơ cea cách mạng ngoài nhà tủ phát triển. Văn học vô săn nói nhiều tới tương Ini, một tương lai rực rỡ đang tiến gin.
Thơ Tổ Hữu trưởng thành nhanh chóng. như tập Từ áy. Tập Nhật kí trong từ của Hỗ Chỉ Minh cũng ra đời rong thời kỉ này. Thời kì này, thơ tuyên truyền kết hợp với thơ trữ tỉnh cách mạng cảng thấm thía, sâu sắc hơn.
Hàng loạt bài chính luận của đồng chí Trường Chỉnh xuất hiện trên c: béo chí của Đăng vào thời ki này cũng có nhiều giá trị văn học. Văn học vô sản trong những năm tiền khởi nghĩa đã góp phần quan trọng. vào cuộc vận động cách mạng của Đảng, đập tan chế độ thuộc địa, giành thắng lợi trong những ngày tháng 8 lịch sử 1945. Trong khi đó, văn học hiện thực phê phần có sự phân hóa: Có nha văn thì chết (Vũ Trọng Phụng); có nhà văn không, nữa chuyển sang khảo cứu địch thuật như Ngô Tổ,.
Một thể hệ nhà văn hiện thực mới ra đời: Nam Cao, Nguyễn Tuân, Mạnh Phú Tư, Nguyễn Đình Lạp, Bùi Hiễn,. Nhà văn hiện thực vẫn tiếp tục miêu tả cuộc sống tim tối của người nông dân Chí Phè Lão Hạc của Nam Cao; Sống nhở của Mạnh Phú Tư. Cuộc sống bể tắc mòn mỏi của người trí thức tiểu tư sản cũng được các nhà hiện thực đề cập một cách sâu sắc qua Sống mòn, Đời thừa, Trăng sáng của Nam Cao. Các nhà văn nêu lên mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp thống trị với tằng lớp nhân dân lao động.
Đối với văn học lãng mạn: Cái tôi có sự phân hóa và phát triển đa dạng. Trong đó, "Nguyễn Tuân nổi lên là cây bút tiêu biểu cho trào lưu lăng mạn tư sản, tiểu tư sản trung văn xuôi. Cũi ngông của Nguyễn Tuân xuất hiện, đỏ là một thứ ngông lịch lãm, tai hoa. Ở Nguyễn Tuân còn xuất hiện chủ nghĩa xê địch, đó cũng là thứ xế dịch chân thành và những rung căm rất tỉnh tế.
Dòng thơ điên, thơ loạn, thơ say cảng phát triển mạnh. Tắt cả đều là những hình thức chuyển hóa, phân hóa nghệ thuật theo các khuynh hướng khác nhan. “rong thời ky 1930-1945 đã xuất hiện nhiều văn đoàn, nhiều nhóm phái văn chương như Xuân thu nhã tập, nhóm Tao Đàn, nhóm thơ Bình Định, trường thơ Bạch Nga, nhóm thơ Da Đài. Trong những nhóm phải trên, Xuân thu nhã tập nỗi lên đặc biệt là về lý thuyết nhưng lại chưa có được những tác phẩm văn chương phù hợp với tôn chỉ.
Tự lực văn đoàn ra đời với hướng sáng tác theo tôn chỉ gồm 10 điều: “Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn chuong thôi: Mục đích là é lam thêm văn sản trong nước; soạn hay địch những cuốn sách có tư tưởng xã hội. Chú ý làm cho người và cho xã hội ngày một hay hơn; theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách. có tính bình dân và lông cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân; dùng một lối văn giản dị, đễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách An Nam; lúc nào cũng mới mẻ, yêu đời, có chí phần đầu và tìn ở sự tiến bộ; ca tụng, những nét hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân, không có tính cách trưởng giả mà quý phái: trong tư do cá nhân; làm cho đạo không không hợp thời nữa; đem phương pháp Thái tây áp dung vào văn chương Việt Nam; theo một trong chín điểm này cũng được miễn là đừng trái ngược với những điều khác” Da t6n chỉ của nhóm Tự lực văn đoàn có những điều trùng lặp như các điều 2, 3, 6 hoặc không quan trọng như điều 10, mang tính nửa vời, chưa thật tập trung theo một quan điểm tiền bộ có hệ thống và căn cứ thực tẾ.nhưng hoạt đông đưa trên những tôn chỉ này, nhóm Tư lực văn đoàn đã thực sự chiếm ưu thể tuyệt đối trên văn đân công khai, sách báo của ho in đẹp nhất, bin chạy nhất, cô một ảnh hưởng nhất định trong giới tr th + tư sản và tiểu tư sản thành thị. Cũng với phong trào Thơ mới, Tự lực văn đoàn như bổ hoa của văn chương khí bước vào thời kỳ hiện đại.
Lớp công chúng văn học mới với "hãng vạn viên chức, sinh viên, học sinh đã mang đặc điểm của thể hệ công chúng mới. Họ khát khao sống tươi trẻ, tự do với thời hiện đại. Họ muốn bộc. lộ suy nghĩ vả tỉnh cảm của mình trong cuộc sống.
đặc biệt là lớp trẻ với tình yêu và hĩ vọng. Những trang văn của Tự lực văn đoàn cũng như những áng thơ của phong trảo Thơ mới đã đép ứng được một phần yêu cầu và mong ước của họ. ‘Tom lai, lich sử phát triển 15 năm của xã hội cũng là sự phát trin của văn học 1930 - 1945. Trong quá trình phát triển cũng có lúc nhanh, lúc châm nhưng trong hoàn cảnh nào văn học giai đoạn 1930- 1945 cũng là tiên đề phát u cho nền văn học Việt Nam sau nay.
Hành trình đến với văn học của Nhất Linh Văn học Việt Nam thay đổi từ diện mạo tới nội dung, hàng loạt những, thể tải, thể loại mới hình thành và phát triển, một đội ngũ đông đáo các nhà văn sung sức tung hoành trên khắp mọi lĩnh vực văn chương. Một trong những đại điện xuất sắc của đội ngũ này là Nhất Linh. Nhat Linh (1906-1963) tên khai sinh là Nguyễn Tường Tam. Ông quê ở Quảng Nam nhưng sinh ở huyện Cắm Giảng, tỉnh Hải Dương trong một gia đình viên chức có gốc Nho học và quan lại.
Đậu bằng Cao đẳng tiểu học năm 1923, ông có học đại học một năm rồi học trường mỹ thuật, song lại bỏ ngang. Năm 1927, ông xin đi du học về ngành chụp ảnh, nhưng khi sang Pháp, công lại chọn ngành khoa học vì nghĩ rằng đất nước còn lạc hậu, học khoa học về để giúp nước, ông đậu cử nhân khoa học. Trong vòng hơn hai năm du học ở Pháp, Nhất Linh là một trong những người Việt Nam đầu tiên nhận bằng cử ốc”. Những tháng ngày sống ở Pháp, ngoài việc học khoa học, Nhất Linh còn chuyên tâm nại ên cứu văn học nghệ thuật phương Tây.
Chính vì vậy, khi về nước, ông đã thối vào văn học Việt Nam một luồng sinh khí mới đậm nét hiện đại theo kiểu phương Tây Sau những năm du học tại Pháp, Nhất Linh trở về nước và tham gia thành lập nhóm Tự lực văn đoàn vào năm 1933, đảm nhân nhiều hoạt động của nhóm như chủ bút Phong hóa rồi Ngày nay, phụ trách Nhà xuất bản Đời nay của Tự lực văn đoàn, chức Hội ánh sing, ng được đánh giá là cây bút vào loại sáng giá nhất của Tự lực văn đoàn. "Nhất Linh vào đời văn khá sớm và có đời văn khá dài. Tác phẩm đầu tay Nho phong được viễt năm 1924 - 1925 vi in năm 1926. Tiếp đó là Người quay tơ (1927).
Những cuốn tiểu thuyết này còn viết theo lỗi nệ cổ, ít được chú ý. Giai đoạn thứ 2 là thời kỳ Nhất Linh có những đóng góp đặc biệt, ngồi bit đổi thay và khởi sắc, gây được ấn tượng rộng rãi với bạn đọc. Nhất Linh viết chung với Khái Hưng các tác phẩm Gánh hàng hoa (1934), Đời mưa gió (1934) và một số sing tác của riêng mình khé n tong: Lanh lùng (1936), Tắt tăm (tập truyện, 1936), Hai buổi chiều vàng (1931), Đối ban (1937) va. Tắc phẩm của ông đã chỉnh phục được người đọc thời kỳ nây không chỉ với nội dung phong phú, hấp dẫn mà ông còn gây chú ý với khả năng xây dựng tác phẩm, sáng tạo nhân vật, phân tích tâm lí, hành văn, trong cách kết cấu tiểu thuyết hiện đại không theo trật tự thời gian, câu chuyện có thé phát triển theo tâm lý nhân vật và cũng có thể đột ngột chuyển.