Phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Trong đó, phần nội dung là trọng tâm, được trién khai thành 4 chương: Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của luận văn Chương 2. Cái nhìn mới về chiến tranh qua thế giới nhân vật Chương 3.
Cái nhìn mới về chiến tranh qua một số vấn đề trong xã hội Chương 4. Thi pháp tiêu thuyết 19 CHUONG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA LUẬN VAN 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Văn học tiền phong (tỉnh hoa) và văn học đại chúng 1.1 Văn học tiền phong (tỉnh hoa) Văn học tiền phong không phải khái niệm chỉ một thé loại văn học, mà dé chỉ một tư duy sáng tác. Văn học tiền phong chú trọng sự sáng tạo trong nghệ thuật, thỏa mãn nhu cầu thưởng thức những cách tân nghệ thuật trong bộ phận người đọc có trình độ nghệ thuật cao và giàu kinh nghiệm nghệ thuật.
Chính vì thế, văn học tiên phong luôn tìm tòi cách tân về ngôn từ, thể loại, thủ pháp nghệ thuật và tìm cách chống lai sự phô cập hóa, công thức hóa của hình thức; phá vỡ những cau trúc văn học đã có. Các nhà văn tiên phong cho rằng cách tân nghệ thuật mới là giá trị đích thực của sáng tác, là một trong những mục đích mà họ theo đuổi. Bên cạnh đó, như đã nói ở trên, văn học tiền phong chú trọng giải quyết các vấn đề văn học. Các nhà văn tiền phong có xu hướng quan tâm đến xã hội, họ tự cho rằng giá trị và tính nhân văn cần phải có của một nhà văn là trách nhiệm đối với xã hội và sứ mệnh lịch sử cao cả.
Mục tiêu của các tác phâm thuộc dòng văn học này là giải quyết các vấn đề văn học, thúc đây sự phát triển của văn học, đặt van dé, chất vấn lại các mô hình văn học đã có, đưa ra sự hoài nghi, tạo ra các mẫu thử nghiệm. Chính bởi vậy mà đối tượng hướng đến của các tác phẩm văn học tiền phong không phải đại chúng. Các nhà văn tiền phong thường không viết nhiều, nhưng những tác phẩm của họ là sự đặc tuyến, mang lại những giá tri lớn lao cho nền văn học nghệ thuật nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung. Văn học đại chúng Bên cạnh bộ phận văn học tiền phong nói trên, có ton tai một bộ phận văn học hướng đến đại chúng.
Trong bài viết Nghệ thuật đại chúng như một nhân to phổ biến hệ giá trị văn hóa quốc gia, Phạm Xuân Thạch đã khang dinh: 20 “Trong đời sống văn hóa ở Việt Nam hiện nay, sự phô biến và phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật đại chúng là một thực tế không thể chối cãi. Đó là một hiện thực đã được Đảng và Nhà nước thừa nhận về mặt lí luận cũng như về mặt pháp lí. Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đã chuyền sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tất yếu sẽ diễn ra các tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự hình thành nền công nghiệp văn hóa. Như phân tích của những nhà Marxist thì đó chính là những điều kiện căn bản hình thành nền văn hóa đại chúng mà nghệ thuật đại chúng là một trong những cấu phần quan trọng.” Như vậy có thé khang định, van hoc dai chúng (một bộ phan cua nghệ thuật đại chúng) đang ngày một phát triển mạnh mẽ và dan khang định được vai trò của mình.
Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa văn học đại chúng như sau: “Còn gọi là văn học thông tục. Cơ so tư tưởng của văn học đại chúng là chủ nghĩa thực dụng. Co sở xã hội của văn học đại chúng là chính sách nhượng bộ đối với lớp thị dân: dùng phương tiện sản xuất hàng loạt dé nuôi dưỡng tâm lí tiêu dùng. Điểm mau chốt của văn học đại chúng là làm cho người ta được can dự vào văn hóa hiện đại dưới dạng lược gọn, nó đưa ra một thế phẩm cho sự thỏa thuận thấm mĩ.
Trong một nghiên cứu về văn học đại chúng Nhật Bản, Nguyễn Nam Trân phân tích diễn giải của Cécile Sakai trong từ điển Kôjien: Văn học đại chúng như một hình thức văn học đối lập với văn học thuần túy và nhắm đến quần chúng độc giả bình dân. Như thế, văn học đại chúng được nhận thức như là bộ phận văn chương bình dân, đối lập với tinh hoa (tiền phong), có giá tri giải trí, phục vụ thị hiếu của đông đảo quan chúng nhân dân. Do đặc tính này, từ sự bùng né của văn học đại chúng, sự thay đôi trong quan niệm về giá tri của bộ phận độc giả bình dân, có thé hình dung những thay đổi trong cấu trúc của văn hóa đương đại. 21 Một đặc điểm quan trọng của nghệ thuật đại chúng chính là việc nó được tạo ra dé hướng đến số đông.
Vậy mà, khi được lưu hành trong xã hội, nó sẽ phải chịu sự giám sát của các cơ quan quản lí, của các tổ chức chính trị xã hội. Bản chất của xã hội là luôn tồn tại những nhóm xã hội đa dạng về giá trị và lối sống cững như thấm mỹ. Một tác phẩm nghệ thuật đại chúng muốn được lưu hành và đạt được doanh thu lớn (nghĩa là được một s6 lượng lớn nhất có thể công chúng chấp nhận tiếp thu) thì nó không được phép xâm phạm vào những cam ki, những giá tri mà cả xã hội đề cao, phải dung hòa được với hệ giá trị của các nhóm đa dạng trong xã hội. Đặc trưng của các tiểu thuyết văn học đại chúng là không chất vấn về ý thức hệ, không chat vẫn về nghệ thuật, nó bao giờ cũng phản ánh thé giới quan, quan niệm được xã hội công nhận.
Với văn học đại chúng thay bằng việc theo đuôi những cách tân hình thức nghệ thuật mang tính tiên phong, khai sáng, thì văn học đại chúng chú trọng sự phong phú, xây dựng các chỉ tiết nghệ thuật gây ấn tượng mạnh. Mỗi một tác phẩm khi ra đời đều có chức năng riêng, giá trị riêng. Muốn kiến giải thật chính xác về một tác phẩm, ta cần xem xét và đặt tác phẩm đó trong đúng môi trường, phạm vi sinh thành và phát triển. Trong nghiên cứu này, chúng tôi xếp bộ ba tác phâm Mật đạo, Nghiệp chướng, Ngdu tượng của nhà văn Lưu Vi Lân vào khu vực văn học đại chúng.
Boi Luu Vi Lan không đôi mới các mô hình tiểu thuyết, không làm mới các mô hình nghệ thuật mà tạo ra một cái nhìn mới về thực tại trên nền những mô hình đã có. Ông không đưa ra những chất vấn mang tính ý thức hệ, không chat van nghệ thuật, mà phản ánh thế giới quan, quan niệm được xã hội công nhận. Nhưng không có nghĩa nó chỉ là một sự minh họa cho lịch sử truyền thống. Các tác phẩm của Lưu Vĩ Lân viết không khác gi lịch sử truyền thống nhưng nó góp phần điều chỉnh cách nhìn, quan điểm, hình dung về lịch sử trong công chúng.
Về cuộc chiến tranh ấy về giai cấp tư sản. Bởi vậy, tác phẩm vẫn có những giá trị lớn lao. Tiéu thuyết trinh thám và tiểu thuyết chiến tranh Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc dé phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kê chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định. Tiểu thuyết trinh thám Khái niệm “tiểu thuyết trinh thám” xuất hiện từ khoảng đầu thế kỉ 19 ở Mỹ, từ sau khi bộ ba tác phẩm Vu án đường Morgue, Lá thư bị mat và Bí mật cua Marie Roget của nhà văn người Mỹ Edgar Allan Poe (1809-1849) ra đời.
Sau đó được tiếp nối với Wilkie Collins, Arthur Conan Doyle, John Dicson Carr, Agatha Christie, Stanley Gardner v. Đó đều là những tiểu thuyết mang tính hiện thực, duy lý, có nội dung lớn, thường xoay quanh các tội ác, vụ án hoặc bí ấn đời sống nào đó cần được khám phá, giải quyết và tìm ra thủ phạm. Nhân vật trung tâm của các tiểu thuyết trinh thám là hình tượng thám tử tư trước các vụ án hóc búa. Motif truyền thống của thé loại tiêu thuyết này thường tập trung vào quá trình tìm kiếm manh mối và giải quyết, tìm kiếm nghi phạm.
Các vụ án có thể được mô phỏng vụ án có thật hoặc tình tiết hư cau tùy theo tác giả. Ở Việt Nam, truyện trinh thám xuất hiện khá sớm, từ trước 1945 và được biết đến qua tác pham của các tác giả Thế Lữ và Phạm Cao Củng. Ngay từ hồi đó, các tác phâm đã gây được sự chú ý của độc giả. Sau này, mặc dù có những đứt đoạn song tiêu thuyết trinh thám vẫn tiếp tục phát triển ở cả hai miền Nam - Bắc với những hình thức khác nhau.
Đến thập niên 1990, do ảnh hưởng của nên kinh tế mở cửa và giao lưu văn hoá quốc tế, trên đất nước ta cũng bùng né nhu cau đọc sách trinh thám. Trong khoảng hơn hai mươi năm đã có hang trăm tác phẩm trinh thám được dich in. Và không chỉ là nhu cầu đọc sách trinh thám của nước ngoài, người Việt ngày càng có nhu cầu đọc trinh thám Việt Nam. 30 23 năm sau khi chiến tranh kết thúc, chúng ta đã có một số lượng sách trinh thám “made in Vietnam” đáng kể.
Ngày nay, nhiều nhà văn đã tham gia viết truyện trinh thám. Trong mây năm gan đây, Bộ Công an kết hợp với Hội Nhà văn Việt Nam t6 chức nhiều cuộc vận động viết và xét nhiều giải thưởng văn học về đề tài bảo vệ an ninh Tổ quốc và trật tự xã hội, trong đó lấy hình ảnh người chiến sĩ công an làm trung tâm, dù không nhắn mạnh vào thê loại tiêu thuyết trinh thám, nhưng vô hình trung đây là một điều kiện dé thé loại này phát triển, vì các tổng kết đã cho thấy, trong tổng số tác phâm tham dự và tác phẩm được trao giải, tiểu thuyết trinh thám luôn chiếm một số lượng không nhỏ. Về góc độ nghiên cứu, ở Việt Nam, tiêu thuyết trinh thám lần đầu tiên được nhận diện trong các nghiên cứu của Vũ Ngọc Phan, cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại. Theo Vũ Ngọc Phan, các nhà văn trinh thám đầu tiên trong văn học Việt Nam làThế Lữ, Phạm Cao Củng va Bùi Huy Phén.
Một số nghiên cứu gan đây cũng đi đến định hình quan niệm về thể loại trinh thám.