Chương 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN 1. Một so khái niệm 1. Khải niệm du lịch tại Việt Nam và Thế giới Theo Đe tài nghiên cứu của tác giả Lâm Thị Hồng Loan1 [16:14], Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình, thì Du lịch ( Tourism) Tiếng Anh có ý nghĩa đầu tiên là khởi hành, đi tới lui. Trong tiếng Hy Lạp là “tornos” cỏ nghĩa đi thành một vòng tức là có đi có về, khi chuyển thành hệ ngôn ngừ Latinh sẽ là “tomus”.
Còn trong tiếng pháp du lịch có gốc từ là “ le-tour” nghĩa là một chuyến từ nơi này tới nơi khác rồi đó roi quay về. Du lịch trong tiếng Việt là một từ Hán Việt + Du: tức là Hành là sự ra đi + Lịch: là sự trải đời người 4 yếu tố:Thực, trú, lạc, y ( ăn, ở, vui chơi, mặc) Tóm lại dựa vào phân tích về mặt từ ngừ có thế thấy rằng “Du lịch” là chỉ hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình, di chuyển từ nơi này tới nơi khác, nhằm mục đích vui chơi giải trí, tìm hiểu nâng cao kiến thức, thăm thân, tìm kiếm cơ hội làm ăn. Do vậy thường gắn liền với các sinh hoạt liên quan đến kỳ nghỉ hoặc các chuyến đi nhằm mục đích trải nghiệm những cảm xúc mới mẻ trong sống cuộc sống con người, góp phần giúp con người gợi mở tư duy và gia tăng sự hiêu biêt. Khái niệm du lịch tại Việt Nam Tại Việt Nam theo Luật Du lịch năm 20172 [17] (Chương l,điều 3), có quy định rõ: “Du lịch là các hoạt động cỏ liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quả 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghi dường, giải trí, tìm hiểu, khám phả tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”(Luậỉ Du Lịch Năm 2017) 1 Lâm Thị Hồng Loan (2012), Phát triển du lịch theo hướng bền vững ờ tĩnh Ninh Bình, Đại học quốc gia Hà Nội.
2 Luật số: 09/2017/QH14-Luật Du Lịch Năm 2017 1 Khải niệm du lịch trên thế giới Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourism OrganizationỸ\yi.\ữ\, một tô chức thuộc Liên Hợp Quôc, “ỠM lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động cùa những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khảm phá và tìm hiếu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quả một năm, ở bên ngoài môi trường song định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền ”. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hắn nơi định cư. Theo Bộ công cụ Hướng dần giảm nghèo thông qua Du lịch của tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labour Organization^ [47:04] có đe cập, lịch được định nghĩa là các hoạt động đi lại của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên cùa mình không quả một năm liên tục đê nghỉ ngơi giải trí, kinh doanh hoặc với mục đích khác. Tô chức Lao động Quốc tế định nghĩa về ngành khách sạn, dịch vụ ăn uống và du lịch (HCT) khác so với định nghĩa về ngành du lịch đang được hầu hết các tổ chức sử dụng.
Định nghĩa về lĩnh vực khách sạn, dịch vụ ăn uống và du lịch không chỉ bao gồm dịch vụ cung ứng cho khách du lịch mà còn phục vụ cho cư dân địa phương ” 45 [06:13]với đề tài, Phát triển du lịch Năm 2012 tác giả Đào Thị Bích Nguyệt3 Nha Trang (Khảnh Hòa) theo hướng bền vững, thuộc trường Đại học Sư phạm Thành phố Ho Chính Minh có đề cập khái niệm du lịch cùa tác giả trên thế giới như sau: Azak (Ai Cập)“ Du lịch là một trong những hình thức di chuyên tạm thời, từ một vùng này sang một vùng khác, từ mặt nước này sang mặt nước khác, von không gan với sự thay đôi nơi cư trú hay nơi làm việc ”. 3 Nguyền Thị Huy Hoàng,Quán lý nhà nước về du lịch ớ tinh Tây NinhdẢọc viện hành chính quốc gia. 4 Tô Chức Lao Động Quôc Tê (2012), Bộ công cụ xóa đói giám nghèo thông qua du lịch, NXB ILO, SBN 798 - 604 - 0469 - 6, Hà Nội 5 Đào Thị Bích Nguyệt (2012), Phát triển du lịch Nha Trang (Khảnh Hòa) theo hướng bền vừng, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Ho Chính Minh. 2 Kaspar (Ý) “ Dll lịch là toàn bộ những quan hệ và hiện tượng xảy ra trong quả trình di chuyển và lưu trú của con người tại nơi không phải là nơi ở thường xuyên hoặc nơi làm việc của họ” Kraff (Thụy Sĩ)“ Du lịch là tong hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cả nhân tại những nơi không phải là nơi ở và làm việc thường xuyên của họ” Kalfiotis (Đức) “ Du lịch là sự di chuyển tạm thời của các cả nhản hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức.
Do đó có thể tạo nên các hoạt động kinh tế” Mathieson và Mali (Mỹ) “ Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân tới nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quả trình lưu lại nơi đen và các cơ sở vật chất tạo ra đế đáp ứng những nhu cầu của họ” Michaud (Mỳ): “ Du lịch là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêu thụ phục vụ cho việc đi lại và ngũ lại ít nhất 1 đêm ớ ngoài nơi ở thường ngày với lý do: giải trí, kinh doanh, chừa bệnh, thê thao hoặc tôn giảo” Michael.Coltman (Mỳ):“Z)z/ lịch là quan hệ tương ho do sự tương tác của 4 nhóm cộng đồng bao gồm:Du khách, Cơ quan cung ứng dịch vụ du lịch, cộng đồng phục vụ du lịch, chỉnh quyền nơi dien ra du lịch, dán địa phương tại nơi du lịch từ đó đưa ra định nghĩa: “ Du lịch là tông thể các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa du khách, nhà cung ứng, chỉnh quyền và cộng đồng chủ nhà trong quả trình thu hút và phục vụ nhu cầu của du khách” Tóm lại dùng nhìn nhận theo góc độ nào thì du lịch cũng được định hình là hoạt động liên quan đến những chuyến đi của con người, tùy vào từng thời kỳ, quốc gia, văn hóa mà du lịch sè được định hình, và hiếu khác nhau. Nhưng tính chất duy chuyển và phục vụ nhu cầu của con người vần luôn tồn tại. Khái niệm Tâm Linh Tâm linh là một khái niệm mơ hồ về đời sống tinh thần của con người. Tâm linh đề cao các yếu tố siêu nhiên thiên không thể nhìn thấy bằng mắt thường.
Với góc nhìn của phật giáo trong đề tài nghiên cứu của Trần Thị Bích Hạnh (2016)6[51:11 ], 6 Tran Thị Bích Hạnh (2016), Phát triển du lịch tâm linh ớ Lạng Sơn, chương trình đào tạo thí điểm,Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 3 Phát triển du lịch tâm linh ở Lạng Sơn, chương trình đào tạo thí điểm,Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, chương 1 ,có đề cập như sau: Theo “ Đại đức Thích Quáng Truyền (úy viên Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giảo Việt Nam - Phó Trưởng Ban Thường trực Ban trị sự Giảo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Lạng Sơn) cho rằng: tâm là bản chất, bản tỉnh của moi con người. Nói như Đức Phật Thích Ca thì "tâm " là bản ngã, là cải tôi và tâm sẽ quyết định mọi sự thiện ác, tốt xấu. Tâm sẽ dẫn dắt hành động, lời nói và "tâm " sẽ là chù, quyết định cho nhân cách của moi chúng ta. "Linh" là cải biết, là sự phân biệt.
Từ "tâm " và "linh " thường dùng chung như là sự bô khuyết cho nhau. Tâm linh là cải tâm hiểu biết, phản biệt, là cải ta, cái bán ngã sơ khởi của moi con người ” Trong khóa luận tốt nghiệpNúc tiến du lịch Tâm Linh tại Huế, tác giả Nguyền Ý Xuân7 2019 [36:07], có trình bày, như sau: “ Tâm linh là tin vào siêu hình ảnh có ảnh hưởng tích cực trong công việc ho trợ, bảo hộ, yêu thương, người hướng dẫn và cũng có thể ánh hưởng tiêu cực đến cuộc sống cùa con người. Tích cực yếu tố đáp ứng nhu cầu về mặt tinh thần của con người: co gang kết hợp, lưu trữ hệ thong truyền thông, giáo dục chân thiện mỹ. Bên cạnh đó các yen to tích cực cũng đáng được báo động không kém, đó là tín hiệu cuồng, mù quáng, mê tín dị ứng, de dan đến lợi ích, trục lợi ” Tóm lại theo nhiều học thuyết của Phật giáo về sự luân hồi, thì con người bao gồm hai phần the xác và tâm hồn (linh hồn), và linh hồi chính là phần tâm linh , vô cùng khó nắm bắt và định nghĩa do đó, yếu tố tâm linh luôn luôn là một vấn đề được giới nghiên cứu quan tâm.
Khái niệm du lịch tâm linh Du lịch tâm linh trong tiếng Anh được gọi là “Spiritual tourism”, đây là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh cùa con người trong đời sống tinh thần. Du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, như những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần từ 7 Nguyền Ý Xuân, (2019), Xúc tiến du lịch tâm linh tại Thừa Thiên Huế, Trường Đại học Kinh te Hue. 4 đó mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch. Vào năm 2019 tác giả Nguyễn Ý Xuân8 [36:09] có trích dần định nghĩa du lịch tâm linh từ hai tác phẩm noi tiếng cùa Alex Norman và Farooq Haq - John Jackson như sau: Alex Norman năm 2011 có đề cập: “Du lịch tám linh có đặc trưng là du khách sẽ cố tìm kiếm lợi ích tinh thần thông qua việc thực hành nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng Farooq Haq - John Jackson năm 2009 cho rang: “Khách du lịch tâm linh là đổi tượng đi đến một nơi cụ thể ngoài môi trường sinh sống cùa mình với ý định gia tăng ý nghĩa cho đời sổng tinh thần; họ có thê có tôn giảo hoặc không tôn giáo, thông qua chuyến đi họ có trải nghiệm với môi trường tự nhiên tại điếm đến nhưng được đặt trong bối cảnh có sự liên hệ với một đấng nhân vật quyền năng nào đó Theo nhóm tác giả Nguyền Trọng Nhân9, Cao Mỹ Khanh [32:122],£>áz?/?