Chương 1. Tổng quan tư liệu (22 trang). Nhận diện di tích kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long (41 trang). Giá trị của các di tích kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long (41 trang).
Kết luận (8 trang) Trong Luận án còn có các phần: Lời cam đoan, danh mục các chữ viết tắt, danh mục phụ lục minh họa, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, gồm: bảng kê, sơ đồ, bản vẽ và bản ảnh minh họa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 22 Chƣơng một: TỔNG QUAN TƢ LIỆU 1. Sự thành lập vƣơng triều Lý và việc xây dựng Kinh đô Thăng Long 1. Sự thành lập vương triều Lý Xã hội Việt Nam cuối thời Tiền Lê lâm vào khủng hoảng sâu sắc.
Sau khi Lê Hoàn lên ngôi với chiến công hiển hách “phá Tống, bình Chiêm”, đất nước vẫn ở trong tình trạng bị cát cứ. Các người con của Lê Hoàn được phân phong chiếm trị các địa phương, đua nhau vơ vét, bóc lột nhân dân, ăn chơi xa xỉ khiến dân tình khổ cực, nhiều nơi đã nổi dậy chống lại triều đình đến nỗi ngay cả Lê Hoàn cũng nhiều lần phải thân chinh đi dẹp loạn. Khi Lê Hoàn qua đời, các con trưởng, con thứ bắt đầu tranh giành ngôi báu, dẫn đến chém giết lẫn nhau, một số khác thì chiếm giữ các địa phương chống lại triều đình. Do bản tính tàn bạo, chính sách hà khắc, Lê Long Đĩnh đã lần lượt đánh bại các địa phương, giành ngôi báu.
Về sau Lê Long Đĩnh tỏ ra là con người không có đủ tư cách cầm đầu chính quyền lãnh đạo đất nước: tính tình hung bạo, sống sa đọa, có các hành động dã man trong việc đàn áp nhân dân, ngược đãi các nhà sư, hoang dâm, trụy lạc,. những điều đó khiến cho lòng người oán giận, ly tán. Khủng hoảng xã hội, khủng hoảng triều chính kể trên đã dẫn tới đòi hỏi phải được giải quyết. Ngay sau khi Long Đĩnh chết, năm 1009 các minh quan trong triều đã đưa Lý Công Uẩn lên làm vua, lập ra nhà Lý tồn tại 216 năm, từ năm 1009 đến năm 1225.
Trong triều Tiền Lê lúc đó, Lý Công Uẩn là võ tướng cao cấp chỉ huy quân hầu cận, giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ. Nhân - đức của Lý Công Uẩn “từ bé đã thông minh, vẻ người tuấn tú. khảng khái có chí lớn” [79, tr. Ông là “người phẩm hạnh thanh cao: khoan thứ, nhân từ, khảng khái có chí lớn; phong cách đôn hậu: tinh tế, hòa nhã; nhân đức lớn lao: thương dân, lòng thành cảm trời.
Nhân phẩm, đức hạnh đó đến khi lập thân, xử thế đã trở thành uy đức, uy danh, uy thế” [79, tr. Ngay khi lên làm vua, Lý Công Uẩn đã có quyết sách vô cùng quan trọng, tạo tiền đề đưa đất nước phát triển cả về kinh tế, chính trị và văn hóa - xã hội, đó là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 23 quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La - đổi tên là Thăng Long với ý nghĩa rồng bay. Sự kiện dời đô của vua Lý Công Uẩn, sách sử chép: “Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng:. thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước.
Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” [57, tr. Dời đô về Thăng Long, nhà Lý đã bắt tay ngay vào việc xây dựng các lâu đài, cung điện, đền chùa và thành lũy để phục vụ cho nhu cầu cấp thiết của triều đình và bảo vệ Kinh thành. Chỉ trong 30 năm đầu của thế kỷ 11, nhà Lý đã tiến hành 3 lần xây dựng lớn tại khu vực trung tâm của Cấm thành, cùng với đó là hàng trăm đợt sửa chữa, cải tạo hoặc xây mới các công trình kiến trúc do bị các điều kiện tự nhiên hoặc thiên tai hủy hoại, xuống cấp hoặc hư hỏng nặng.
Song song với việc xây dựng kinh đô Thăng Long, nhà Lý đã từng bước xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị: củng cố chế độ trung ương tập quyền theo lối chính quy, quản lý xã hội bằng luật pháp; tăng cường tổ chức quân đội hùng hậu theo chính sách “ngụ binh ư nông”; tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc bảo vệ quốc gia thống nhất; ban hành các chính sách ruộng đất; chú trọng phát triển kinh tế: nông nghiệp, thủy lợi, thúc đẩy các ngành nghề thủ công phát triển; tăng cường chính sách giao thương, buôn bán trao đổi trong và ngoài nước; mở mang phát triển văn hóa trên tất cả các mặt: chăm lo thi cử, mở trường học đào tạo con em các quan lại, phát triển các hình thức nghệ thuật dân gian và cung đình,. tạo nên một xã hội thái bình thịnh trị, nguồn lực kinh tế quốc gia vững mạnh làm tiền đề quan trọng cho việc xây dựng các công trình kiến trúc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quy hoạch và xây dựng các công trình kiến trúc tại kinh thành Thăng Long Trong 216 năm xây dựng và phát triển, nhà Lý kế thừa, phát triển các điều kiện đã có từ các thời kỳ trước và đã đạt được các thành tựu rực rỡ trên tất cả các mặt.
Việc quy hoạch và xây dựng kinh đô Thăng Long trở thành trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - giáo dục của đất nước được nhà Lý rất chú trọng. Trong triều đại nhà Lý, sử sách ghi chép hầu như năm nào cũng nhắc đến việc xây dựng, sửa chữa các công trình kiến trúc. Tại Kinh thành Thăng Long, nhà Lý đã tiến hành 4 đợt xây dựng lớn: - Đợt 1: năm 1010, dưới triều vua Lý Công Uẩn. - Đợt 2: năm 1017 - 1020, dưới triều vua Lý Công Uẩn.
- Đợt 3: năm 1029 - 1030, dưới triều vua Lý Phật Mã. - Đợt 4: năm 1203 dưới triều vua Lý Long Trát. Việc xây dựng và quy hoạch Kinh thành Thăng Long được sử sách ghi lại, theo đó, các công trình kiến trúc cung điện, lầu gác, hành lang, chùa,. liên tục được xây dựng, sửa chữa.
Dù ít ỏi, các ghi chép tản mạn, không cho biết cụ thể quy mô, tính chất và vị trí của các công trình kiến trúc, nhưng qua đó cũng có thể thấy được công sức, tinh thần lao động sáng tạo của quân dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của các vua triều Lý. Quy hoạch, xây dựng năm 1010 Thời kỳ này, việc xây dựng các công trình kiến trúc đã được tài liệu sử ghi chép như sau (xem Phụ lục 2: Sơ đồ 1): - Sách Việt sử lược chép: “Trong kinh Thăng Long, dựng điện Triều Nguyên bên trái dựng điện Tập Hiền, bên phải dựng điện Giảng Vũ, bên trái mở cửa Phi Long, bên phải mở cửa Đan Phượng, chính Bắc mở Cao Điện. Thềm gọi là Long Trì, trong hai bên Long Trì có hành lang chạy chung quanh. Phía sau điện Càn Nguyên, dựng hai điện Long An, Long Thụy, bên trái xây điện Nhật Quang, bên phải xây điện Nguyệt Minh, đằng sau có cung Thúy Hoa.
Bốn phía thành mở bốn cửa: Phía Đông gọi là Tường Phù, phía Tây gọi là Quảng Phúc, phía Nam gọi là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 25 Đại Hưng, phía Bắc gọi là Diệu Đức. Ở trong thành lại xây chùa Hưng Thiên, lầu Ngũ Phượng tinh, ở phía Nam thành xây chùa Thắng Nghiêm” [113, tr. - Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “xây dựng các cung điện trong kinh thành Thăng Long, phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả làm điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng Võ. Lại mở cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân, cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, hướng chính Nam dựng điện Cao Minh, đều có thềm rồng, trong thềm rồng có hành lang dẫn ra xung quanh bốn phía.
Sau điện Càn Nguyên dựng hai điện Long An và Long Thụy làm nơi vua nghỉ. Bên tả xây điện Nhật Quang, bên hữu xây điện Nguyệt Minh, phía sau dựng 2 cung Thúy Hoa và Long Thụy làm chỗ ở cho cung nữ. Dựng kho tàng, đắp thành, đào hào. Bốn mặt thành mở bốn cửa: phía Đông gọi là cửa Tường Phù, phía Tây gọi là cửa Quảng Phúc, phía Nam gọi là cửa Đại Hưng, phía Bắc gọi là cửa Diệu Đức.
Lại ở trong thành làm chùa ngự Hưng Thiên và tinh lâu Ngũ Phượng” [57, tr. - Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: “… khởi công xây dựng cung điện: phía trước là điện Kiền Nguyên, dùng làm chỗ coi chầu, hai bên tả, hữu làm điện Tập Hiền và điện Giảng Vũ, đều có thềm rồng. Lại mở ba cửa: cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân, cửa Đan Phụng thông với cửa Uy Viễn. Đằng sau điện Kiền Nguyên có điện Long An và Long Thụy, làm chỗ nhà vua nghỉ ngơi.
Hai cung Thúy Hoa và Long Thụy cho các phi tần ở. Lại lập kho đụn, xây thành, đào hào. Mở bốn cửa thành: phía Đông là cửa Tường Phù, phía Tây là cửa Quảng Phúc, phía Nam là cửa Đại Hưng, phía Bắc là cửa Diệu Đức” [134, tr. Đợt xây dựng năm 1017 - 1020 Giai đoạn này do những biến cố của tự nhiên, thành Thăng Long diễn ra những thay đổi rất lớn, nơi “coi chầu” buộc phải dịch chuyển.
Lần thứ nhất điện Càn Nguyên bị sét đánh, chuyển sang phía Đông, sau đó phía Đông lại bị sét đánh, nơi “coi chầu” phải chuyển sang phía Tây (xem Phụ lục 2: Sơ đồ 2). - Theo Việt sử lược chép, năm Đinh Tỵ (1017) “Điện Càn Nguyên bị động đất” [113, tr.76] và đến năm Canh Thân (1020)… “Xưa điện Càn Nguyên bị động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 26 đất, vua phải coi chầu ở Đông điện, nay Đông điện lại bị động đất, vua phải coi chầu ở Tây điện” [113, tr. - Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: Năm 1017 “Điện Càn Nguyên bị sét đánh, vua coi chầu ở điện phía Đông” [57, tr. Và “Năm ấy (năm 1020) điện phía Đông bị sét đánh, vua coi chầu ở điện phía Tây.
Dựng ba điện: điện phía trước để coi chầu, hai điện phía sau để nghe chính sự” [57, tr. - Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép về sự kiện của 2 năm 1017 và 1020 như sau: “Đinh Tỵ (1017) tháng 3, mùa xuân.