Tổng quan luận án
Sau khi vua Lý Công Uẩn thực hiện thiên đô từ Hoa Lư về thành Đại La vào năm 1010 và đổi tên thành Thăng Long, vương triều Lý (1009–1225) đã triển khai xây dựng hệ thống cung điện, lầu gác, thành lũy nhằm thiết lập trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của quốc gia phong kiến độc lập. Mặc dù các công trình này được ghi chép tản mạn trong các thư tịch cổ như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, song các nguồn tư liệu thành văn không miêu tả chi tiết về quy mô, kết cấu mặt bằng cũng như kỹ thuật xây dựng cụ thể. Khoảng trống này chỉ bắt đầu được làm sáng tỏ từ cuối năm 2002 thông qua các cuộc khai quật khảo cổ học quy mô lớn tại khu vực Hoàng thành Thăng Long, đặc biệt là tại địa điểm 18 Hoàng Diệu (gồm các khu A, B, C, D và G).
Luận án "Di tích kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội" do nghiên cứu sinh Phạm Văn Triệu thực hiện thuộc chuyên ngành Khảo cổ học (mã số: 62.17), dưới sự hướng dẫn khoa học của Lê Đình Phụng, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2016. Luận án đặt ra các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tập hợp và hệ thống hóa toàn bộ tư liệu cùng các kết quả nghiên cứu khảo cổ học về di tích kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long, tập trung vào mặt bằng, kỹ thuật và vật liệu xây dựng.
- Nhận diện, phân loại, so sánh và đánh giá các mặt bằng kiến trúc; xác lập trật tự và quy hoạch xây dựng qua các thời kỳ dựa trên hệ tọa độ, phương vị và thước đo tiêu chuẩn.
- So sánh các di tích kiến trúc thời Lý tại 18 Hoàng Diệu với các di tích cùng thời ở các địa phương (chùa Dạm, chùa Phật Tích, Đàn Nam Giao, Đàn Xã Tắc,...) và với các di tích kinh đô cổ trong khu vực Đông Á, Đông Nam Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Champa).
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là toàn bộ hệ thống di tích kiến trúc thời Lý đã được phát hiện và nghiên cứu từ năm 2002 đến năm 2016 tại địa điểm 18 Hoàng Diệu (các khu A, B, C, D, G), kết hợp tư liệu so sánh tại khu vực chính điện Kính Thiên, các di tích tôn giáo – tín ngưỡng thời Lý và các kinh đô cổ khu vực. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung vào các mặt bằng kiến trúc xuất lộ tại 18 Hoàng Diệu; phạm vi thời gian tương ứng với vương triều Lý (1009–1225), tập trung vào khung niên đại thế kỷ 11 đến thế kỷ 13.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng quan lịch sử nghiên cứu kiến trúc và di tích thời Lý qua các giai đoạn:
TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU DI TÍCH KIẾN TRÚC THỜI LÝ
TRƯỚC NĂM 1954 1954 ĐẾN TRƯỚC 2002 TỪ NĂM 2002 ĐẾN NAY
Học giả người Pháp Khai quật quy mô nhỏ Khai quật lớn tại 18 Hoàng Diệu,
Nghiên cứu di vật rời rạc Đoan Môn, Hậu Lâu, Bắc Môn Kính Thiên, Đàn Nam Giao, Xã Tắc
Chưa phát hiện nền móng Chưa rõ mặt bằng thời Lý Phát lộ quần thể >70 di tích Lý
Các ghi chép trong thư tịch cổ
Thư tịch cổ ghi nhận 4 đợt quy hoạch và xây dựng lớn tại kinh thành Thăng Long dưới thời Lý:
- Đợt 1 (năm 1010): Vua Lý Thái Tổ xây dựng điện Càn Nguyên (nơi coi chầu), điện Tập Hiền, điện Giảng Vũ, điện Cao Minh, thềm rồng (Long Trì) có hành lang bao quanh; phía sau dựng điện Long An, Long Thụy, điện Nhật Quang, điện Nguyệt Minh, cung Thúy Hoa; mở 4 cửa thành: Tường Phù (Đông), Quảng Phúc (Tây), Đại Hưng (Nam), Diệu Đức (Bắc); dựng chùa Hưng Thiên, lầu Ngũ Phượng.
- Đợt 2 (năm 1017–1020): Do điện Càn Nguyên và điện phía Đông bị thiên tai (sét đánh, động đất), triều đình chuyển nơi coi chầu sang phía Đông rồi sang phía Tây (điện Giảng Vũ), xây dựng thêm 3 điện phục vụ thiết triều và nghị chính.
- Đợt 3 (năm 1029–1030): Vua Lý Thái Tông cho xây dựng lại điện Thiên An trên nền cũ điện Càn Nguyên, mở rộng quy mô, chỉnh lại phương hướng; dựng điện Tuyên Đức, điện Diên Phúc, thềm rồng Long Trì, điện Văn Minh, điện Quảng Vũ, lầu chuông; phía trước đặt điện Phụng Thiên (trên có lầu Chính Dương), phía sau dựng điện Trường Xuân (trên có gác Long Đồ); đắp Long Thành bao quanh. Năm 1030, xây dựng điện Thiên Khánh hình bát giác ở trước điện Trường Xuân, có cầu Phượng Hoàng nối trước sau.
- Đợt 4 (năm 1203): Vua Lý Cao Tông xây dựng cung mới ở phía Tây tẩm điện gồm điện Thiên Thụy, điện Dương Minh, điện Thiềm Quang, điện Chính Nghi, điện Kính Thiên, điện Thắng Thọ, gác Nguyệt Bảo, gác Phú Quốc, ao Dưỡng Ngư, đình Ngoạn Ỷ.
Lịch sử phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học
- Giai đoạn trước năm 1954: Các học giả Pháp phát hiện các di vật đơn lẻ tại Bách Thảo, Quần Ngựa, Kim Mã, Ngọc Hà, Vĩnh Phúc, Yên Lãng, Cầu Giấy, Cống Vị (như ngói lá đề chạm rồng, gạch in hình rồng, chân tảng, cột đá chạm rồng Bách Thảo, tượng gốm Apsara, Garuda). Các công bố thời kỳ này mới dừng lại ở góc độ mỹ thuật và có xu hướng nhìn nhận nghệ thuật thời Lý là sự sao chép từ văn hóa Trung Hoa ("nghệ thuật Đại La") hoặc gán cho thợ thủ công Champa.
- Giai đoạn 1954 đến trước năm 2002: Các nhà nghiên cứu Việt Nam (Trần Huy Bá, Trần Huy Liệu, Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán,...) tiến hành khảo sát và khai quật một số hố thám sát nhỏ tại Hậu Lâu (1999), Đoan Môn (1999–2000), Bắc Môn (1999), xác định được tầng văn hóa thời Lý – Trần tại số 5 Hoàng Diệu nhưng chưa phát lộ được mặt bằng kiến trúc hoàn chỉnh thời Lý.
- Giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2016: Các cuộc khai quật tại 18 Hoàng Diệu (2002–2004, 2008–2009, 2012–2014) và các điểm lân cận như Đàn Xã Tắc (2006), Đàn Nam Giao (2007–2008), khu vực chính điện Kính Thiên (2011–2015) đã làm phát lộ hệ thống phế tích nền móng quy mô lớn. Các công trình công bố tiêu biểu gồm sách "Hoàng thành Thăng Long phát hiện khảo cổ học" (2004), các nghiên cứu của Tống Trung Tín, Bùi Minh Trí (2006, 2010, 2015), nghiên cứu hệ tọa độ và quy hoạch của K. Inoue (2006–2008), luận văn thạc sĩ của Ngô Thị Lan (2006) và Phạm Văn Triệu (2011).
Vị trí của luận án: Kế thừa các kết quả khai quật thực địa, luận án là công trình tổng hợp có hệ thống đầu tiên đi sâu phân tích toàn diện cấu trúc nền móng, kỹ thuật xử lý vật liệu, các mô hình kết cấu vì cột, quy mô mặt bằng, phương vị và tiến trình xây dựng của hệ thống kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Hệ thống thuật ngữ và khái niệm công cụ
Luận án xác lập khung khái niệm dựa trên lý thuyết xây dựng và khảo cổ học công trình:
- Móng nền: Kết cấu đắp bằng đất sét nằm dưới cùng của công trình, trực tiếp gánh đỡ và truyền tải trọng của toàn bộ kiến trúc xuống nền địa chất tự nhiên.
- Nền kiến trúc: Bộ phận đắp bằng đất nằm phía trên móng nền (tính từ độ sâu bắt đầu xây móng bó nền lên đến mặt lớp đệm lát gạch), có chức năng phân bố tải trọng của công trình.
- Móng bó nền và bó nền: Bó nền là kết cấu bằng gạch hoặc gỗ bao quanh nhằm giới hạn phạm vi công trình và ngăn cách nền trong nhà với sân ngoài; móng bó nền là phần gia cố bằng ngói vụn, sỏi hoặc sành nằm ngay dưới bó nền.
- Cột, móng cột và chân tảng: Cột là thành phần chịu lực đứng chính của bộ khung. Luận án phân biệt:
- Cột nổi: Cột đặt trên chân tảng đá kê trên bề mặt hố móng được đầm nện bằng vật liệu gia cố (sỏi, gạch, ngói vụn, đất sét).
- Cột chôn: Thân cột gỗ chôn sâu vào lòng đất, chân cột đặt trên tảng đá nằm ở đáy hố móng và được chèn chặt xung quanh.
- Tường bao: Kết cấu xây gạch hoặc đầm nện nằm bên ngoài công trình, có chức năng phân định, ngăn cách và bao che các không gian kiến trúc hoặc cụm kiến trúc.
| Tiêu chí |
Cột nổi (Móng cột nổi) |
Cột chôn (Móng cột chôn) |
| Kỹ thuật hố móng |
Đào sâu xuống tầng văn hóa/nền đất, đầm nện vật liệu từng lớp từ dưới lên |
Đào hố sâu, không đầm nện vật liệu thành từng lớp mà chèn chặt xung quanh chân cột |
| Vị trí chân tảng đá |
Đặt trên bề mặt lớp đầm của móng cột |
Đặt sát đáy hố móng |
| Xử lý chân tảng |
Bề mặt được mài nhẵn, có thể chạm nổi hoa sen hoặc để phẳng |
Không mài nhẵn, không trang trí hoa văn |
| Dấu vết hiện còn |
Khối vật liệu móng cột (sỏi, gạch, ngói, sành) đầm chặt |
Dấu vết hố chân cột và đoạn gốc cột gỗ còn lại |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng thế giới quan duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp khảo cổ học truyền thống: Khai quật thực địa, bóc tách địa tầng, phân loại hình thái học, thống kê mô tả, đo vẽ ghi nhận hiện trạng, đối sánh loại hình học (typology) giữa các đơn nguyên kiến trúc.
- Phương pháp kỹ thuật hiện đại: Xây dựng hệ thống tọa độ khảo cổ học đô thị, ứng dụng phần mềm đồ họa kỹ thuật gồm AutoCAD, Scan 3D toàn diện di tích và dựng mô hình không gian SketchUp 3D để phục dựng mặt bằng các kiến trúc.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp nghiên cứu địa chất – địa tầng học (phân tích hai hệ địa tầng Vĩnh Phúc và Hải Hưng), nghiên cứu địa – khảo cổ, địa – môi trường cổ và phân tích lịch sử mỹ thuật học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương một: Tổng quan tư liệu
Chương một dài 22 trang, hệ thống hóa bối cảnh lịch sử, quá trình quy hoạch Thăng Long thời Lý, các cuộc khai quật khảo cổ và xác lập hệ quy chuẩn nghiên cứu:
QUY HOẠCH HOÀNG THÀNH THĂNG LONG THỜI LÝ
GIỚI HẠN KHÔNG GIAN HỆ THỐNG QUY CHUẨN
• Phía Đông: Cửa Tường Phù (đền Bạch Mã / đình Đông Môn) • Hệ trục tọa độ: Lệch 5° so với trục Đoan Môn - Kính Thiên
• Phía Nam: Cửa Đại Hưng (khu vực Cửa Nam) • Thước đo tiêu chuẩn: 1 thước = 29,98 cm (làm tròn 30 cm)
• Phía Bắc: Cửa Diệu Đức (khu vực sông Tô Lịch / Phan Đình Phùng) • Vị trí 18 Hoàng Diệu: Nằm trong Cấm thành (trung tâm Hoàng thành)
• Phía Tây: Cửa Quảng Phúc (đường Hoàng Hoa Thám - Bưởi hoặc Ông Ích Khiêm)
- Quy hoạch không gian Hoàng thành: Luận án điểm lại 4 luồng ý kiến về cấu trúc kinh thành Thăng Long, khẳng định sự thống nhất về 3 mặt giới hạn: Đông (cửa Tường Phù - khu vực đền Bạch Mã, đình Đông Môn số 8 Hàng Cân), Nam (cửa Đại Hưng - khu vực Cửa Nam), Bắc (cửa Diệu Đức - bờ Nam sông Tô Lịch, khoảng phố Phan Đình Phùng - Quán Thánh). Về phía Tây, tồn tại hai quan điểm (men theo sông Tô Lịch - đường Bưởi hoặc giới hạn tại đường Ông Ích Khiêm). Toàn bộ khu di tích 18 Hoàng Diệu được xác định nằm trong phạm vi Cấm thành (Cung thành) thời Lý.
- Địa tầng xuất lộ di tích: Tầng văn hóa thời Lý tại 18 Hoàng Diệu nằm trực tiếp dưới tầng văn hóa thời Trần và phủ đè lên tầng văn hóa thời Đại La. Tại hố D4–D6, lớp văn hóa thời Lý dày trung bình 0,57 m ở độ sâu +6,68 m đến +7,52 m so với mực nước biển; tại khu G (kiến trúc HTTL.KT03, HTTL.KT04), lớp đất sét đắp dày 1,6 m đến 2,2 m, cách bề mặt hiện tại chỉ 0,6 m.
- Hệ tọa độ và thước đo thời Lý: Các chuyên gia Nhật Bản phối hợp với Viện Khảo cổ học xác định trục các công trình thời Lý tại 18 Hoàng Diệu có phương vị lệch 5° so với trục chuẩn thời Lê (trục Đoan Môn – Kính Thiên). Dựa trên khoảng cách tim móng cột và chân tảng đá nguyên vị tại HTTL.KT22 và HTTL.KT25, thước đo tiêu chuẩn thời Lý được xác định là $29,98\text{ cm}$ (quy ước làm tròn $30\text{ cm}$ hay $0,3\text{ m}$).
Chương hai: Nhận diện di tích kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long
Chương hai dài 41 trang, phân tích chi tiết toàn bộ 70 di tích thời Lý phát hiện tại khu vực 18 Hoàng Diệu (khu A, B, C, D, G):
- Cơ cấu phân loại di tích: Gồm 55 di tích nền móng kiến trúc (chiếm 78,57%) và 15 công trình phụ trợ (chiếm 21,42% gồm 06 tường bao, 02 cống nước, 05 giếng nước, 01 đường đi, 01 móng thành).
CƠ CẤU DI TÍCH KIẾN TRÚC THỜI LÝ (70 DI TÍCH)
55 NỀN MÓNG KIẾN TRÚC (78,57%) 15 CÔNG TRÌNH PHỤ TRỢ (21,43%)
• Hình chữ nhật: 39 di tích (70,90%) • Tường bao: 06 di tích
• Hình lục giác: 14 di tích (25,50%) • Giếng nước: 05 di tích
• Hình bát giác: 01 di tích (1,82%) • Cống nước: 02 di tích
• Hình tròn: 01 di tích (1,82%) • Đường đi: 01 di tích
• Móng thành: 01 di tích
- Cấu tạo móng nền, nền và mặt nền:
- Móng nền: Đắp bằng đất sét thuần đầm chặt dày trung bình từ 0,6 m đến 2,2 m (như HTTL.KT03, HTTL.KT04 dày 1,05 m), khai thác từ hai hệ địa tầng trầm tích: hệ địa tầng Vĩnh Phúc (sét loang lổ màu vàng, nâu đỏ, xám vàng, chứa kết vón laterit nâu đen ở độ sâu 6–7 m) và hệ địa tầng Hải Hưng (sét màu xám xanh, bột aluvi màu nâu ở độ sâu 1,0–4,5 m).
- Nền và mặt nền: Đất đắp nền dày từ 0,5 m đến 1,15 m, phân cách với móng nền bằng lớp sỏi mỏng 0,02 m. Mặt nền nguyên bản lát gạch vuông màu đỏ kích thước $38,5\text{ cm} \times 38,5\text{ cm}$ (như tại hiên phía Bắc kiến trúc HTTL.KT23) hoặc gạch chữ nhật (như tại HTTL.KT25).
- Phân loại móng bó nền và bó nền: Có 20/55 kiến trúc còn dấu tích móng bó nền hoặc bó nền.
- Móng bó nền: Chia thành 3 loại: Loại 1 xây bằng sỏi trộn đất sét (7/21 di tích, ví dụ HTTL.KT35, HTTL.KT39); Loại 2 xây bằng ngói vỡ đỏ xương dày 0,8–1,6 cm trộn sét (5/21 di tích, ví dụ HTTL.KT05, HTTL.KT10); Loại 3 xây bằng mảnh sành, bao nung trộn sét (ví dụ HTTL.KT07, HTTL.KT55).
- Bó nền: Chia thành 2 loại: Loại 1 xây bằng gạch chữ nhật và gạch vuông (16/20 di tích, rộng 0,2–0,39 m, còn từ 2–8 lớp gạch cao 0,1–0,4 m; riêng 14 kiến trúc lục giác có bó nền gồm 3 hàng gạch chữ nhật xếp đứng tạo vòng tròn đường kính 3,5 m); Loại 2 kết hợp khung gỗ và gạch (3 di tích: HTTL.KT03, HTTL.KT04, HTTL.KT08). Tiêu biểu như HTTL.KT08 có 2 lớp bó nền (lớp ngoài gồm thanh gỗ dài 14,2 m rộng 0,27 m; lớp trong gồm cọc gỗ cách nhau 0,3 m xen kẽ 5–8 lớp gạch); HTTL.KT03 có 2 hàng gỗ song song liên kết mộng hở cách nhau 1,5 m và có rãnh đặt cột gỗ.
PHÂN LOẠI MÓNG BÓ NỀN VÀ BÓ NỀN
MÓNG BÓ NỀN (21 di tích) BÓ NỀN (20 di tích)
• Loại 1: Sỏi + đất sét (7 di tích) • Loại 1: Xây gạch chữ nhật/vuông (16 di tích)
• Loại 2: Mảnh ngói + đất sét (5 di tích) • Loại 2: Kết hợp khung gỗ + gạch (3 di tích: KT03, KT04, KT08)
• Loại 3: Sành, bao nung + đất sét (2 di tích) (Riêng 14 kiến trúc lục giác bó nền gạch xếp tròn Ø 3,5m)
- Hình thái mặt bằng kiến trúc:
- Mặt bằng hình chữ nhật: 39 di tích (70,9%), trong đó 19 di tích đã xác định rõ quy mô. Phân bố gồm các dạng: kiến trúc 4 gian; kiến trúc 2 gian – 2 chái; kiến trúc 6 gian – 2 chái; kiến trúc 8 gian; kiến trúc 9 gian; kiến trúc 13 gian. Luận án thống kê tọa độ không gian các đơn nguyên tiêu biểu:
| Ký hiệu kiến trúc |
Phạm vi tọa độ xuất lộ |
Kích thước xuất lộ (Dài $\times$ Rộng) |
Bố cục mặt bằng |
| HTTL.A.KT18 |
$X: 117 \to 122;\ Y: -116 \to -125,5$ |
$9,5\text{ m} \times 5,0\text{ m}$ |
Chữ nhật (hướng Bắc - Nam) |
| HTTL.B.KT24 |
$X: 197 \to 200;\ Y: -173 \to -184$ |
$9,0\text{ m} \times 3,0\text{ m}$ |
Chữ nhật (hướng Đông - Tây) |
| HTTL.B.KT30 |
$X: 139,5 \to 145;\ Y: -171 \to -178$ |
$9,0\text{ m} \times 5,5\text{ m}$ |
Chữ nhật (hướng Đông - Tây) |
| HTTL.B.KT33 |
$X: 116 \to 121,5;\ Y: -170 \to -178$ |
$8,0\text{ m} \times 5,5\text{ m}$ |
Chữ nhật (hướng Đông - Tây) |
| HTTL.D.KT40 |
$X: 197 \to 202;\ Y: -300 \to -309$ |
$9,0\text{ m} \times 5,0\text{ m}$ |
Chữ nhật (hướng Đông - Tây) |
| HTTL.D.KT41 |
$X: 137 \to 140;\ Y: -299 \to -310$ |
$11,0\text{ m} \times 3,0\text{ m}$ |
Chữ nhật (hướng Đông - Tây) |
| HTTL.D.KT42 |
$X: 137 \to 143;\ Y: -320 \to -330$ |
$10,0\text{ m} \times 6,0\text{ m}$ |
Chữ nhật (hướng Đông - Tây) |
| HTTL.D.KT43 |
$X: 137 \to 143;\ Y: -340 \to -351$ |
$11,0\text{ m} \times 6,0\text{ m}$ |
Chữ nhật (hướng Đông - Tây) |
| HTTL.D.KT45 |
$X: 114 \to 120;\ Y: -298 \to -310$ |
$12,0\text{ m} \times 6,0\text{ m}$ |
Chữ nhật (hướng Đông - Tây) |
| HTTL.D.KT46 |
$X: 113 \to 120;\ Y: -319 \to -330$ |
$11,0\text{ m} \times 7,0\text{ m}$ |
Chữ nhật (hướng Đông - Tây) |
- Mặt bằng hình lục giác: 14 di tích (25,5%), phân bố thành cụm (tiêu biểu tại hố D6), có móng cột tròn hoặc vuông và bó nền gạch tròn đường kính 3,5 m.
- Mặt bằng hình bát giác: 01 di tích (1,82%) tại hố C4–C6, có tính chất tương ứng với mô tả về điện Thiên Khánh (xây năm 1030).
- Mặt bằng hình tròn: 01 di tích (1,82%).
CÁC LOẠI HÌNH MẶT BẰNG KIẾN TRÚC THỜI LÝ
HÌNH CHỮ NHẬT (70,90%) HÌNH LỤC GIÁC (25,50%) HÌNH BÁT GIÁC (1,82%) HÌNH TRÒN (1,82%)
39 di tích 14 di tích 01 di tích 01 di tích
• 4 gian • Bó nền gạch tròn Ø 3,5 m • Tại hố C4–C6 • Dạng bình đồ tròn đặc biệt
• 2 gian - 2 chái • Móng cột vuông/tròn • Khớp mô tả điện
• 6 gian - 2 chái • Phân bố theo cụm Thiên Khánh (1030)
• 8, 9, 13 gian
- Móng cột, chân tảng và kết cấu vì:
- Vật liệu xây dựng móng cột: Chia làm 4 loại chính: Loại 1 xây bằng sỏi trộn sét (như MT08 của HTTL.KT25); Loại 2 xây bằng sỏi, ngói vỡ và sét (như MT6 của HTTL.KT25); Loại 3 xây bằng sỏi kết hợp 1 đến 3 lớp gạch vuông đầm sét; Loại 4 xây bằng sành vụn, mảnh bao nung và sét.
- Chân tảng đá: Gồm 3 loại hình thái: Loại 1 chân tảng hoa sen chạm nổi cánh sen kép; Loại 2 chân tảng để trơn mài nhẵn bề mặt; Loại 3 chân tảng đá thô đặt trong hố móng cột chôn.
- Kết cấu vì nách và vì nóc: Dựa vào số lượng hàng chân cột theo chiều ngang, luận án phân loại thành: vì 2 móng cột, vì 3 móng cột, vì 4 móng cột, vì 6 móng cột và vì 8 móng cột. Lòng nhà rộng phổ biến từ 5,0 m đến 7,2 m; bước gian từ 2,1 m (gian chái) đến 5,1–6,3 m (gian chính).
- Thí nghiệm tải trọng: Luận án ghi nhận kết quả thử tải kỹ thuật trên các móng cột sỏi MT08, MT09, MT10, MT11 thuộc kiến trúc HTTL.KT25, chứng minh kết cấu móng sỏi đầm nện đất sét có khả năng chịu lực nén cực lớn, đảm bảo độ ổn định chống lún cho các công trình cung điện nhiều tầng bằng gỗ nặng.
Chương ba: Giá trị của các di tích kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long
Chương ba dài 41 trang, phân tích các giá trị lịch sử, kỹ thuật và vị thế văn hóa của quần thể di tích:
- Đặc trưng quy hoạch và kiến trúc thời Lý:
- Phương vị: Tính nhất quán cao trong việc bố trí trục công trình lệch 5° theo hướng Đông – Bắc so với trục Bắc – Nam địa lý.
- Vật liệu và kỹ thuật xây dựng: Trình độ sản xuất vật liệu đạt tiêu chuẩn hóa cao với các loại gạch lát nền $38,5\text{ cm} \times 38,5\text{ cm}$, gạch in chữ, gạch in hoa sen, ngói ống trang trí rồng/lá đề, cấu kiện gốm kiến trúc tinh xảo. Kỹ thuật đầm nện đất sét kết hợp sỏi, bao nung và ngói vỡ tạo nên lớp móng chống lún vững chắc trên nền đất trũng đồng bằng sông Hồng.
- Phân kỳ xây dựng: Luận án phân chia các giai đoạn xây dựng thời Lý và chứng minh sự biến đổi sang thời Trần (thời Trần tái sử dụng, thu hẹp, mở rộng hoặc xây tường bao đè trực tiếp lên móng cột thời Lý như tại hố D4–D6 và hố A20).
- Vị trí trong tiến trình lịch sử kiến trúc cổ truyền Việt Nam: Kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long là sự kế thừa kỹ thuật xử lý nền móng từ thời Đại La và Hoa Lư (thời Đinh – Tiền Lê), đồng thời phát triển vượt bậc về quy mô không gian và kỹ thuật kết cấu khung gỗ. Đối sánh với các di tích cùng thời như chùa Dạm (Bắc Ninh), chùa Phật Tích (Bắc Ninh), chùa Long Đọi (Hà Nam), chùa Chương Sơn (Nam Định), Đàn Nam Giao, Đàn Xã Tắc (Hà Nội), khu di tích Cầu Từ (Bắc Giang) và di tích Trà Kiệu (Quảng Nam), kiến trúc cung đình Thăng Long thể hiện tính chất trung tâm, quy chuẩn và bề thế vượt trội.
- Bối cảnh khu vực: Luận án đối chiếu dấu tích kiến trúc Thăng Long thời Lý với di tích cung điện vua Nam Hán (917–971) tại Quảng Châu (Trung Quốc), kỹ thuật đắp nền chùa Tứ Đại Thiên Vương ở kinh đô Silla (Hàn Quốc) và các kinh đô cổ tại Nhật Bản, làm rõ sự tiếp thu chọn lọc các nguyên tắc quy hoạch Đông Á kết hợp với truyền thống bản địa và các yếu tố giao thoa nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ – Đông Nam Á.
- Bảo tồn và phát huy giá trị: Đề xuất các căn cứ khoa học cho công tác bảo tồn di tích khảo cổ học dưới lòng đất, phục dựng kỹ thuật số 3D và trưng bày phục vụ phát huy giá trị Di sản Thế giới Hoàng thành Thăng Long.
Kết quả và những đóng góp mới
- Hệ thống hóa toàn diện nguồn tư liệu: Tập hợp, lập hồ sơ và phân loại chi tiết 70 di tích thời Lý tại 18 Hoàng Diệu (55 nền móng kiến trúc và 15 công trình phụ trợ) sau hơn một thập kỷ khai quật.
- Xác lập hệ quy chuẩn kỹ thuật xây dựng thời Lý:
- Xác định phương vị quy hoạch lệch 5° so với trục Đoan Môn – Kính Thiên.
- Xác định đơn vị thước đo chuẩn dùng trong xây dựng thời Lý là $29,98\text{ cm}$ (làm tròn $30\text{ cm}$).
- Phân loại rõ ràng 2 dạng thức kết cấu cột: cột nổi (móng sỏi/gạch/sành đầm tầng) và cột chôn (hố chân tảng sát đáy).
- Xác lập 3 loại móng bó nền, 2 loại bó nền (gạch và gỗ kết hợp gạch) và 4 loại vật liệu đầm móng cột.
- Chứng minh hiện thực hóa các ghi chép thư tịch cổ: Sự phát lộ của các kiến trúc 13 gian, 9 gian, kiến trúc lục giác và đặc biệt là kiến trúc bát giác tại hố C4–C6 đã cung cấp bằng chứng vật chất xác thực cho mô hình cung điện thời Lý ghi trong Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư (như điện Càn Nguyên, Thiên An, Thiên Khánh).
- Làm rõ diễn trình chuyển tiếp kiến trúc: Phân tích các dấu tích cải tạo, mở rộng hoặc cắt phá của thời Trần đè lên tầng kiến trúc thời Lý, chứng minh tính kế thừa và biến đổi liên tục của trung tâm Cấm thành Thăng Long.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do tính chất phức tạp của địa tầng khảo cổ học đô thị qua hàng nghìn năm, nhiều đơn nguyên kiến trúc thời Lý đã bị các công trình thời Trần, Lê và thời hiện đại đào phá, dẫn đến việc nhiều mặt bằng chỉ xuất lộ từng phần (chỉ có 19/39 kiến trúc chữ nhật xuất lộ đầy đủ để xác định quy mô chính xác). Nhiều chân tảng đá và toàn bộ bộ khung gỗ phía trên đã bị thất lạc, gây khó khăn cho việc phục dựng hoàn chỉnh hệ vì kèo nóc.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục mở rộng diện tích khai quật khảo cổ học tại các khu vực lân cận thuộc trục trung tâm điện Kính Thiên.
- Tăng cường nghiên cứu đối sánh chuyên sâu về vật liệu và kỹ thuật đầm nện nền móng với các kinh đô cổ khác ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á.
- Ứng dụng công nghệ quét 3D laser và mô phỏng kết cấu cơ học để phục dựng chính xác các phương án khung nhà gỗ thời Lý.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu khảo cổ học và lịch sử: Cung cấp hệ thống dữ liệu thực địa chính xác, bản vẽ chi tiết và bảng thống kê tọa độ của từng móng cột, bó nền, phục vụ việc tra cứu và đối sánh học thuật về văn hóa thời Lý – Trần.
- Đối với chuyên ngành kiến trúc cổ truyền và xây dựng: Là nguồn tư liệu cơ sở về kết cấu chịu lực, kỹ thuật gia cố nền đất yếu đồng bằng, tỷ lệ bước gian, bước cột và phương vị xây dựng công trình cung đình cổ Việt Nam.
- Đối với cơ quan quản lý di sản và bảo tồn: Đóng vai trò là căn cứ khoa học pháp lý phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn tại chỗ, thiết kế mái che bảo vệ di tích tại 18 Hoàng Diệu và xây dựng hồ sơ diễn giải trưng bày Di sản Văn hóa Thế giới Hoàng thành Thăng Long.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã thống kê và phân loại được bao nhiêu di tích thời Lý tại địa điểm 18 Hoàng Diệu?
Luận án xác định được tổng cộng 70 di tích thời Lý (thế kỷ 11–13), gồm 55 di tích nền móng kiến trúc (chiếm 78,57%) và 15 công trình phụ trợ (chiếm 21,43% gồm 06 tường bao, 02 cống nước, 05 giếng nước, 01 đường đi và 01 móng thành).
2. Các mặt bằng kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long gồm những dạng hình học nào?
Mặt bằng kiến trúc gồm 4 dạng chính: hình chữ nhật có 39 di tích (chiếm 70,9%), hình lục giác có 14 di tích (chiếm 25,5%), hình bát giác có 01 di tích (chiếm 1,82%) và hình tròn có 01 di tích (chiếm 1,82%).
3. Thước đo tiêu chuẩn và phương vị quy hoạch kiến trúc thời Lý được xác định ra sao?
Căn cứ vào khoảng cách tim móng cột và chân tảng đá nguyên vị tại HTTL.KT22 và HTTL.KT25, các nhà nghiên cứu xác định thước đo chuẩn thời Lý là $29,98\text{ cm}$ (làm tròn $30\text{ cm}$). Hệ trục quy hoạch của các công trình thời Lý có phương vị lệch 5° theo hướng Đông – Bắc so với trục chuẩn thời Lê (trục Đoan Môn – Kính Thiên).
4. Kỹ thuật gia cố móng cột thời Lý gồm những loại vật liệu nào?
Móng cột thời Lý được đào sâu và đầm chặt từng lớp bằng 4 nhóm vật liệu: (1) Sỏi trộn đất sét; (2) Sỏi, mảnh ngói vỡ và đất sét; (3) Sỏi kết hợp 1 đến 3 lớp gạch vuông và đất sét; (4) Mảnh sành, bao nung gốm và đất sét.
5. Luận án phân biệt kỹ thuật "cột nổi" và "cột chôn" như thế nào?
Cột nổi có hố móng được đầm nện bằng vật liệu gia cố (sỏi, ngói, gạch, sành) thành từng lớp chắc chắn từ dưới lên, trên bề mặt đặt chân tảng đá được mài nhẵn hoặc chạm hoa sen; cột chôn có thân cột chôn sâu xuống nền đất, chân tảng đá thô đặt sát đáy hố móng và xung quanh được chèn chặt vật liệu để cố định cột gỗ.
Kết luận
Luận án "Di tích kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội" của tác giả Phạm Văn Triệu là công trình khảo cứu chuyên sâu, hệ thống hóa toàn diện 70 di tích nền móng và công trình phụ trợ thời Lý tại khu vực 18 Hoàng Diệu. Luận án đã xác lập thành công các đặc trưng kỹ thuật mang tính quy chuẩn của kiến trúc cung đình thời Lý, từ thước đo $30\text{ cm}$, phương vị lệch 5°, kỹ thuật đầm móng nền bằng đất sét hai hệ địa tầng Vĩnh Phúc – Hải Hưng cho đến các dạng thức kết cấu móng cột nổi và cột chôn. Kết quả nghiên cứu không chỉ chứng thực các ghi chép lịch sử về kinh đô Thăng Long thế kỷ 11–13 mà còn cung cấp nền tảng tư liệu khoa học vững chắc cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Văn hóa Thế giới Hoàng thành Thăng Long.