CHƯƠNG 1: VĂN HỌC TẦM CĂN VÀ PHÙNG KÝ TÀI 1. Dòng văn học tầm căn 1. Khái niệm “tầm căn” và văn học tầm căn Theo Từ điển Hán Việt, “tầm” (尋) là động từ, nguyên nghĩa gốc là tìm, dựa vào; “căn” (根 ) là danh từ, nguyên nghĩa gốc là rễ cây. Sau này, người ta dùng từ “căn” để nói về phần dưới, phần gốc của vật thể và từ “căn” cũng có nghĩa là “gốc, nguồn, nền tảng”.
Vậy có thể hiểu “tầm căn” có nghĩa là tìm về với cái gốc rễ, tìm về với nguồn cội. Trong khoảng 25 năm cuối của thế kỉ XX, văn học Trung Quốc phát triển với nhịp độ rất nhanh với sự “gối sóng” của năm trào lưu chính (TS. Nguyễn Thị Bích Hải): văn học vết thương, văn học phản tư, văn học cải cách, văn học tầm căn, văn học tiên phong [66]. Nhưng thực ra giữa các dòng văn học này có sự phát triển song song.
Nói về văn học vết thương, dịch giả, nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc, GS Chúc Ngưỡng Tu giải thích: Dân tộc nào cũng có những trang sử vẻ vang, nhưng đồng thời cũng có những vết thương của mình. Vết thương đó có thể nặng hay nhẹ, chỉ có dân tộc đó thấu hiểu được những đau khổ do vết thương mang tới. Cách mạng văn hóa Trung Quốc đã mang lại bao nhiêu đau khổ, bi kịch cho bao nhiêu người. Người ta phải nghĩ lại, không phải để lên án hay khóc lóc mà để rút ra bài học để ngăn ngừa những việc tương tự trong tương lai.
Ở Trung Quốc dòng văn học về vấn đề này được gọi là “dòng văn học thương tích” (hay “văn học vết thương” – người viết). [67] Đồng thời cũng theo Giáo sư: Lật lại bài học quá khứ không phải để gây thù hằn, mâu thuẫn hay để than khóc; mà để rút ra bài học. Phải nhìn thẳng vào quá khứ để định hướng tương lai. Không thể né tránh “vết thương” bởi đơn giản, dù thế nào, nó là một phần của lịch sử.
[67] Có thể nói, những năm sau Cách mạng văn hóa, bước ra từ chính những vết thương của dân tộc mình, một bộ phận lớn các trí thức và nhà văn đã có thể tự do bày tỏ ý kiến, quan niệm của mình về các vấn đề được – mất của xã hội, không phải để ủy mị, mà để nhìn nhận lại, đứng lên và đi tiếp. Tác giả tiêu biểu có thể kể đến: Vết thương của Lư Tân Hoa, Ôi (Phùng Ký Tài), Tôi phải làm thế nào (Trần Quốc Khải), Mãi mãi là mùa xuân (Thẩm Dung), Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ,… Văn học phản tư là sự “suy ngẫm lại” về những nguyên nhân dẫn đến “vết thương” sâu nặng trong tâm hồn dân tộc, tưởng như một “trò đùa” ngẫu nhiên của lịch sử, nhưng thực ra nó có nguyên nhân sâu xa từ trong văn hóa truyền thống và tâm linh của con người (TS. Nguyễn Thị Bích Hải). Dòng văn học phản tư cũng xuất hiện gần như đồng thời hoặc sau một chút so với văn học vết thương.
Hay nói chính xác hơn, văn học phản tư ra đời là kết quả tất yếu của sự phát triển văn học vết thương. Nếu như văn học vết thương nặng về phơi bày những đau khổ trong thời động loạn, thì văn học phản tư hướng tới việc suy nghĩ, nhìn nhận lại những vấn đề mang tính lịch sử - xã hội của khuynh hướng “tả khuynh” từ năm 1949 trở lại. Các tác phẩm tiêu biểu cho dòng tiểu thuyết này là: Ký ức của Trương Huyền Đăng, Câu chuyện bị cắt xén sai (Như Chí Quyên), Cây lục hóa, Một nửa đàn ông là đàn bà (Trương Hiền Lượng), Hồ điệp (Vương Mông), Thị trấn Phù Dung (Cổ Hoa),… Hầu như song song với hai dòng văn học trên là dòng văn học cải cách. Đặc điểm chủ yếu của tiểu thuyết cải cách là: 1) Nhiệt liệt ủng hộ cải cách, hô hào cải cách, cố gắng theo kịp bước chân của thời đại, phản ánh kịp thời tiến trình cải cách; 2) Phản ánh sự thay đổi của xã hội; con người trong cải cách, phản ánh những hi vọng, những thất vọng cùng những vấp váp, bàng hoàng lo âu của mọi người trong quá trình cải cách; 3) Sáng tạo ra được một số “anh hùng thời đại” trong công cuộc mở đường, cải cách.
Một số tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học này là: Kiều xưởng trưởng nhậm chức (Tưởng Tử Long), Tam thiên vạn (Kha Vân Lô), Bức tường bị vây (Lục Vân Phu), Thanh âm mùa xuân (Vương Mông), Trăng núi không hiểu chuyện thầm kín (Chu Khắc Cần),… Trong khi đó, các nhà văn của dòng văn học tiên phong lại chú trọng nhiều hơn đến việc thử nghiệm trong văn học. Họ quan tâm đổi mới phong cách, ngôn ngữ, đề tài, cốt truyện, nghệ thuật trần thuật… Họ nhấn mạnh đến vai trò của tưởng tượng trong quá trình sáng tác để văn học thực sự là sản phẩm của nghệ thuật hư cấu chứ không phản ánh hiện thực đơn thuần. Dòng văn học này yêu cầu nhà văn “phải có thái độ trung thực, cởi mở và tự nhiên trong sáng tác, tránh tình trạng rập khuôn, máy móc và sáo mòn trong tư duy, sáng tạo nghệ thuật” [18; tr. Trào lưu này chịu ảnh hưởng của phái “Tiểu thuyết mới” và “Tiểu thuyết hiện đại phương Tây”.
Các sáng tác tiêu biểu có thể kể đến: Đời người (Lộ Diêu), Câu chuyện phạm nhân Lý Đồng chuông (Trương Nhất Cung), Sống (Dư Hoa), Đèn lồng đỏ treo cao (Tô Đồng),… Văn học tầm căn là một dòng văn học xuất hiện vào khoảng những năm 80 của thế kỷ XX khi mà cải cải cách mở cửa, những giá trị văn hóa của phương Tây tràn vào có nguy cơ làm vỡ những giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ truyền thống. Văn học tầm căn là dòng văn học tìm về với cội nguồn dân tộc. Theo họ - những tác gia của dòng văn học này, văn học đương đại Trung Quốc từ lâu đã bị phương Tây lãng quên và điều đó làm tổn thương đến lòng tự hào dân tộc của những cây bút chân chính. Các nhà văn thuộc trường phái “tầm căn” chủ trương tìm về nguồn cội, gốc rễ của văn học truyền thống mấy nghìn năm xa xưa của dân tộc Trung Hoa, với hy vọng mang những giá trị văn học truyền thống của Trung Quốc đến với thế giới phương Tây.
Dựa vào nền văn hóa dân gian của dân tộc, các tác giả của dòng văn học này đã tìm tòi, khám phá và đưa ra những nhận định, những nhìn nhận mới của mình về những nền văn hóa xưa đó. Tác phẩm Người trên Cát Xuyên giang của Lý Hàng Dục trích đăng trên tạp chí Tháng Mười năm 1983 có thể coi là tác phẩm đầu tiên và tiêu biểu của dòng văn học này. Tuy nhiên phải đến bài luận nổi tiếng Gốc rễ của văn học (Hàn Thiếu Công), người ta mới có cái nhìn đầy đủ hơn về dòng “văn học tầm căn”. Hàn Thiếu Công viết: Văn học có gốc rễ, gốc rễ của văn học cần phải bắt sâu vào thổ nhưỡng văn hóa truyền thống của dân tộc.
Rễ mà không sâu tất lá khó tươi tốt. [71] Như vậy, có thể thấy rất rõ ràng, các nhà văn của phái “tầm căn” chủ trương dựa vào văn hóa dân tộc để tìm cảm hứng và mạch nguồn cho sáng tác. Gốc của văn học tuy dựa trên văn hóa nhưng không phải mang ý nghĩa toàn bộ nền văn hóa. Các nhà văn thuộc phái này, mà đại diện tiêu biểu là Hàn Thiếu Công, cho rằng “văn hóa truyền thống Trung Quốc chia thành hai bộ phận “quy phạm” ở thành thị và “bất quy phạm” ở làng quê.
Họ cho rằng, trong văn hóa truyền thống, nên khẳng định và phát huy hơn nữa phần tinh hoa văn hóa “bất quy phạm” đang tồn tại trong phong tục tập quán ở những nơi xa xôi hoang dã, trong truyền thuyết, dã sử, trong tư tưởng Đạo gia và triết học Thiền tông; còn đối với văn hóa “quy phạm” đã được thể chế hóa lấy học thuyết Nho giáo làm nòng cốt, thì giữ thái độ từ chối, phủ định, phê phán” [8, tr.6] Mong muốn của các nhà văn phái “tầm căn” là vừa khám phá lại vừa phủ nhận, đưa ra những phán đoán và nhận thức mới đối với nền văn hóa dân tộc để từ đó có cái nhìn phản tỉnh xã hội hiện đại. Có lẽ vì thế mà họ rất coi trọng Lỗ Tấn, coi Lỗ Tấn là người khai sáng. Văn học tầm căn từ khi ra đời đã được rất nhiều thế hệ ưa thích và có một số lượng lớn các tác giả. Ngoài Lý Hàng Dục, Hàn Thiếu Công, ta còn có thể kể đến những tên tuổi nổi tiếng như Giả Bình Ao, Vương An Ức, A Thành, Phùng Ký Tài, Mạc Ngôn, Trịnh Nghĩa, Đặng Hữu Mai, Lục Văn Phu, Trương Thừa Chí, Trịnh Vạn Long, Trần Kiến Công,… với một loạt những tác phẩm như: Bố bố bố, Nữ nữ nữ, Từ điển Mã Kiều, Sông Nam núi Bắc (Hàn Thiếu Công); Ba vua của A Thành; Tiểu bào trang của Vương An Ức; Na ngũ, Yên Hồ (Đặng Hữu Mai); Thụ giới của Uông Tăng Kỳ; Hắc tuấn mã (Trương Thừa Chí); Roi thần, Gót sen ba tấc, Âm dương bát quái của Phùng Ký Tài;.
Nguyên nhân ra đời Trước hết, văn học tầm căn ra đời xuất phát từ lịch sử và xã hội, sự du nhập văn hóa phương Tây vào Trung Quốc trong thời mở cửa và những tác động của nó. Có thể nói đến đầu tiên chính là phong trào chống “phái hữu” những năm 1957 và cách mạng văn hóa 1966 – 1976. Tháng Năm 1956, Bắc Kinh đề ra chủ trương của Đảng “bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh” (trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng). Mao Trạch Đông cho rằng tuyệt đại đa số tán thành chế độ xã hội chủ nghĩa, một thiểu số tuy không nhiệt tình hoan nghênh như vậy nhưng vẫn yêu nước, còn lại rất ít là thù địch, vì vậy cải tạo trí thức là cần thiết và trí thức phải kết hợp với công nông.
“Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” là phương châm lâu dài của Đảng, phải mạnh tay “phóng” cho mọi người dám phát biểu, dám phê bình, dám tranh luận. Thế là trong chỉnh, ngoài phê, bao nhiêu cuộc tọa đàm, bao nhiêu buổi sinh hoạt tổ nhóm để nghe ý kiến của quần chúng được tổ chức. Cuộc chiến đấu chống hữu khuynh mở rộng đến các huyện, các khu, nhà máy, hầm mỏ. Nhiều đồng chí trung trinh, nhiều bạn bè hợp tác đã lâu dài với Đảng, nhiều trí thức tài năng, nhiều thanh niên nhiệt huyết… bỗng nhiên bị truy chụp, đấu tố đã trở thành kẻ thù, bị hãm hại suốt đời, làm cho nhà nước tổn thất không biết nhường nào.