Chương 1 THƠ PHẠM QUỐC CA TRONG DÒNG CHẢY THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI Sáng tác của nhà văn, nhà thơ bao giờ cũng chịu sự chi phối của hoàn cảnh văn hoá - lịch sử của thời đại và bối cảnh của giai đoạn văn học ấy. Vì vậy, trước khi tìm hiểu đặc điểm thơ Phạm Quốc Ca cần phác họa khái quát diện mạo thơ giai đoạn ông tham gia sáng tác để có thể "vừa thấy cây vừa thấy rừng". Khái quát thơ Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay Ngày 30.1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã giành được toàn thắng. Sau hơn ba mươi năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, nhân dân Việt Nam được sốngtrong niềm vui thống nhất, độc lập, tự do.Đất nước bước sang trang sử mới.
Nhưng không bao lâu sau, chúng ta lại phải tiến hành các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (1978) và biên giới phía Bắc (1979). Từ 1986 Việt Nam tiến hành sự nghiệp Đổi mới, hoà nhập với đời sống quốc tế. Trong thời kỳ chiến tranh, mọi vấn đề của cuộc sống lùi lại nhường chỗ cho vấn đề có ý nghĩa trọng đại của dân tộc là độc lập, tự do. Trong thời bình, những quy luật vốn có của nó đã tác động mạnh mẽ đến lối sống, cách nghĩ, mối quan hệ nhân sinh, xã hội của con người.
Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều đổi mới trong lãnh đạo. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 đã đáp ứng thực tế yêu cầu của cuộc sống và sự vận động khách quan của quy luật kinh tế - xã hội đất nước ta lúc bấy giờ. Đối với lĩnh vực văn nghệ, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Đổi mới và nâng cao sự lãnh đạo về quản lý văn hóa văn nghệ lên một bước cao hơn”. Đổi mới là nhu cầu bức thiết, là vấn đề có ý nghĩa sống còn của đất nước.
Nghị quyết chỉ rõ cần đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật. Bên cạnh đó, nhà nước chủ trương mở cửa hội nhập, giao lưu rộng rãi với các nước trên thế giới. Điều đó đã tạo điều kiện cho giới văn nghệ sĩ tự do sáng tạo. Mối quan hệ giữa văn học và đời sống, 10 nhà văn và bạn đọc, tiếp nhận văn học có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực.
Hơn ba mươi năm qua, văn học Việt Nam đã có nhiều đổi mới trên mọi bình diện, đạt được nhiều thành tựu đáng phấn khởi, bắt kịp với xu thế văn học thế giới. Trong quá trình đổi mới đó,“Thơ bao giờ cũng là một thể loại mạnh, luôn chiếm ngôi vị đầu bảng” (Đỗ Lai Thúy). Trước hết phải nói đến sự đổi mới về tư duy thơ. Đổi mới tư duy thơ là nền tảng, gốc rễ của mọi sự cách tân, đổi mới thơ.
Sau 1975, đặc biệt là sau 1986 đã hình thành một hệ hình nhận thức, sáng tạo mới trong thơ. Tinh thần Đổi mới tạo cơ sở cho dân chủ hóa trong đời sống văn học. Cảm hứng thế sự và đời tư trở thành chủ đạo, phổ biến. Văn học không chỉ là tiếng nói chung của thời đại, của cộng đồng mà còn là phát ngôn của mỗi cá nhân.
Văn học khám phá thực tại đa chiều, thức tỉnh ý thức về sự thật, có vai trò dự báo, dự cảm. Vì thế thơ trở về cuộc sống bình dị, nhằm tìm kiếm trong cái hằng ngày, cái đời thường một diện mạo mới, chân thực hơn. Cũng do vậy, thơ có khả năng đi sâu vào cuộc sống với những thân phận, số phận đơn lẻ, nhiều ẩn ức, tâm sự. Nhà thơ cũng khao khát tìm kiếm diện mạo cá nhân trong những tương quan và chiều kích của văn hóa, lịch sử, mỹ học… Đây là lý do giải thích vì sao thơ của thế hệ sau 1975 trở nên giàu tính tư tưởng - triết luận hơn so với trước đó.
Hiện thực trong thơ ca giai đoạn trước chủ yếu là hiện thực chiến đấu và lao động sản xuất. Đến giai đoạn này, văn học quan niệm hiện thực chủ yếu là đời sống thế sự. Hiện thực phải có tính chất toàn vẹn, nhiều mặt, không chỉ là cái bên ngoài dễ nhìn thấy mà còn là cái bên trong, hiện thực của đời sống tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của con người… Hiện thực được nhìn nhận trong mối quan hệ đa chiều phong phú, phức tạp chằng chịt như chính cuộc sống. Mọi ngõ ngách của cuộc sống được soi rọi và phản ánh trong văn học.
Con người được phản ánh với những suy tư, trăn trở đời thường thời hậu chiến với vô vàn khó khăn, thiếu thốn: Nhà chỉ mấy thước vuông, sách vở xếp cạnh nồi Nếu nằm mơ, em quờ tay là chạm vào thùng gạo Ô tường nhỏ treo tranh và phơi áo 11 Ta chỉ có mấy thước vuông cho hạnh phúc của mình. (Nhà chật- Lưu Quang Vũ) Hiện thực còn là đời sống cá nhân của con người. Con người trở thành trung tâm phản ánh của văn học. Trong giai đoạn kháng chiến, con người được phản ánh trong thơ là con người sử thi, con người cộng đồng.
Văn học sau 1975, nhất là sau 1986 phản ánh con người ở nhiều khía cạnh trong mối quan hệ với cộng đồng, bi kịch cá nhân hậu chiến, cả những uẩn khúc trong đời sống tư tưởng, tình cảm, tâm linh. Đánh thức tiềm lực (1982) của Nguyễn Duy, Khoảng cách giữa lời (1983) của Bằng Việt, Bài thơ không năm tháng (1983) của Lâm Thị Vĩ Dạ, Tự hát (1984) của Xuân Quỳnh, Người đàn bà ngồi đan (1985) của Ý Nhi…. là những tác phẩm tiêu biểu. Nhiều nhà thơ quan niệm thơ là tiếng nói tâm linh bí ẩn, là dòng chảy của tiềm thức.
Thế giới tâm linh của con người vốn bí ẩn và đầy phức tạp được chuyển tải qua những ký hiệu ngôn từ đa nghĩa. Nhiều bài thơ thăm dò cõi sâu vô thức, cõi bí ẩn của tâm linh con người. Con người trong thơ giai đoạn này hiện lên trong nhiều vị thế, nhiều mối quan hệ, không là nhất phiến mà là con người đa diện, đan xen tốt, xấu, "rồng phượng và rắn rết, thiên thần và ác quỷ" (chữ dùng của Nguyễn Minh Châu). Từ quan điểm mỹ học đó, Lê Ngọc Trà khẳng định: “Trong cuộc chạy đua ồ ạt của nhân loại về tương lai, nhà văn không được quyền chỉ vỗ tay hoan hô mà còn phải cảnh tỉnh, không có quyền chỉ chào đón những người anh hùng đang có đầy triển vọng mà còn phải nhìn thấy trước và báo động về nguy cơ cái xấu đang về đích trước hay cùng lúc với cái đẹp.
Đó là nghĩa vụ xã hội độc đáo của văn học”[60]. Tác giả có giọng thơ sử thi cường tráng nhất là Tố Hữu cũng đã chuyển dòng cảm hứng. Với giọng thơ thế sự, ông than thở tình người đen bạc, thay đổi khôn lường. Ông băn khoăn trước lối sống thực dụng đang tràn ngập mọi hang cùng ngõ hẻm: Đời đâu phải thị trường nhân phẩm Gian ác mang mặt nạ thánh hiền Tình nghĩa cũng theo thời lạnh ấm 12 Bạc vàng đo giá trị, sang hèn? (Chân trời mới) Thơ sau Đổi mới thường mang âm hưởng buồn.
Những nỗi buồn của con người rất đa dạng. Chủ thể trữ tình thường tách mình ra khỏi cộng đồng, mang cảm giác cô đơn. Cái tôi trữ tình nhận ra sự nhỏ bé của mình: Tôi nhỏ nhoi tồn tại chính mình Nhân danh một chính mình tồn tại (Thạch Quỳ) Trong thơ còn xuất hiện những nỗi buồn rất khó gọi tên, khó diễn tả, phức tạp, bí ẩn như: Nhiều khi nỗi buồn của tôi như sợi len dài Quấn xiết vào trái tim hỗn loạn (Nỗi buồn của chiếc bóng- Phạm Thị Ngọc Liên) Tóm lại, sau 1975 với sự chuyển biến của lịch sử xã hội, văn học nói chung, thơ nói riêng có những đổi mới đáng kể trong tư duy về chủ thể sáng tạo cũng như cách nhìn nhận hiện thực, con người. Điều đó đã đem đến những thành tựu mới.
Mỗi nhà thơ giai đoạn này đều khao khát tìm kiếm, thể hiện và khẳng định giọng điệu riêng, phong cách riêng. Người cầm bút có nhu cầu tìm kiếm một lối viết mới phù hợp với quan niệm và nhận thức mới về thơ. Cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ được đề cao. Ý thức cách tân, đổi mới về hình thức nghệ thuật ở nhiều nhà thơ thật mạnh mẽ, quyết liệt.
Trước đây, người ta thường xem thơ như là một phương tiện để chuyển tải tư tưởng tình cảm. Nay, có nhà thơ quan niệm “Thơ là trò chơi chữ nghĩa”. Giá trị của bài thơ nằm ở sự mới lạ về hình thức nghệ thuật. Những người nỗ lực cách tân theo hướng thơ hiện đại là:Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Dương Tường, Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn… 13 Họ không còn coi trọng vấn đề văn học phản ánh hiện thực, không quan tâm tới nghĩa đen của câu chữ.
Nhiều nhà thơ không bằng lòng với những con chữ có sẵn xưa nay. Họ sáng tạo ra những con chữ mới, mặc cho nó vô nghĩa, lệch chuẩn, bụi bặm… Trong bài Noel 1: Nen ren em quen Em về phố lặng Lòng đổ chuông llềnh lluềnh nước Dương Tường sáng tạo ra một kiểu thơ có thể cảm thụ bằng nhiều giác quan. Có nhiều từ lạ lẫm (trong từ điển tiếng Việt chưa có) để mô phỏng âm thanh của phố xá. Cách sắp xếp độ dài ngắn các câu cũng tạo ra những ấn tượng thị giác, kích thích trí tò mò của người tiếp nhận.
Đi đôi với việc đổi mới ngôn ngữ thơ là sự mở rộng quan niệm về thể loại thơ. Thể thơ lục bát vẫn tiếp tục được sáng tác nhưng biến thể rất nhiều. Thể thơ tự do được sử dụng phổ biến. Sự sáng tạo thể thơ tự do chủ yếu thể hiện ở lối vắt dòng, ngắt nhịp và tạo hình cho bài thơ.
Thơ Haiku vốn là một thể thơ truyền thống của Nhật Bản nhưng ngày càng phổ biến ở Việt Nam. Nhiều nhà thơ đã vận động sáng tác một thể loại mới là thơ Haiku Việt. Thơ văn xuôi đã được sáng tác từ Phong trào Thơ mới 1932-1945. Từ Đổi mới, thơ văn xuôi phát triển mạnh mẽ và có nhiều hình thức tồn tại, rất đa dạng: Nhân chứng của một cái chết (Nguyễn Quang Thiều), Ô mai (Đặng Đình Hưng), Bài thơ hai từ (Trần Tiến Dũng), Mười bài tập mùa xuân (Mai Văn Phấn), Phóng đãng của trí nhớ (Nguyễn Quốc Chánh)… Về mặt kết cấu, phổ biến trong thơ thế hệ Đổi mới là kiểu kết cấu mở, câu chữ, hình ảnh được lắp ghép một cách như là ngẫu nhiên, phi logic, tạo nên nhiều “khoảng trắng” trong xúc cảm và liên tưởng.
Bài thơ thường được tổ chức theo hướng vận động của vô thức, trực giác.