Chương 1: Khái niệm thế giới nghệ thuật và hành trình sáng tác thơ của Nguyễn Bình Phương Chương 2: Hệ thống hình tượng cơ bản trong thơ Nguyễn Bình Phương Chương 3: Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bình Phương nhìn từ phương thức biểu hiện Cuối cùng là phần Thư mục Tài liệu tham khảo. 12 CHƢƠNG 1 KHÁI NIỆM THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC THƠ CỦA NGUYỄN BÌNH PHƢƠNG 1.1 Một số vấn đề lí luận về thế giới nghệ thuật 1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm tất cả các yếu tố, các cấp độ của sáng tạo nghệ thuật. Nghiên cứu thế giới nghệ thuật là để tìm hiểu quy luật sáng tạo của chủ thể, quan niệm về nghệ thuật, cuộc sống, nhân sinh của người nghệ sĩ. Thế giới nghệ thuật là một thế giới thứ hai do người nghệ sĩ sáng tạo ra.
Một mặt nó phản ảnh phần nào thế giới hiện thực, mặt khác nó biểu hiện khát vọng chân, thiện, mĩ và khao khát sáng tạo của nhà văn. Với ý nghĩa này, vấn đề đặt ra là cần phải có một khái niệm thật bao quát, thật đầy đủ để làm cơ sở cho việc tiếp cận các hiện tượng, tác giả văn học. Thế giới nghệ thuật là một thuật ngữ mang tính khái niệm được sử dụng ngày càng phổ biến trong đời sống và trong học thuật. Nó được sử dụng khi chúng ta có nhu cầu diễn đạt ý niệm về cái chỉnh thể bên trong của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một trào lưu, một quá trình sáng tác của tác giả).
Khái niệm thế giới nghệ thuật là một khái niệm của thi pháp học. Trong cuốn Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, tác giả Phương Lựu có trích dẫn quan điểm của Lưu Hiệp (nhà lí luận văn học cổ đại Trung Hoa) về sự thống nhất giữa nội dung và hình thức. Lưu Hiệp quan niệm một tác phẩm văn học phải đảm bảo 6 yếu tố: 1- Tình cảm sâu mà không dối 2- Việc chắc mà không ba hoa 3- Phong thái mà không tạp 13 4- Nghĩa thẳng mà không quanh co 5- Thể gọn mà không rườm rà 6- Văn đẹp mà không dâm [56, tr.161] Ngoài ra ông còn nhấn mạnh các phương diện khác như ngôn ngữ, kết cấu với những nhận xét sâu sắc, những so sánh độc đáo… Theo Từ điển thuật ngữ văn học (bộ mới), khái niệm thế giới nghệ thuật được định nghĩa bằng những luận điểm cơ bản sau đây: - Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật. Sáng tác văn học là một thế giới có tổ chức và có sự sống riêng, phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của tác giả.
Nó xác nhận tính độc lập tương đối so với thế giới tự nhiên, thế giới xã hội. - Thế giới nghệ thuật là sản phẩm tinh thần, kết quả của trí tưởng tượng sáng tạo, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí cua con người mặc dù nó phản ảnh thế giới ấy. - Thế giới nghệ thuật là mô hình nghệ thuật có cấu trúc riêng, quy luật riêng, thể hiện ở đặc điểm con người, tâm lý, không gian, thời gian, đồ vật, xã hội… Nó tương ứng với thế giới quan, nhân sinh quan, vũ trụ quan của chủ thể sáng tạo. - Thứ tư, thế giới nghệ thuật còn là thực tại tinh thần mà người đọc ở vào khi sống với tác phẩm.
Chu Văn Sơn trong cuốn Ba đỉnh cao Thơ mới: Xuân Diệu- Nguyễn Bính- Hàn Mặc Tử quan niệm: “Xét đến cùng thế giới nghệ thuật của một nhà văn chính là một thế giới hình tượng sống động (với tất cả tính phong phú đa dạng và tính hệ thống tinh vi của nó), chứa đựng một quan niệm nhân sinh và thẩm mĩ nào đó, được xây cất bằng chất liệu ngôn từ. Như vậy, thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ, vừa là hiện thân của tư tưởng và thi pháp. Thế giới ấy tất 14 cũng vận động, biến chuyển theo sự vận động, biến chuyển của tư tưởng nghệ sĩ. Bởi thế, nó dứt khoát là một kiến trúc vừa tĩnh vừa động.
Diện mạo của thế giới nghệ thuật chính là bức chân dung tinh thần của người nghệ sĩ” [87, tr. Lê Tiến Dũng cho rằng: “Qua văn bản ngôn từ người đọc bắt gặp “bức tranh đời sống”, một thế giới như ta đã gặp đâu đó trong đời, lại như chưa gặp bao giờ. Người ta gọi lớp này là lớp thế giới nghệ thuật hay là lớp hình tượng”. “Mỗi nhà văn, mỗi thời đại sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng.
Tiếp nhận được thế giới này là cơ sở để hiểu tư tưởng-nghệ thuật của tác phẩm, cảm nhận dược những gì nhà văn miêu tả, kí thác cũng như cái nhìn, quan niệm của nhà văn về con người, cuộc sống” [15, tr. Khẳng định thế giới nghệ thuật là một chỉnh thế ngoài việc chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa các yếu tố còn giúp người nghiên cứu tránh được những suy diễn chủ quan, lệch lạc, trong việc khám phá, chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật. Dựa vào nội hàm thuật ngữ thế giới nghệ thuật đã được trình bày ở trên, chúng tôi có thêm cơ sở lí luận để tiếp cận sáng tác thơ của Nguyễn Bình Phương. Từ các sáng tác ở bốn tập thơ, chúng tôi kết nối để hình dung khái quát về thế giới mà nhà thơ đã tạo lập, sau đó đi sâu tìm hiểu các đặc điểm của thế giới ấy và cố gắng tạo lập một lần nữa thế giới ấy bằng cảm nhận chủ quan của cá nhân.2 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình Thơ trữ tình là một thuật ngữ nhằm để phân biệt với các thể loại khác trong thể loại trữ tình và thơ tự sự.
Nó có ý nghĩa là phương tiện để con người ta tự khẳng định bản chất của mình, xây dựng hình tượng về mình, xác định chí hướng, lập trường, giá trị trước cuộc sống, đồng thời là phương tiện thể hiện thể giới tinh thần của nhà thơ. Thơ trữ tình có khả năng khơi gợi và bộc lộ cảm xúc rất lớn. Cảm xúc là bản sắc riêng của từng cá thể nhưng thơ cũng 15 như các thể loại văn học khác đều bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống nên trong thơ trữ tình chúng ta nhận ra cả hiện thực cuộc sống, chuyện thế sự, chuyện đời tư, chuyện chung, chuyện riêng… Dù nói gì đi nữa thì thơ trữ tình vẫn là “bản tự thuật của tâm trạng” (Poxpelop), là “những vương quốc chủ quan” (Biêlinxki). Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã đưa ra một khái niệm tương đối trọn vẹn về thơ trữ tình.
Thơ trữ tình là các thể thơ mà trong đó “những cảm xúc, suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp. Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình. Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học” [29, tr. Tác giả Lê Quang Hưng trong cuốn Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kì trước 1945 đưa ra một khái niệm về thế giới nghệ thuật thơ trữ tình: “Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình là một chỉnh thể thống nhất bao hàm các thành tố cấu trúc và các quy luật cấu trúc chung thể hiện quá trình cái tôi nhà thơ nội cảm hóa thế giới khách quan bằng tưởng tượng của mình.
Một mặt thế giới nghệ thuật ấy gắn liền với kinh nghiệm cá nhân, với phong cách sáng tác của bản thân nhà thơ, mặt khác nó phản ánh trình độ sáng tác của một giai đoạn lịch sử, một thời đại” [32, tr. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử quan niệm: “Văn bản thơ không chỉ gồm câu chữ, vần điệu, ngắt nhịp… mà bao gồm cả thế giới hình tượng bên trong như một thế giới sống đặc thù. Phải miêu tả thế giới ấy, cho dù nó khác với thực tế như thế nào, có vẻ vô lí như thế nào. Đó chính là thế giới chủ quan nội cảm của tác phẩm” [90, tr.
Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình ở mỗi thời đại, mỗi trào lưu sáng tác lại mang những nét đặc trưng riêng. Nếu thế giới thơ trữ tìnhTrung đại chủ yếu 16 xoanh quanh hai thành tố: Cái Ta và Thế giới thì đến thơ ca hiện đại lại là Cái Tôi và Thế giới. Nói đến thơ trữ tình là nói đến cảm xúc của chủ thể, thế giới chủ quan của nhà thơ. Những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của nhà thơ thể hiện trong thế giới nghệ thuật chính là những biểu hiện của cái tôi và các nguyên tắc thể hiện nó.
Muốn tiếp cận được thế giới nghệ thuật của thơ phải nhận diện được cái tôi trữ tình. Không phải nhà thơ xưng tôi thì cái tôi mới được bộc lộ mà cái tôi ấy còn được bộc lộ qua tư thế trữ tình, giọng điệu trữ tình hay mẫu hình lí tưởng mà hồn thơ ấy tôn thờ. Bên cạnh cái Tôi trữ tình thì thế giới- hiểu như môi trường tự nhiên và xã hội bao quanh cái tôi (không gian, thời gian, các nhân vật trữ tình) là yếu tố không thể thiếu để xây dựng nên thế giới nghệ thuật thơ.2 Hành trình sáng tác thơ của Nguyễn Bình Phƣơng 1.1 Thơ Nguyễn Bình Phƣơng trong dòng chảy chung của thơ đƣơng đại Việt Nam từ cuối thế kỉ XX đến nay Nền văn học thế giới đã và đang bước vào thời kì văn học hậu hiện đại, các tác phẩm hậu hiện đại bị chi phối mạnh mẽ bởi một kiểu cảm quan riêng- cảm quan thời hậu hiện đại. Đây là một kiểu cảm nhận thế giới đặc biệt mang đậm dấu ấn của cơn khủng hoảng niềm tin vào tất cả những giá trị tồn tại trước đó.
Trong bối cảnh chung của đổi mới và hội nhập văn hóa quốc tế, văn học Việt Nam đương đại có những chuyển biến theo xu thế chung của thời cuộc và người đọc đương đại. Những trang viết trong văn chương đương đại, tiểu thuyết cũng như thơ ngày càng ám ảnh con người bởi nó ngồn ngộn những vùng đau, vùng mờ tối khuất lấp bên trong mỗi người, nó ám ảnh độc giả về những ảo tưởng, những mộng mơ và ác mộng của chính “Tôi”- cái Tôi sâu thẳm trong tiềm thức của mỗi con người.