Chương 1: Những vấn đề chung về văn học chấn thương và cơ sở hình thành van dé chan thương trong thơ Dinh Thị Nhw Thúy: ờ chương này, người việt sẽ dé cập đến những van dé chung vẻ văn học chan thương như khái niệm và những phương điện cơ bản, đồng thời nhìn nhận về nền văn học Việt Nam đề thay rõ sự phát trién của van học chan thương trong các sang tác của các cây bút nữ dé thấy được cơ sở hình thành van dé chan thương trong thơ Dinh Thị Như Thúy. - _ Chương 2: Các phạm trù và giá trị biểu đạt van dé chan thương trong thơ Dinh Thị Nhw Thúy: & chương này, người viết phân tích van đẻ chan thương trong thơ Dinh Thị Như Thúy dưới góc độ nội dung, bao gồm các phương diện thẻ hiện chan thương như chan thương vì sự suy nghiệm những van đề lịch sử - xã hội. chan thương tự sự cảm nghiệm những van dé cá nhân, chan thương từ sự nhận thức các van đề hiện sinh và giá trị biéu đạt các phạm trù chan thương trong việc thé hiện tinh than nhân đạo, thâm nhập vào thé giới nội tâm phức tạp của con người, thé hiện tình yêu cuộc đởi va con người, từ đó hướng đến van dé chữa lành chính minh - _ Chương 3: Nghệ thuật thê hiện van đề chan thương trong thơ Dinh Thị Như Thúy: ờ chương này, người viết phân tích đến những đặc điểm nghệ thuật trong việc thê hiện vấn đề chân thương ở thơ của nữ tác giả như đặc điểm sử dụng ngôn ngữ và thé loại, đặc điểm sứ dụng không gian, thời gian nghệ thuật, đặc điểm sứ dụng giọng điệu thơ. 17 CHUONG 1: NHUNG VAN DE CHUNG VE VĂN HỌC CHAN THUONG VA CO SO HINH THANH VAN DE CHAN THUONG TRONG THO DINH THI NHU THUY 1.1, Những vấn dé chung về văn hoc chan thương 1.
Chan thương và lý thuyết chan thương trong văn học Chan thương (Trauma) von là một thuật ngữ có nguôn góc từ Hy Lạp (4a), thường được hiểu theo hai nghĩa dưới góc độ thuộc vé tính chất vật lý hay thuộc về tính chat tinh than. Nếu chỉ ý nghĩa thuộc về tính chat vật lý, chan thương được hiểu là “thương tích cơ thể, thường do tại nạn hoặc tan công, hoặc một trưởng hợp thương tích như vậy gây ra”, Ythương tốn ở bộ phận cơ thể do tác động từ bên ngoài" (Hoàng Phê, 2003). Nếu chỉ ý nghĩa về một tình trạng tinh than của con người, chan thương, theo từ điên Cambridge, là “cui sốc tinh thân và nỗi dau tinh than nghiêm trọng và kéo dai, gây ra bởi một trai nghiệm cực kỳ tôi tệ hoặc do trườn x hợp gây nên bởi cú sốc”. Như vậy, căn bản khi nhắc đến thuật ngữ chan thương.
chúng ta có thê hiểu theo cả hai nghĩa vẻ thể xác hay về tinh than, tùy vào mục dich và hoàn cảnh phát ngôn nhất định. Thế nhưng, trong phạm vi nghiên cứu khóa luận, chúng tôi xin được dùng cách hiểu thứ hai của chan thương như một vết thương mang tính tinh thần với những nỗi đau tỉnh thần trầm trọng. Ban đầu, người ta định hình chân thương là một vết thương mang tính chất vật lý, chịu sự tác động từ bên ngoài gầy nên những thương tật hữu hình. Từ đó, nghĩa thứ hai về chan thương, tức là dé cập đến chan thương theo ý nghĩa tác động đến mặt tỉnh thần bắt nguồn từ nửa sau thế kỉ XIX, đặc biệt là tại Anh dưới thời Victoria, khi hàng loạt những sự kiện tai nạn tàu hỏa khủng khiếp xảy ra.
Người ta nhận ra rằng. các nạn nhân của những thảm họa tàu hỏa kia, họ không chỉ phải chịu đủ những đớn đau về mặt thé xác mà còn phải chịu cá những dai ding, khổ sở của ám ảnh tâm lý, nhưng hơn thế nữa. sự kết thúc của chan thương vật lý không dẫn đến sự cham dứt của chan thương tinh than. Vào những năm 60 của thé ki XIX, những sự kiện và suy xét đó có thé được xem là dấu mốc chuyên hóa của chan thương từ tính vật lý đến tính tinh thần khi bác sĩ người Anh John Eric Erichsen (1818 — 1896) dé cập đến trong 18 công trình nghiên cứu On Railway and Other Injuries of the Nervous System (Vẻ đường sắt và những tồn thương khác của hệ than kinh) năm 1867.
O công trình này, Eric Erichsen cho rằng chan thương cột sống hay tủy song đóng vai trỏ tiên quyết cho việc hình thành những triệu chứng tâm lý, làm nên những sự rồi loạn về mặt xúc cảm của bệnh nhân một cách từ từ. Công trình của Eric Erichson tuy quan sát và ghi nhận những ton thương tinh than hậu thảm họa, song, có thé thấy, những chắn thương tinh than được đề cập trong công trình trên được tác giả nhìn nhận dưới góc độ bệnh học. Tuy nhiên, chính sự ghi nhận những phan ứng tâm lý, cảm xúc của các nạn nhân trong các thảm họa đường sắt, công trình của Erichsen đã mở rộng khái niệm chắn thương đến với những dau hiệu của chan thương tâm lý dưới sự tác động của những tác nhân vô hình. Đây có thé được xem là cơ sở hình thành hướng tiếp cận chan thương theo phân tâm học của Sigmund Freud và từ đó phát triển thành tiền dé cho việc phê bình chan thương sau này.
Trong công trình Studies Of Hysteria (Những nghiên cứu về chứng cuong loạn) năm 1895, Sigmund Freud cùng cộng sự là Josef Breuer đã khám phá ra cơ chế vận hành của chan thương tâm lý theo góc nhìn phân tâm học. Trong công trình này, các tác giả cho rằng cốt lõi của chan thương được hình thành từ một sự kiện thời thơ au, song, sự kiện đó không phải là chan thương mà chỉ có thé được xem là giai đoạn ủ bệnh của chan thương. Hay nói cách khác, tại sự kiện trong quá khứ, chủ thê trải nghiệm hay tiếp nhận sự kiện có thể không nhận ra hay không kịp nhận thức được tác động đau thương của tính chất sự kiện đối với khía cạnh tỉnh thần. Theo thời gian, thông qua trải nghiệm hồi tưởng và những gợi nhắc từ những sự kiện có tính chất tương tự với sự kiện ban dau trong cudc sông, sự kiện ủ bệnh ban dau tạo ra “từng triệu chứng ở mức độ nghiêm trọng khác nhau (Sigmund Freud & Josef Breuer, 2004), khiến những cảm giác đau thương từ sự kiện ban đầu quay trở lại và tác động sâu sắc đến tâm lý của con người.
Có thê thay, cơ chế gây đau của chân thương được hình thành từ sự hồi tưởng về sự kiện trong quá khứ, từ đó tạo nên một trở lực vô hình ngăn can chủ thê chan thương tiếp nhận các đoạn ký ức của chính mình, làm trì hoãn và mat đi ý nghĩa của quá khứ, dẫn đến sự phân mảnh ý thức, tạo thành trạng 19 thái ý thức kép trong “sue xuất hiện của các trạng thái ý thức bat thường" (Sigmund Freud & Josef Breuer, 2004), ngăn can sự kết nỗi trong ý thức chủ thé. Đó có thé được xem như là một dạng của ý thức thứ hai tồn tại song hành với ý thức trạng thái bình thường, làm tan vỡ tâm lý, gây ra cho chủ thẻ sự phân li liên tục tàn phá và chịu tác động của chính chan thương của mình. Như vay, khi hôi tưởng hoặc tường thuật lại, bản thân sự kiện ban đầu cũng có thé “bién dang” theo hướng ¥ nghĩa và tác động của nó bị thay đôi bởi những an tượng, cảm xúc, suy nghĩ của chủ thé đành cho nó bị chí phối bởi hoàn cảnh, trạng thái tâm lý ở thời điểm hỏi tưởng hoặc kẻ lại. Do đó, chan thương về mặt tâm lý có thé tạo ra những ÿ nghĩa khác nhau hoặc những hình dung khác nhau đối với cùng một sự kiện gây ra chấn thương.
Chính bởi thế, theo công trình của S. Freud và cộng sự của ông, ta chỉ có thé kết thúc chan thương bằng cách “danh thức ký ức về sự kiện khởi đầu một cách rõ rang, khơi day cùng với nó những cảm xúc đi kèm, dung từ ngữ để tạo ra sự tác động” (Sigmund Freud & Josef Breuer, 2004). Từ công trình trên, quan điểm cho rang chan thương gây ra sự phân li hoặc khoảng trồng tinh than đã được Sigmund Freud vận dụng trong suốt sự nghiệp nghiên cứu về phân tâm học của mình. Đến với công trình Beyond The Pleasure Principle (Vượt lên trên nguyên tắc khoái cảm) năm 1920, trong quá trình quan sát và nghiên cứu các cựu binh chiến tranh, cụ thê là những người còn sông sót trở về từ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Freud phát hiện ở họ xuất hiện “tinh trạng suy yếu và rồi loạn tổng quát và toàn điện hơn nhiều về khả năng tâm than” (Sigmund Freud, 1955) với biểu hiện của "trạng thái rồng của trí nhớ, “st xuất hiện liên tục, ám ảnh của những trạng thái cực đoan như ao giác, ác mộng” (Đặng Hoàng Oanh, 2022).
Nhu vậy, so với công trình trước, công trình này của Freud đã có sự nhấn mạnh vẻ tinh tái điễn của chan thương thông qua các dang thức trang thái tinh thần. Cụ thẻ, các bệnh nhân của chan thương không có cảm giác đúng dan về những gì phải trai qua. mà ở đó, gidc mơ hay ác mộng đóng vai trò “liên tục đưa bệnh nhân trở lại tình hudng tai nạn của họ, dé từ đó họ tinh day trong một nổi sợ hãi khác” (Sigmund Freud, 1955). Bởi vậy, nạn nhân chan thương không tiếp nhận, ghi nhớ chan thương như một sự 20 kiện dién ra trong quá khứ.
Chính bởi sự không thé tiếp cận đến hiện thực chan thương, bệnh nhân chắn thương không thé nhớ được toàn bộ những gì bị dồn nén bên trong mình, bệnh nhân chắn thương buộc phải lặp lại phần kìm nén từ quá khứ như một trải nghiệm của thực tại, dẫn đến trạng thái phân tách và đả phá bản ngã một cách kịch liệt. Như vậy, một sự kiện chan thương. như tiền dé cũ từ việc phân tích chứng cuồng loạn, sẽ neo vào trong vô thức con người, tạo cảm giác đứt gãy bản ngã và chỉ được nhìn nhận thông qua sự tái trình hiện của ký ức. Từ lý thuyết chan thương của Freud trên tinh than phân tâm học ở công trình này, hơn một thé ki sau, triệu chứng rồi loạn ký ức hay hậu chứng tâm lý (PTSD) mới được Hiệp hội Tam thân Hoa Kỳ nhìn nhận như một chứng bệnh tinh thần, từ đó đánh dấu sự công nhận đối với một yếu tô quan trọng trong cơ chế vận hành của tâm lý hậu chan thương — ký ức.