Chương I : MOT SO VAN ĐỀ LÝ LUẬN VE THO VA THO TRU TINH I. Thơ và thơ trữ tinh 1. Thơ Trả lời câu hỏi "Thơ là gì?” cũng khó như trả lời câu hỏi “Dep là gì?", “Tình yêu là gì?”. Nhân loại cho đến nay vẫn chưa thống nhất về câu trả lời cuối cùng.
Tuy vậy, sống với thơ, người ta xưa nay luôn tìm cách trả lời. Thơ là một hiện tượng phong phú, phức tạp và nó có một hàm nghĩa rất rộng. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về thơ. Giáo sư Phan Ngọc : “Tho là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bất người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ nay”, '"' Sách Thượng thư viết : "Thơ nói chí, ca làm cho lời ngân nga”.
Bai tựa lon sách Kinh thi nói : “Tho là nơi chí đi tới, ở trong lòng là chí, thốt ra là thơ, tình cảm xúc động ở trong mà hiện hình thành lời ”. Bach Cư Dị nói : “Thơ lấy tình làm gốc, lời làm chổi, tiếng làm hoa, nghĩa làm qua”. Viên Mai nói : “Hễ lời làm động lòng, sắc màu làm lóa mắt, vị hợp với miệng, âm nghe vui tai thì đều là thơ hay”. Lê Quý Đôn nói : “Ta cho thơ có ba điều chính : một tinh, hai cảnh, ba sự”.
Uy-Uốts-uốf nói : “Tho lấy nhiệt tình sống động mà truyền đạt chân lý của lòng người, là phương thức biểu đạt giàu sức tưởng tượng của tình cảm mãnh liệt”.Sen-li nói : “Thơ có thể nói là sự biểu hiện của sức tưởng `. tượng SOTH : kệ Thi Minh Kim - Lig : K27A Oau 5 Tim (tiểu đặc điểm the trừ tinh nà ting dung phan lich mot sd tác phim M.Gorki nói : “Tho đích thực mãi mãi là thơ của tâm hồn, mãi mãi là bài ca của tâm hồn”. Sóng Hồng nói : "Thơ tức là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp ”. Diệp Tiến nói : “Tho là tiếng lòng, không thể trái với lòng mà nảy ra thơ”.
Tố Hữu nói : “Tho là tiếng nói đồng ý, đồng chí, là tiếng nói đồng tinh”, Phân tích các ý kiến trên có thể kết luận : a) Thơ là tiếng nói của tâm hồn, chí hướng, của tình cảm mãnh liệt. b) Thơ là sản phẩm của sức tưởng tượng phong phú. ¢) Thơ là nghệ thuật của ngôn từ. Như vậy, đọc thơ phải đi qua con đường tìm hiểu ngôn từ thơ, đi vào thế giới tưởng tượng của thơ, hiểu được tâm hồn, chí hưởng, chân lý của lòng người trong thơ.The trữ tình Trữ tinh là một trong ba loại hình cơ bản của văn chương (tự su, trữ tình, kịch) xét ở cấu trúc hai mặt nội dung - hình thức của tác phẩm.
Ngày nay, nói đến thơ ca, ta nghĩ nhiều đến những bài thơ trữ tình - những tác phẩm giống như những lời bộc bạch tâm tư. Theo nghĩa từ nguyên, trữ tình (lyric) là bài hát được đệm bằng đàn lyr (đàn thất huyền). Nghĩa hiện tại của trữ tình là bài thơ không có tinh tự sự (kể chuyện), không có tính kịch (được trình diễn bởi một diễn viên). nó là lời bộc bach cảm xúc hoặc suy tư.
Jame Joyce xem trữ tình như là "trang phục ngôn từ của một giây lát cảm xúc, là tiếng kêu có tiết tấu những thế kỷ trước đây đã khích lệ người chèo thuyền `. Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cho rằng : *Ở trữ tình, cái được để lên hàng đầu là chủ thể phát ngôn và thái đô của nó đối với cái được mô ta". SOTH : Lé Thi Mink Kim - ớp : X27‹ Ê Oan 6 Tim hiéu đặc điểm: thơ trừ tinh nà ting dang phan lich mgt số tác phim Bản chất của thơ trữ tình là sự hiện diện của cái tôi. Cái tôi trữ tình lẻ đĩ nhiên là một hiện tượng nghệ thuật.
Ai cũng biết thơ trữ tình luôn luôn gắn liền với cái tôi, song cho đến nay, vấn dé cái tôi trữ tình vẫn ít được nghiên cứu. Nhiều từ điển văn học, sách chuyên khảo, giáo trình lý luận văn học thiếu vắng mục từ hoặc chuyên mục bàn về khái niệm này. Đối với Hêghen, thơ trữ tình được xem như là sự biểu hiện của chủ thể và cảm thụ của chủ thể. Ở thơ trữ tình, cá nhân là trung tâm trong quan niệm và tình cảm nội tại của nó.N Pôxpêlốp xác định nội dung trữ tình là tinh cách xã hội được biểu hiện qua nhân vật trữ tình.” Cái tôi trữ tình trong thơ ca có chức năng duy trì sự bén vững bản chất cá nhân, nhân cách trước mọi biến động của cuộc sống.
Nói đến cái tôi trữ tình tức là nói đến con người bên trong, con người “that” từ trong cách nghĩ — con người tiểm ẩn của nhà thơ. Nhân cách của con người luôn luôn thay đổi và không ngừng hoàn thiện. Cấu trúc của cái hạt nhân nhân cách chưa kết thúc luôn là trung tâm của chủ thể cảm hứng trữ tình. Nhà thơ chân chính bao giờ cũng sáng tạo bằng cách của mình.
Chính nhân cách ấy làm nền cho nhà thơ đứng vững, sống mãi trong lòng người đọc. Nói đến cái tôi trong thơ tức là nói đến cái tôi ngoài đời đã được nghệ thuật hóa. Nó thể hiện ở hình thức cái nhìn, cách thức giác độ miêu tả và ở nguyên tắc xây dựng tái tạo hình tượng mang cảm hứng, tư tưởng, lập trường của nhà thơ. Như vây, khi nghiên cứu cái tôi trữ tình tức là ta đi sâu vào nội tâm nhà thơ với những nét riêng nhất của tác giả (chủ thể sáng tạo).
Cần tạo mối đồng cảm tự trong tấm lòng, trong nhân cách, để thấy hết sức truyền cảm thẩm mỹ của thế giới nội tâm. Tu sự hướng về quá khứ, kể những gì đã xảy ra. Trữ tình hướng về hiện tại, nấm bất người nói trong tác phẩm vào lúc đương bộc bạch, biểu hiện. Trữ tình không chỉ tái tạo lại những tình cảm của nhà thơ mà ở một mức đáng kể còn làm cho những tình cảm ấy trở nên năng động, giàu có, sáng tạo lại những tình cảm ấy.
Cảm xúc trữ tình, vì vậy, có một cường SOTH : Le Thi Minh Kim - Ldp : X27c† “Dán 7 Tim hiéu đậc điểm the trừ tink nà ting dang phan lich mol số tác phim đô. một độ bão hòa đặc biệt. Nhà thơ dường như bị “cầm tù” bởi tình cảm mà anh ta đem thể hiện bằng thơ. Thơ trữ tình thường có địa chỉ rõ rệt, viết cho một người nào đó, tuy nhiên.
người đọc thường cảm thấy nhân vật trữ tình trong bài thơ đương nói với chính mình. Ý kiến của John Stuart Mill về thơ đặc biệt đúng với thơ trữ tình: “Van hùng biện được nghe, thơ được nghe trom. Văn hùng biện giả định một cử tọa, đặc điểm của thơ nằm ở vô thức tuyệt đối của một người nghe ở nhà thơ. Thơ là nhu cầu mình tâm sự với chính minh, những lúc cô don”.
Tác phẩm trữ tình, bao giờ cũng bao gồm việc nhà thơ lý giải cuộc sống - đó sẽ là công việc của thế giới nội tâm của cá nhân nhà thơ. Bởi vậy, với tất cả sự đặc sắc độc đáo của trữ tình, vẫn hoàn toàn có thể dem áp dung cho nó những khái niệm (để tài, vấn dé, sự đánh giá một cách cảm xúc) mà người ta vừa dùng để soi nội dung một tác phẩm văn học. Đồng thời, nội dung các tác phẩm trữ tình có một phẩm chất đặc biệt, rất cốt yếu với người đọc. Nội dung của loại trữ tình là cuộc sống tinh thần, thế giới những tư tưởng, tình cảm của con người.
Ở đây chủ yếu là những trạng thái tâm hồn, những suy tưởng cảm xúc cá nhân ẩn giấu bên trong con người. Thông qua đó, chúng ta có thể tìm hiểu được phẩm chất tâm hồn của nhà thơ. Nhà thơ nghĩ gì? Lo lắng điều gì? Có hài lòng với thực tế hiện tại không? Có dự định gì cho tương lai? Thái độ yêu ghét ra sao? Không chỉ đừng ở đó, nhà thơ với tư cách chủ thể trữ tình còn suy nghĩ, nghién ngẫm chính mình để tìm cho mình một hướng đi đúng, tạo cho mình một nhân cách tốt. Thông qua đó, người tiếp nhận cũng bộc lộ thái độ đồng tình hay phản đối, tiếp thu hay loại trừ.
Theo Timoféep “Nếu con người được giới thiệu qua một trạng thái tâm hẳn, qua một trạng thái cá biệt nhất định không có cốt truyện thi trước mất chúng ta là loại trữ tình. Trong tác phẩm trữ tình bất cứ thuộc thời gian nào, chúng ta đều thấy có một lối thể hiện con người, thể hiện tính cách hoàn toàn khác. ở đây con người được vẽ lên trong mot tâm trang cá biệt của mình”. '' Không giống như các phương thức thể hiện đời sống khúc.
trữ tình phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa SOTH : Lé Thi Mink Kim - Cáp : X27‹ Ê Odn 8 Tim hiéu đặc điểm the trừ tinh nà ting dụng phan lich mgt số tác phim là con người tự thấy minh qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với cảm xúc và nhân sinh. Phương thức trữ tình cũng tái hiện các hiện tượng đời sống nhưng tái hiện này không mang mục đích tự thân mà tạo điều kiện để chủ thể bộc lộ những cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình. Nguyên tấc chủ quan là nguyên tắc cơ bản trong việc chiếm lĩnh hiện thực. là nhân tố cơ bản quy định những đặc điểm cốt yếu của tác phẩm trữ tình.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học ( Lê Bá Hán, Tran Đình Sử, Nguyễn Khắc Phí) thì tác phẩm trữ tình thể hiện tâm trạng “Trong phương thức trữ tình, cái tôi trữ tình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng vì nó là nguồn trực tiếp duy nhất của nội dung tác phẩm. Cái tôi trữ tình thường xuất hiện đưới dang nhân vật trữ tinh”. Tác phẩm trữ tình trình bày trực tiếp cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ của con người nên xúc động trữ tình bao giờ cũng mang thời hiện tại. Nhờ đó, những cảm xúc, rung động thẩm kín của nhà thơ tác động đến người đọc tạo mối cảm thông, đồng điệu.
Tác phẩm trữ tình còn mang một ý nghĩa xã hội rộng lớn, nó thâm nhập và thẩm thấu vào những nhân lý phổ biến nhất của tổn tại con người. Chính vì thế, sự phát triển của phương thức trữ tình luôn gắn liền với những điều kiện lịch sử - xã hội.