Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới, rừng giữ vai trò điều hòa khí hậu, bảo vệ đất, duy trì nguồn nước và cung cấp lâm sản cùng nguồn gen quý hiếm. Chức năng của hệ sinh thái rừng chỉ được phát huy tối đa khi kết cấu tầng tán và sự tổ thành loài đạt mức hợp lý. Trong cấu trúc phân tầng thảm thực vật rừng, ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) đóng vai trò nòng cốt ở tầng thảm tươi sát mặt đất. Khác biệt cơ bản so với thực vật có hạt (Hạt trần và Hạt kín), dương xỉ là nhóm thực vật bậc cao nguyên thủy sinh sản bằng bào tử, không có hoa và hạt. Nhờ khả năng thích nghi cao, biên độ sinh thái rộng và khả năng tái sinh mạnh mẽ, nhóm thực vật này giữ vai trò là loài chỉ thị môi trường, đồng thời cung cấp giá trị sử dụng đa dạng trong y học làm dược liệu, làm cây cảnh, nguồn thực phẩm và làm vật liệu thủ công mỹ nghệ.
Vườn quốc gia Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) là vùng rừng đặc dụng có địa hình núi đá vôi phân cắt phức tạp xen kẽ núi đất, tạo nên nhiều trạng thái rừng và sinh cảnh đặc trưng, thuận lợi cho sự khu trú và phát triển của các loài dương xỉ. Tuy nhiên, các dẫn liệu nghiên cứu mang tính hệ thống và chuyên biệt về ngành thực vật này tại khu vực còn tương đối phân tán. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Trọng Thắng, chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam (thực hiện năm 2019 dưới sự hướng dẫn của TS. Phùng Thị Tuyến), tập trung khảo sát thành phần loài và phân bố không gian của ngành Dương xỉ tại địa bàn Vườn quốc gia Ba Bể nhằm bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Xác định thành phần loài, tính đa dạng và đặc điểm phân bố của thực vật ngành Dương xỉ (Polypodiophyta); trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên này một cách hợp lý tại Vườn quốc gia Ba Bể.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định danh lục thành phần loài và đặc điểm hình thái nhận dạng của các loài thực vật ngành Dương xỉ tại khu vực nghiên cứu.
- Phân tích tính đa dạng về dạng sống và giá trị sử dụng thực tiễn của các loài ghi nhận được.
- Xác định đặc điểm phân bố của các loài trên các tuyến khảo sát thực địa.
- Đề xuất các giải pháp khả thi phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên dương xỉ tại địa phương.
Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
- Nghiên cứu thành phần loài, đánh giá tính đa dạng về dạng sống và công dụng của thực vật ngành Dương xỉ tại khu vực điều tra.
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố không gian của các loài dương xỉ theo tuyến điều tra thực địa.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý và bảo vệ tài nguyên thực vật ngành Dương xỉ cho khu vực nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật thuộc ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) hiện diện tại Vườn quốc gia Ba Bể, dựa trên tài liệu kế thừa, ảnh chụp hiện trường và mẫu vật tươi thu thập qua khảo sát thực địa.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Các sinh cảnh rừng thuộc địa phận xã Khang Ninh, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (nằm trong ranh giới Vườn quốc gia Ba Bể).
- Thời gian thực hiện: Năm 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận kế thừa hệ thống phân loại học thực vật bậc cao theo quan điểm phân loại học của Takhtajan, kết hợp với các hệ thống phân loại lịch sử và hiện đại trên thế giới (Linnaeus, C. Presl, W. Hooker, Fée, Copeland, Nayar, Hassler & Swale). Về hệ thống dẫn liệu phân loại trong nước, tác giả đối chiếu với công trình của các học giả chuyên ngành như Henri Lecomte, Tardieu-Blot và C. Christensen trong Thực vật chí đại cương Đông Dương (1939), GS. Phạm Hoàng Hộ trong Cây cỏ Việt Nam (2000), GS. Lê Công Kiệt trong Khuyết Thực vật (1974), GS. Võ Văn Chi và GS. Trần Hợp trong Cây cỏ có ích của Việt Nam (1999), cùng các công trình thống kê đa dạng của GS. Nguyễn Nghĩa Thìn (2005) và TS. Võ Văn Chi (2007).
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra thực địa ngoại nghiệp và phân tích, xử lý mẫu vật trong nội nghiệp:
Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
- Điều tra phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng am hiểu thực địa gồm cán bộ kiểm lâm quản lý rừng, người dân địa phương thường xuyên đi rừng và người thu mua lâm sản. Sử dụng hình ảnh và mẫu vật có sẵn để xác định sơ bộ vùng phân bố và tên gọi bản địa theo Mẫu biểu 01.
- Điều tra thực địa theo tuyến: Thiết lập 3 tuyến điều tra vắt qua các dạng địa hình và trạng thái rừng đặc trưng, tránh đi trùng hoàn toàn với đường mòn lớn hoặc sông suối tự nhiên. Bề rộng quan sát ghi nhận loài là 10 mét về mỗi phía của tuyến:
- Tuyến 1 (Thảm Kít - Ác É - Hồ Ba Bể): Chiều dài 7 km, xuất phát từ Hạt kiểm lâm theo hang Thảm Kít - Ác É đến hồ Ba Bể. Tọa độ điểm đầu: 566269 - 2479959; điểm cuối: 564856 - 2478591.
- Tuyến 2 (Ngạm Xe): Chiều dài 3,5 km. Tọa độ điểm đầu: 566269 - 2479959; điểm cuối: 566472 - 2480038.
- Tuyến 3 (Thôn Nà Mầm): Chiều dài 4 km. Tọa độ điểm đầu: 566269 - 2479959; điểm cuối: 565408 - 2479447.
- Thu thập dữ liệu tại chỗ: Tại mỗi điểm bắt gặp loài, tác giả tiến hành định vị tọa độ bằng máy định vị GPS, ghi chép số hiệu mẫu, mô tả đặc điểm sinh thái, chụp ảnh hiện trường và lập hồ sơ theo Mẫu biểu 02. Dụng cụ thực địa gồm có thước dây, địa bàn, máy đo cường độ sáng, máy ảnh, túi nylon thu mẫu, cồn bảo quản và nhãn etiket.
Phương pháp xử lý nội nghiệp
- Giám định tên khoa học: Mẫu vật tươi sau khi thu thập được xử lý ép khô và so sánh hình thái giải phẫu với các khóa phân loại trong tài liệu chuyên khảo như Tài nguyên cây cảnh Việt Nam (Trần Hợp, 2012) và đối chiếu trực tiếp với bộ tiêu bản thực vật lưu trữ tại Phòng Tiêu bản Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam. Tên khoa học được chuẩn hóa theo danh pháp quốc tế.
- Phân loại dạng sống và giá trị sử dụng: Xác định dạng sống (thân bụi, dây leo) căn cứ theo sách Tên cây rừng Việt Nam (2000). Giá trị sử dụng thực tiễn (làm cảnh, làm thuốc, làm thức ăn) được tổng hợp qua kết quả phỏng vấn cộng đồng kết hợp tra cứu các tài liệu kinh điển: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2000), Tài nguyên cây cảnh Việt Nam (Trần Hợp, 2012) và Tên cây rừng Việt Nam (2000).
- Xây dựng bản đồ phân bố: Sử dụng dữ liệu tọa độ GPS kết hợp với bản đồ số địa hình xã Khang Ninh, xử lý trên các phần mềm chuyên dụng MapInfo và MapSource để thể hiện không gian phân bố của các loài trên 3 tuyến điều tra.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương này hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam:
- Trên thế giới: Lịch sử phân loại bắt đầu từ thế kỷ 18 với M. Adanson dựa vào túi bào tử, Linnaeus phân chia thực vật thành 24 lớp trong Species Plantarum (1753) xếp Dương xỉ vào lớp 24. Các bước tiến tiếp theo gắn liền với tên tuổi của J. Smith, Mirbel, C. Presl (mô tả hơn 100 loài mới và 38 chi), W. Hooker (mô tả 135 chi với khoảng 2.400 loài), Fée (liệt kê 2.100 loài thuộc 188 chi), Mettenius, Moore. Đến thế kỷ 20, các hệ thống phân loại hiện đại của Christensen, Dickason (1946 chia 5 bộ), Copeland (chia 3 bộ), Nayar (chia 3 phân lớp) hoàn thiện việc sắp xếp taxon. Theo số liệu trích dẫn từ Hassler & Swale (2001), toàn cầu có khoảng 12.838 loài, 316 chi, 58 họ thuộc ngành Polypodiophyta; riêng khu vực Đông Nam Á có khoảng 4.400 loài.
- Tại Việt Nam: Các nghiên cứu thời kỳ Pháp thuộc gồm công trình của J. Baker (1890), H. Christ (1894), H. Billet (1898), Bonaparte (1918) và bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương (Henri Lecomte chủ biên; tập VII phần 2 do Tardieu-Blot và Christensen biên tập năm 1939). Sau năm 1954, các công trình nổi bật gồm Phạm Hoàng Hộ (mô tả 321 loài, 112 chi, 33 họ), Lê Công Kiệt (1974), Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999 ghi nhận 181 loài có ích), Nguyễn Thị Quý (1999 ghi nhận 90 loài tại Pù Mát), Nguyễn Nghĩa Thìn (2005 thống kê 713 loài, 170 chi, 26 họ trên cả nước).
- Tại Vườn quốc gia Ba Bể: Các điều tra thực vật học ghi nhận hệ thực vật Ba Bể gồm 4 yếu tố di cư và bản địa với 909 loài thực vật bậc cao trên cạn thuộc 517 chi, 149 họ của 5 ngành. Các đề tài liên quan đã thực hiện gồm nghiên cứu tác động của cư dân (Trần Ngọc Thể, 2009), đa dạng sinh học (Hoàng Thị Diệu, 2014), bảo tồn Muồng trắng (Đặng Minh Chiến, 2015) và đa dạng hệ thực vật (Vũ Văn Thịnh, 2016).
Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết toàn bộ thiết kế nghiên cứu của khóa luận, bao gồm việc xác lập hệ thống mục tiêu tổng thể và mục tiêu thành phần; định vị đối tượng khảo sát là các loài dương xỉ tại xã Khang Ninh thuộc Vườn quốc gia Ba Bể. Tác giả trình bày các biểu mẫu ghi chép thực địa, quy trình định vị tọa độ bằng GPS, quy chuẩn thiết lập 3 tuyến điều tra cắt ngang các trạng thái rừng tự nhiên, cũng như kỹ thuật thu thập mẫu tiêu bản khô và phương pháp xác định danh pháp khoa học thông qua đối chiếu tiêu bản tại Trường Đại học Lâm nghiệp.
Chương 3: Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu:
- Vị trí địa lý và quy mô: VQG Ba Bể thành lập theo Quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ, diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 7.226 ha và hơn 300 ha mặt nước hồ; tọa độ 105°36'55" kinh Đông và 22°24'19" vĩ Bắc, thuộc địa bàn 5 xã (Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Thượng, Quảng Khê, Cao Mẫu). Năm 2004, vườn được công nhận là Vườn Di sản ASEAN.
- Địa hình: Phức tạp, chia cắt mạnh gồm 5 dạng chính: địa hình Karst đá vôi chiếm 23,6% diện tích; núi trung bình (đỉnh Phja Bjóoc cao 1.502 m) chiếm 23%; núi thấp (300 - 700 m) chiếm 43,7%; vùng đồi lượn sóng (< 300 m) chiếm 3,2%; hồ và thung lũng chiếm 6,5% diện tích tự nhiên.
- Thổ nhưỡng: Đất chủ yếu là Feralit đỏ vàng có mùn và Feralit đỏ sẫm trên đá vôi, phân thành 5 nhóm đất chính: Renzit (trũng Karst), Luvisols và Leptosols (vách Karst), Cambisols (sườn bóc mòn), Acrisols (đất trống nương rẫy), Fluvisols (thung lũng ven sông suối).
- Khí hậu: Nhiệt độ trung bình năm 22°C (cao nhất dưới 40°C, thấp nhất có thể xuống 0°C); độ ẩm trung bình trên 80%; lượng mưa tập trung 91% vào mùa mưa (tháng 4 đến tháng 10).
- Thảm thực vật và khu hệ sinh vật: Có 1.281 loài thực vật thuộc 162 họ, 672 chi (trong đó có 600 loài cây thân gỗ và 182 loài lan). Khu hệ động vật có 81 loài thú (22 loài trong Sách đỏ Việt Nam), 322 loài chim (7 loài trong Sách đỏ), 27 loài bò sát, 106 loài cá và 553 loài côn trùng/nhện.
- Kinh tế - xã hội: Huyện Ba Bể có diện tích 678 km², dân số 46.350 người (năm 2009), gồm các dân tộc Tày, Nùng, Dao, H'Mông, Kinh, Sán Chỉ, Hoa; tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Địa phương được hỗ trợ qua các chính sách của Nhà nước như Nghị định số 20/1998/NĐ-CP, Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP và Dự án IFAD (25 triệu USD).
Chương 4: Kết quả và phân tích kết quả
Chương này tập trung trình bày toàn bộ số liệu điều tra thu được tại hiện trường:
- Thành phần loài và tính đa dạng: Khảo sát đã ghi nhận 32 loài dương xỉ thuộc 21 chi và 13 họ khác nhau. Trong đó, họ chiếm ưu thế tuyệt đối về số lượng loài là Pteridaceae (7 loài) và Polypodiaceae (7 loài). Các họ có số chi phong phú nhất là Polypodiaceae (6 chi), Dennstaedtiaceae (2 chi), Dryopteridaceae (2 chi) và Thelypteridaceae (2 chi).
- Dạng sống: Có 30 loài sinh trưởng dưới dạng cây bụi (chiếm 93,75%) và 2 loài thuộc dạng dây leo (chiếm 6,25% gồm Bòng bong ngón Lygodium digitatum và Bòng bong leo Lygodium scandens). Chưa phát hiện các loài thuộc dạng thủy sinh bèo nổi hay thân bò trườn ngập nước.
- Giá trị sử dụng: 100% số loài (32 loài) có giá trị làm cây cảnh; 13 loài có giá trị làm dược liệu trị bệnh (chiếm 40,625%); 3 loài làm thức ăn cho người và gia súc (chiếm 9,375% gồm Rau bợ Marsilea quadrifolia, Ráng móng trâu tim Nephrolepis cordifolia, Ráng hai ổ rau Diplazium esculentum). Có 2 loài đa chức năng sở hữu đồng thời cả 3 giá trị sử dụng là Ráng móng trâu tim và Ráng hai ổ rau.
- Đặc điểm phân bố không gian:
- Tuyến Thảm Kít - Ác É ghi nhận số lượng nhiều nhất với 16 loài.
- Tuyến Ngạm Xe ghi nhận 14 loài.
- Tuyến Thôn Nà Mầm ghi nhận ít nhất với 9 loài (do chịu tác động mạnh từ các hoạt động dân sinh gần thôn bản).
- Đa số các loài dương xỉ phân bố tập trung tại ven các tuyến đường mòn, bờ bụi có độ ẩm cao và ánh sáng tán xạ vừa phải; mật độ dưới tán rừng rậm nguyên sinh ít hơn.
- 7 loài xuất hiện trên cả 2 tuyến khảo sát: Rau bợ, Ráng ổ vạch dài, Căng gà xẻ nửa, Căng gà lá hẹp, Căng gà chân rết, Căng gà eo, Ráng hai ổ rau.
- Các loài có tần suất bắt gặp cá thể nhiều nhất ngoài thực địa gồm: Ráng móng trâu tim, Ráng vi lân cỏ, Guột thẳng, Rau bợ và Ráng hai ổ rau.
- Đặc điểm nhận dạng hình thái: Tác giả mô tả chi tiết thân rễ, cuống lá, phiến lá, hệ thống gân lá, ổ túi bào tử và bào tử của từng loài cụ thể như Tóc thần đuôi lớn, Tóc thần phi, Tóc thần chồi, Tổ chim, Ráng dừa, Ráng móng trâu tim, Cốt toái nguyên, Tai chuột lưỡi dài, Guột thẳng, Rau bợ, các loài thuộc chi Căng gà (Pteris spp.) và chi Bòng bong (Lygodium spp.).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp cụ thể cấu trúc thành phần loài và số chi theo từng họ thực vật thuộc ngành Dương xỉ ghi nhận tại khu vực khảo sát:
| STT |
Tên họ khoa học |
Tên họ tiếng Việt |
Số chi |
Số loài |
| 1 |
Adiantaceae |
Họ Tóc thần |
1 |
3 |
| 2 |
Aspleniaceae |
Họ Tổ chim |
1 |
1 |
| 3 |
Blechnaceae |
Họ Ráng dừa / Họ Guột |
1 |
1 |
| 4 |
Dennstaedtiaceae |
Họ Áo cóc |
2 |
2 |
| 5 |
Dryopteridaceae |
Họ Ráng mộc xỉ |
2 |
2 |
| 6 |
Gleicheniaceae |
Họ Guột |
1 |
1 |
| 7 |
Marsileaceae |
Họ Rau bợ |
1 |
1 |
| 8 |
Oleandraceae |
Họ Trúc xỉ |
1 |
1 |
| 9 |
Polypodiaceae |
Họ Dương xỉ |
6 |
7 |
| 10 |
Pteridaceae |
Họ Căng gà |
1 |
7 |
| 11 |
Schizaeaceae |
Họ Bòng bong |
1 |
3 |
| 12 |
Thelypteridaceae |
Họ Thư lỵ |
2 |
2 |
| 13 |
Woodsiaceae |
Họ Cầu xỉ / Họ Vạn sỹ |
1 |
1 |
| Tổng |
13 họ |
|
21 |
32 |
Về mặt công dụng thực tiễn của nguồn tài nguyên, khóa luận thống kê các nhóm giá trị:
- Cây cảnh: 32 loài (100%).
- Dược liệu làm thuốc: 13 loài (40,625%), dùng chữa trị các chứng bệnh như ho, sốt, vết thương bỏng, cầm máu, viêm ruột, kiết lỵ, phong thấp, đau lưng (như Tóc thần đuôi lớn, Cốt toái nguyên, Căng gà xẻ nửa, Ráng dừa...).
- Nguồn thực phẩm: 3 loài (9,375%) gồm Rau bợ, Ráng móng trâu tim và Ráng hai ổ rau.
Các giải pháp quản lý và bảo vệ do tác giả đề xuất:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học của khách du lịch và cộng đồng dân cư địa phương sống tại vùng đệm và vùng lõi.
- Củng cố, tăng cường tuần tra kiểm soát của lực lượng kiểm lâm tại các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái.
- Xây dựng các dự án và đề tài nghiên cứu khoa học chuyên sâu về bảo vệ, nhân giống và phát triển bền vững các loài dương xỉ có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn cao một cách có hệ thống.
Về mặt đóng góp khoa học, nghiên cứu đã lập danh mục có kiểm chứng tiêu bản thực địa gồm 32 loài dương xỉ tại VQG Ba Bể, cung cấp bản đồ phân bố thực địa trên 3 tuyến điều tra, làm tài liệu tham khảo cho Ban quản lý Vườn quốc gia trong công tác bảo tồn hệ thực vật tầng thảm tươi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế khách quan và chủ quan trong quá trình thực hiện:
- Thời gian khảo sát thực địa còn ngắn, kinh nghiệm điều tra phân loại thực vật của sinh viên còn hạn chế.
- Tài liệu chuyên khảo chuyên biệt về phân loại ngành Dương xỉ tại khu vực Ba Bể còn ít, gây khó khăn cho việc tra cứu đối chiếu.
- Điều kiện địa hình núi đá vôi Karst hiểm trở, mức độ phân cắt lớn kết hợp với diễn biến thời tiết khắc nghiệt ảnh hưởng đến việc mở rộng phạm vi điều tra ngoài 3 tuyến cố định.
Hướng nghiên cứu mở rộng được gợi ý:
- Mở rộng phạm vi và số lượng tuyến điều tra sang các xã khác trong ranh giới Vườn quốc gia Ba Bể (như Nam Mẫu, Cao Thượng, Quảng Khê, Cao Mẫu).
- Thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về phân loại sinh học phân tử, nghiên cứu hoạt tính dược học và đánh giá trữ lượng sinh khối của các loài dương xỉ có giá trị kinh tế cao tại địa phương.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng sau:
- Sinh viên, học viên cao học thuộc các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh học, Khoa học môi trường tham khảo về quy trình thiết kế tuyến điều tra thực vật tầng thảm tươi, kỹ thuật ép mẫu tiêu bản và phương pháp giám định hình thái dương xỉ.
- Cán bộ kỹ thuật và lực lượng kiểm lâm tại Vườn quốc gia Ba Bể sử dụng danh lục 32 loài cùng mô tả hình thái để phục vụ nhận dạng, theo dõi diễn biến tài nguyên thực vật trong các đợt tuần tra bảo vệ rừng.
- Các nhà nghiên cứu phân loại thực vật học có thêm dữ liệu thực địa về sự phân bố của các loài thuộc họ Pteridaceae, Polypodiaceae và Schizaeaceae tại vùng núi đá vôi Đông Bắc Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu loài dương xỉ tại Vườn quốc gia Ba Bể và họ nào chiếm ưu thế?
Khảo sát thực địa đã ghi nhận được 32 loài dương xỉ thuộc 21 chi và 13 họ thực vật. Trong đó, hai họ có số lượng loài chiếm ưu thế lớn nhất là họ Căng gà (Pteridaceae) với 7 loài thuộc 1 chi và họ Dương xỉ (Polypodiaceae) với 7 loài thuộc 6 chi.
Tỷ lệ các dạng sống của ngành Dương xỉ tại khu vực nghiên cứu được phân chia như thế nào?
Dạng sống cây bụi chiếm tỷ lệ áp đảo với 30 loài (đạt 93,75% tổng số loài tìm thấy). Dạng sống dây leo chỉ có 2 loài (chiếm 6,25%), gồm Bòng bong ngón (Lygodium digitatum) và Bòng bong leo (Lygodium scandens). Nghiên cứu chưa ghi nhận loài dương xỉ nào thuộc dạng sống bèo nổi hay thân bò ngập nước.
Tuyến điều tra nào có số lượng loài tập trung nhiều nhất và vì sao có sự khác biệt giữa các tuyến?
Tuyến Thảm Kít - Ác É ghi nhận số lượng loài cao nhất với 16 loài, tiếp đến là tuyến Ngạm Xe với 14 loài, tuyến Thôn Nà Mầm có số loài thấp nhất với 9 loài. Nguyên nhân là do tuyến Thảm Kít - Ác É và tuyến Ngạm Xe cách xa khu dân cư, mức độ tác động của con người thấp hơn; trong khi tuyến Nà Mầm nằm gần khu dân cư, chịu nhiều áp lực từ sinh hoạt và canh tác.
Những loài dương xỉ nào trong nghiên cứu sở hữu đồng thời cả 3 giá trị sử dụng (làm cảnh, làm thuốc, làm thức ăn)?
Trong số 32 loài ghi nhận, có 2 loài đa dụng xuất hiện ở cả 3 nhóm công dụng (làm cảnh, làm thuốc chữa bệnh và làm thức ăn cho người hoặc gia súc) là loài Ráng móng trâu tim (Nephrolepis cordifolia Presl) và Ráng hai ổ rau (Diplazium esculentum).
Các loài dương xỉ tại Vườn quốc gia Ba Bể thường phân bố ở những vi sinh cảnh nào?
Qua kết quả khảo sát 3 tuyến, dương xỉ phân bố nhiều nhất ở ven các đường mòn, bờ bụi ẩm ướt có điều kiện chiếu sáng và độ ẩm phù hợp. Mật độ dương xỉ dưới các tán rừng kín rậm rạp thấp hơn đáng kể; một số loài như Guột thẳng, Rau bợ, Ráng hai ổ rau chủ yếu mọc ở ven đường và gần khu dân cư, không bắt gặp dưới tán rừng nguyên sinh.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Trọng Thắng đã hoàn thành mục tiêu điều tra thành phần loài và sự phân bố của ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) tại khu vực Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Đề tài đã xác định được danh lục gồm 32 loài thuộc 21 chi, 13 họ, trong đó dạng sống cây bụi chiếm 93,75% và 100% số loài đều có giá trị làm cây cảnh hoặc dược liệu và thực phẩm. Dữ liệu phân bố không gian trên 3 tuyến điều tra cùng các giải pháp quản lý bảo tồn được đề xuất là tài liệu tham khảo thiết thực cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học tầng thảm tươi tại khu vực nghiên cứu.