Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Giai đoạn lịch sử từ cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX tại Việt Nam là thời kỳ diễn ra nhiều biến cố xã hội dữ dội. Chế độ phong kiến lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng; trong một thời gian ngắn đã chứng kiến sự thịnh suy liên tiếp của các tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Tây Sơn và chúa Nguyễn. Nhiều cuộc khởi nghĩa bùng nổ trên diện rộng, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn do Nguyễn Huệ lãnh đạo. Đây cũng là giai đoạn Nho giáo suy sụp hoàn toàn sau khi từng giữ vị trí độc tôn ở thế kỷ XV và bị lung lay trong các thế kỷ XVI - XVII. Những đảo lộn luân thường đạo lý và xung đột chính trị gay gắt khiến tầng lớp trí thức Nho học rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần, hoang mang về tư tưởng và mang nặng những nỗi buồn riêng, điển hình như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Ngô Thì Nhậm. Đoàn Nguyễn Tuấn là một trong những trí thức mang đặc trưng tư tưởng chung của thời đại đó. Tuy nhiên, tác giả chưa được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông và vẫn còn khá xa lạ đối với người đọc.
Vấn đề con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam đã được một số công trình nghiên cứu khái quát, tiêu biểu là công trình Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam. Dù vậy, riêng đối với tác giả Đoàn Nguyễn Tuấn, giới nghiên cứu trước đó chỉ dừng lại ở các nhận xét sơ lược về tiểu sử, sự nghiệp hoặc phong cách sáng tác, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về con người cá nhân trong thơ văn của ông. Xuất phát từ thực tế đó cùng yêu cầu tích lũy tri thức phục vụ công tác giảng dạy Ngữ văn, tác giả khóa luận đã xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Xác định và phân tích các giá trị nội dung tư tưởng thể hiện con người cá nhân trong tác phẩm Hải Ông thi tập.
- Khảo sát, làm rõ các phương diện và hình thức nghệ thuật biểu hiện con người cá nhân trong tập thơ.
- Đánh giá vị trí, khẳng định đóng góp của Đoàn Nguyễn Tuấn đối với tiến trình vận động của nội dung con người cá nhân trong nền văn học trung đại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là toàn bộ thơ văn của Đoàn Nguyễn Tuấn, trực tiếp khảo sát trên văn bản tập Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn – Hải Ông thi tập do Nguyễn Tuấn Lương, Đào Phương Bình và Trần Duy Vôn dịch, chú thích (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982). Phạm vi nghiên cứu tập trung vào vấn đề con người cá nhân qua các bình diện nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện nghệ thuật trong văn bản tác phẩm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt cơ sở lý luận, khóa luận tiếp cận vấn đề con người cá nhân dựa trên các quan điểm mỹ học và lý luận văn học kinh điển. Điểm tựa lý thuyết bao gồm luận điểm "Văn học là nhân học" của M. Gorki, các kiến giải về ý thức cá nhân trong văn học trung đại của Likhachôp (Con người trong văn học Nga cổ xưa), Avêrixep (Văn học Hy Lạp và văn chương Cận Đông), Mikhailôp (Quan hệ Tiểu thuyết và phong cách), cùng quan niệm của nhà mỹ học Lý Trạch Hậu về tính vô ngã và tình cảm nghệ sĩ.
Đặc biệt, khóa luận vận dụng trực tiếp khung lý thuyết từ công trình Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam của tập thể tác giả Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân. Trong đó, tiến trình phát triển của ý thức cá nhân qua các giai đoạn được sử dụng làm hệ quy chiếu:
- Thời Lý - Trần: Con người yêu nước, trung nghĩa, mang tinh thần tự chủ tích cực của Thiền tông hoặc con người vô ngã, tự do phá chấp theo giáo lý nhà Phật.
- Thế kỷ XV - XVII: Con người đứng trước sự lựa chọn xuất xử, dưỡng thân, bảo thân (Nguyễn Trãi); con người "độc thiện kỳ thân" đối lập với thói tục (Nguyễn Bỉnh Khiêm); con người sống với đam mê trần tục (Nguyễn Dữ).
- Thế kỷ XVIII - XIX: Cái tôi cá nhân bùng nổ đòi quyền sống và quyền hưởng hạnh phúc tự nhiên, xuất hiện dòng văn học thương người xót thân (Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương), con người hành lạc phá cách (Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát), hoặc con người mất phương hướng, bế tắc (Nguyễn Khuyến).
Về phương pháp nghiên cứu, khóa luận kết hợp 4 phương pháp thực tế:
- Phương pháp hệ thống: Đặt các biểu hiện nội dung và nghệ thuật của tập thơ trong một chỉnh thể cấu trúc thống nhất.
- Phương pháp phân tích: Đi sâu mổ xẻ các thi phẩm, hình tượng thơ, từ ngữ, đại từ nhân xưng và hệ thống điển cố.
- Phương pháp lịch sử: Liên hệ hoàn cảnh lịch sử - xã hội thời Lê - Trịnh và Tây Sơn để lý giải căn nguyên tâm lý, tư tưởng của tác giả.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu văn bản thơ Đoàn Nguyễn Tuấn với sáng tác của các tác giả cùng thời hoặc giai đoạn trước (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Phan Huy Ích, Ninh Tốn).
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm văn bản dịch và chú giải Hải Ông thi tập (1982), các tư liệu lịch sử vấn đề từ các công trình nghiên cứu của Trần Văn Giáp (1971), Nguyễn Lộc (trong Văn học Tây Sơn), Nguyễn Tuấn Lương (1998), Tạ Ngọc Liễn (1998), Nguyễn Thạch Giang (2004), Đỗ Đức Hiểu và Phạm Tú Châu (trong Từ điển Văn học bộ mới, 2004).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương này tập trung giải quyết hai nội dung nền tảng: lý luận về phạm trù con người cá nhân trong văn học và cuộc đời, sự nghiệp của Đoàn Nguyễn Tuấn.
Về tiểu sử và đường đời, Đoàn Nguyễn Tuấn mang hiệu Hải Ông, quê ở làng Hải An, huyện Quỳnh Côi (nay là huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Ông xuất thân trong một gia đình thế tộc: là con trai của Thám hoa Đoàn Nguyễn Thục (1718 – 1775), con rể Tiến sĩ Nhữ Đình Toản (1702 – 1773), và là anh vợ của đại thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820). Năm 1786, ông từng đứng ra tập hợp dân làng để giúp chúa Trịnh Bồng chống lại Nguyễn Hữu Chỉnh nhưng không thành. Đến cuối năm 1787, sau khi Vũ Văn Nhậm tiến quân ra Bắc, Đoàn Nguyễn Tuấn cùng Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích tham gia phò tá phong trào Tây Sơn. Năm 1788, ông nhận chức Hàn lâm trực học sĩ. Năm 1789, ông nhận lệnh đón tiếp sứ bộ nhà Thanh tại Lạng Sơn. Năm 1790, ông được cử tham gia đoàn sứ bộ (cùng Vũ Huy Tấn, Phan Huy Ích) hộ tống vua Quang Trung giả sang Trung Quốc chúc thọ vua Càn Long. Sau chuyến đi sứ, năm 1791, ông được thăng Tả thị lang bộ Lại, tước Hải Phái hầu. Năm 1794, ông nhận lệnh vào kinh đô Phú Xuân. Năm 1798, ông hộ giá vua tuần du phương Nam. Sau khi vua Quang Trung mất, vua Quang Toản kế vị khi còn nhỏ tuổi khiến nội bộ triều đình nảy sinh chia rẽ, lục đục; nhận thấy con đường công danh không còn phù hợp, đến năm 1800, Đoàn Nguyễn Tuấn quyết định lui về quê sống ẩn dật.
Về di sản văn học, toàn bộ sáng tác của ông hiện còn tập trung trong tập Hải Ông thi tập. Khóa luận thống kê cơ cấu tác phẩm như sau:
| Tiêu chí phân loại |
Thống kê số lượng bài |
Ghi chú văn bản |
| Thể thất ngôn bát cú |
146 bài |
Thể loại chiếm tỷ trọng lớn nhất |
| Thể thất ngôn tứ tuyệt |
34 bài |
Khắc họa cảm xúc, phong cảnh cô đọng |
| Thể ngũ ngôn |
12 bài |
Gồm các bài ngũ ngôn cổ phong và cận thể |
| Thể ca |
03 bài |
Tiêu biểu có bài Vọng Na Sơn ca |
| Thể hành |
03 bài |
Bộc lộ suy tư thế sự, hành trình |
| Thể liên cú |
01 bài |
Lối thơ nối câu |
| Thơ chưa được dịch nghĩa |
42 bài |
Bản nguyên tác chữ Hán trong văn bản |
| Tổng số tác phẩm toàn tập |
Khoảng 241 bài |
Chia thành: 139 bài trong nước và 102 bài đi sứ |
Chương 2: Con người cá nhân trong Hải Ông thi tập từ phương diện nội dung
Chương 2 phân tích thế giới nội tâm và ý thức cá nhân của tác giả qua ba bình diện chủ đề:
Thứ nhất, con người ưu tư trước bể dâu cuộc đời: Đứng trước cảnh tượng thiên nhiên vĩnh cửu như núi non, sông biển, Đoàn Nguyễn Tuấn thường suy ngẫm về sự ngắn ngủi của đời người và quy luật thịnh suy của các triều đại. Trong các bài Giang trình, Quế Hoa tự hoài cổ, Túc Hoành Sơn đồn, văn hải đào thanh, hay Xích Bích hoài cổ, cảm thức lịch sử luôn đan xen nỗi ngậm ngùi nhân sinh. Vốn là cựu nho sĩ thời Lê, nhà thơ không tránh khỏi giọt nước mắt ngậm ngùi trước sự hoang phế của miếu vũ triều xưa (Thanh Hóa đạo trung, Nghệ An đạo trung). Tuy nhiên, nỗi buồn hoài cổ ở ông không bi lụy hay oán trách; bên cạnh niềm thương cảm quá khứ, ông vẫn thể hiện niềm vui trước lá cờ mới của triều đại tiến bộ Tây Sơn.
Thứ hai, con người nặng lòng với quê hương, gia đình, bè bạn:
- Tình cảm quê hương: Thể hiện da diết trong những tháng ngày đi sứ xa xứ (Quá quan, Thu mộng). Nhà thơ liên tục sử dụng các thi liệu bộc lộ nỗi nhớ nhà như "hương tâm", "tâm hương", "hương hoài", "hương tình", "gia hương".
- Tình cảm gia đình: Bài thơ Tiên khảo húy nhật cảm tác viết tại Quảng Châu ghi lại nỗi day dứt, đau xót nghẹn ngào của người con khi ngày giỗ cha lại phải phiêu bạt nơi đất khách, không thể về tròn đạo hiếu.
- Tình bạn tri kỷ: Khắc họa sự đồng điệu, gắn bó thâm tình với Nguyễn Đề (Họa Nguyễn hàn lâm viện "Hành lộ nan" chi tác), với Quế Hiên, và niềm tiếc thương khôn nguôi dành cho bạn tri âm Ninh Tốn (Vãn Ninh Tốn).
- Lòng tự hào dân tộc: Thể hiện qua các bài thơ họa đáp với sứ thần phương Bắc (Vấn đáp), nơi ông khẳng định sự phong phú của sản vật, vẻ đẹp núi sông, phong tục Đại Việt, xác lập vị thế bình đẳng về văn hiến và lễ nghĩa đối với Trung Hoa.
Thứ ba, con người với nỗi niềm trăn trở trên con đường "hoạn lộ": Dù đạt được danh vọng và lập nhiều công trạng bang giao, Đoàn Nguyễn Tuấn luôn mang mặc cảm ân hận vì đã sa vào chốn quan trường đầy ràng buộc (Vọng Triều Khẩu cựu trị hữu cảm). Trong bài Nghĩ cổ Bạch Lạc Thiên "Tự tiếu hành hà trì" chi tác, ông thẳng thắn thừa nhận quãng đời làm quan là "tất tưởi nhưng đều vô vị", từ đó khởi sinh ý muốn thoái lui. Để thoát khỏi bi kịch nội tâm giữa bổn phận công dân và nhu cầu thanh thản cá nhân, ông nhiều lần tìm kiếm sự giải thoát ở cõi tiên (Vọng Na Sơn ca), cõi mây (Sơn hành), cõi Phật (Họa Hoàng Hàn lâm nguyên tác), và cõi mộng (Họa ngẫu thùy thi). Khóa luận khái quát đây là bi kịch của một nhân cách mang "chí của một nhà Nho mà khí của một thiền nhân".
Chương 3: Con người cá nhân trong Hải Ông thi tập từ phương diện nghệ thuật
Chương 3 làm rõ thi pháp biểu hiện cái tôi cá nhân qua ba yếu tố hình thức:
-
Hình tượng nghệ thuật: Chân dung tự họa ngoại hình của Đoàn Nguyễn Tuấn nổi bật qua hình ảnh mái tóc bạc ("bạch phát", "suy mấn", "đầu tương bạch"). Hình tượng này không đơn thuần phản ánh tuổi tác mà còn là biểu tượng cho những mệt mỏi, dằn vặt thế sự và gánh nặng chức phận (Quá Tĩnh Gia thành ức cố Hoằng Hóa huyện doãn cảm tác, Vọng Triều Khẩu cựu trị hữu cảm, Túc Hoành Sơn đồn, văn hải đào thanh). Bên cạnh đó là hình tượng dáng vẻ "độc tọa" (ngồi một mình), thể hiện trạng thái cô đơn, suy tư của một khách tha hương giữa không gian đèo ải bao la (Đăng Kháo sơn, Độ Hoành Sơn, Tại đồ bàn thành ngoại khách xá trị húy nhật).
-
Ngôn ngữ nghệ thuật:
- Hệ thống đại từ nhân xưng: Khảo sát văn bản cho thấy tác giả sử dụng các đại từ chỉ ngôi với tần suất cụ thể: từ "ta" xuất hiện 41 lần, từ "tôi" xuất hiện 20 lần, từ "mình" xuất hiện 12 lần. Các đại từ này xuất hiện với tư cách chủ thể hành động trực tiếp bộc lộ cảm xúc hoặc đóng vai trò sở hữu tâm trạng ("ngô thân", "tâm lạc").
- Nghệ thuật dụng điển: Tác giả vận dụng linh hoạt điển cố Nho gia, Đạo gia ("Na Sơn", "cõi Hi Di", "mộng kê vàng"), và Phật giáo ("cõi không không", "Bát Nhã"). Điểm sáng tạo độc đáo là lối dụng điển tương phản trong bài Dạ độ Nhĩ Hà: cải biến ý tứ sang trọng "thừa phì mã ý khinh cừu" trong Luận ngữ thành hình ảnh "tệ cát, luy câu" (áo rách, ngựa gầy) để tô đậm tâm trạng uể oải, chán chường khi phải nhận lệnh đi sứ trong đêm.
- Ngôn ngữ dân dã, tự nhiên: Thơ ông sử dụng nhiều hình ảnh, thanh âm bình dị từ đời sống thực như tiếng gà gáy "kha kha" (Quá Tam Điệp sơn), tiếng dế, tiếng ve (Thu suất), hay các hình ảnh cây cỏ, luống đậu, bãi lúa (Đăng Hoàng Hạc lâu, Chu giang hí thuật).
- Thời gian và không gian nghệ thuật:
- Thời gian nghệ thuật: Chiếm ưu thế là dòng thời gian hồi tưởng về quá khứ – nơi lưu giữ ký ức tuổi thơ thanh sạch và thời trai trẻ ôm mộng khoa cử (Châu túc Lai Triều cảm tác, Trung thu hoài thuật). Thời khắc trong ngày được sử dụng nhiều nhất để bộc lộ tâm tư là buổi chiều tối (hoàng hôn, "giang thiên mộ", "nhật lạc" trong Thương Ngô tam vịnh, Chu trình mạn thuật). Mùa thu là thời điểm khơi dậy nỗi sầu xứ và những chiêm nghiệm bi cảm lữ thứ.
- Không gian nghệ thuật: Thường gắn với các nẻo đường quan ải xa xôi, sông núi cách trở, và các trạm dịch quán trọ nơi đất khách.
Kết quả và đóng góp
Về mặt kết quả, khóa luận đã tái hiện diện mạo văn học của Đoàn Nguyễn Tuấn trên cả hai bình diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật thông qua hệ thống dẫn chứng văn bản xác thực:
- Về nội dung: Làm sáng tỏ ba chiều kích tâm trạng của tác giả gồm nỗi ưu tư trước dâu bể lịch sử, tình cảm thiết tha với cội nguồn (gia đình, bạn bè, quê hương, niềm tự hào dân tộc), và mâu thuẫn sâu sắc trước con đường quan lộ.
- Về nghệ thuật: Nhận diện hệ thống thi pháp biểu đạt cái tôi cá nhân thông qua hình tượng tự họa (mái tóc bạc, tư thế độc tọa), đại từ nhân xưng xưng hô trực tiếp, kỹ thuật dụng điển nghịch đảo sáng tạo, cùng hệ thống thi liệu đời thường và thời gian nghệ thuật mang tính nội cảm (quá khứ, chiều tà).
Về mặt dữ liệu định lượng, khóa luận cung cấp các số liệu văn bản rõ ràng:
- Thống kê cấu trúc 241 bài thơ của Hải Ông thi tập (146 bài thất ngôn bát cú, 34 bài thất ngôn tứ tuyệt, 12 bài ngũ ngôn, 3 bài ca, 3 bài hành, 1 bài liên cú, 42 bài chưa dịch; chia thành 139 bài trong nước và 102 bài đi sứ).
- Khảo sát tần suất đại từ chỉ ngôi trong biểu đạt cái tôi cá nhân (từ "ta" xuất hiện 41 lần, "tôi" xuất hiện 20 lần, "mình" xuất hiện 12 lần).
Về mặt đóng góp khoa học, công trình là nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên về phạm trù con người cá nhân trong thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn. Khóa luận góp phần khẳng định vị trí văn học sử của một tác giả tiêu biểu thời Tây Sơn, đồng thời bổ sung dẫn liệu cụ thể chứng minh sự tiếp nối và phát triển của ý thức cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn tồn tại một số giới hạn do phạm vi tư liệu và khuôn khổ của một nghiên cứu tốt nghiệp:
- Văn bản khảo sát chủ yếu dựa trên bản dịch Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn – Hải Ông thi tập xuất bản năm 1982, trong đó vẫn còn 42 bài thơ chữ Hán chưa được dịch nghĩa và chú giải, chưa thể bao quát trọn vẹn toàn bộ văn bản tác phẩm.
- Nghiên cứu tập trung giải quyết chuyên biệt một tác gia cụ thể, chưa có điều kiện mở rộng đối chiếu đồng bộ với toàn bộ các bản dị bản Hán Nôm hiện hành.
Hướng nghiên cứu tiếp nối được mở ra:
- Tiếp tục dịch thuật, chú giải và khảo sát 42 bài thơ chữ Hán còn lại trong tập thơ để hoàn thiện bức tranh toàn diện về tác phẩm.
- Mở rộng khảo sát, đối chiếu văn bản giữa Hải Ông thi tập với 9 dị bản liên quan đã được giới nghiên cứu ghi nhận (như Cựu Hàn Lâm Đoàn Nguyễn Tuấn thi tập, Trương Mộng Mai thi, Nhật Nam phong nhã thống biên).
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu theo hướng so sánh liên tác giả giữa Đoàn Nguyễn Tuấn với các danh sĩ Bắc Hà cùng thời quy thuận Tây Sơn (Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Ninh Tốn) và thi hào Nguyễn Du nhằm làm sâu sắc hơn đặc trưng tâm lý của tầng lớp trí thức trong giai đoạn giao thời.
Giá trị tham khảo
Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng học thuật:
- Giảng viên và sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn, ngành Văn học: Cung cấp nguồn tài liệu chi tiết phục vụ việc học tập, nghiên cứu học phần Văn học Việt Nam trung đại, đặc biệt là mảng văn học thời kỳ Tây Sơn.
- Người làm nghiên cứu về thi pháp học và lịch sử tư tưởng: Cung cấp cứ liệu về tiến trình vận động của phạm trù "con người cá nhân", sự dịch chuyển từ mô hình thẩm mỹ "phi ngã" sang ý thức khẳng định cái tôi trong văn học thế kỷ XVIII - XIX.
- Phần đáng tham khảo nhất của công trình là Chương 2 và Chương 3: Nơi tập trung hệ thống dẫn chứng thơ ca chữ Hán kèm phân tích thi pháp chuyên sâu, các số liệu thống kê về thể loại, tần suất đại từ nhân xưng, và cách thức tiếp cận mới đối với nghệ thuật dụng điển nghịch đảo của Đoàn Nguyễn Tuấn.
Câu hỏi thường gặp
1. Đoàn Nguyễn Tuấn có mối quan hệ gia tộc như thế nào với các nhân vật lịch sử và văn hóa lớn cùng thời?
Đoàn Nguyễn Tuấn xuất thân trong một gia đình khoa bảng danh giá tại Thái Bình: ông là con trai của Thám hoa Đoàn Nguyễn Thục (1718 – 1775), con rể của Tiến sĩ Nhữ Đình Toản (1702 – 1773), và đồng thời là anh vợ của đại thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820).
2. Tập thơ Hải Ông thi tập được tác giả khóa luận thống kê gồm bao nhiêu bài và cơ cấu thể loại ra sao?
Toàn tập thơ hiện còn khoảng 241 bài (gồm 139 bài sáng tác trong nước và 102 bài sáng tác trong các chuyến đi sứ). Về thể loại, tập thơ bao gồm: 146 bài thất ngôn bát cú, 34 bài thất ngôn tứ tuyệt, 12 bài ngũ ngôn, 03 bài ca, 03 bài hành, 01 bài liên cú, và có 42 bài thơ chưa được dịch nghĩa.
3. Mâu thuẫn nội tâm lớn nhất của Đoàn Nguyễn Tuấn trên con đường hoạn lộ là gì?
Đó là mâu thuẫn giữa một bên là trách nhiệm của "con người công dân" phò vua giúp nước và một bên là khát vọng của "con người cá nhân" muốn giữ tâm hồn trong sạch, xa lánh danh lợi. Dù được triều Tây Sơn trọng dụng, ông luôn mang nỗi ân hận vì "lầm sa vào trần khuyên", tự nhận công việc làm quan là "tất tưởi nhưng đều vô vị", từ đó rơi vào trạng thái bế tắc của một người mang "chí của một nhà Nho mà khí của một thiền nhân".
4. Khóa luận đã thống kê những đại từ chỉ ngôi nào trong thơ Đoàn Nguyễn Tuấn để chứng minh sự hiện diện của cái tôi cá nhân?
Qua khảo sát văn bản thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn, khóa luận ghi nhận tần suất xuất hiện của các đại từ chỉ ngôi gồm: từ "ta" xuất hiện 41 lần, từ "tôi" xuất hiện 20 lần, và từ "mình" xuất hiện 12 lần. Các đại từ này thể hiện tác giả với tư cách là chủ thể hành động hoặc đối tượng tự ý thức, phản chiếu trực tiếp nỗi niềm cá nhân.
5. Điểm sáng tạo mang tính cách tân của Đoàn Nguyễn Tuấn trong nghệ thuật sử dụng điển cố là gì?
Đoàn Nguyễn Tuấn có sáng tạo độc đáo qua thủ pháp cải biến nghịch đảo ý nghĩa điển cố truyền thống. Trong bài Dạ độ Nhĩ Hà, tác giả biến đổi hình ảnh biểu trưng cho sự giàu sang, phong lưu của sứ giả trong sách Luận ngữ ("thừa phì mã ý khinh cừu" - cưỡi ngựa béo, mặc áo cừu nhẹ) thành hình ảnh "tệ cát, luy câu" (áo rách, ngựa gầy) nhằm diễn tả sâu sắc cảm giác mệt mỏi, chán nản và nỗi buồn nhớ quê hương khi phải vâng mệnh đi sứ gấp trong đêm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Minh Phượng đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề con người cá nhân trong thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn qua tập tác phẩm Hải Ông thi tập. Công trình làm rõ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung tư tưởng sâu sắc (nỗi niềm thế sự, tình cảm gia đình - quê hương, trăn trở hoạn lộ) với các phương thức nghệ thuật đặc sắc (hình tượng mái tóc bạc, ngôn ngữ dụng điển cách tân, thời gian hồi cảm). Kết quả nghiên cứu không chỉ xác lập diện mạo thẩm mỹ riêng biệt của Đoàn Nguyễn Tuấn mà còn cung cấp tài liệu học thuật có giá trị cho việc tiếp cận văn học thời Tây Sơn và tiến trình phát triển của ý thức cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam.