MỞ ĐẦU NỘI DUNG Chƣơng 1: Những vấn đề chung Chƣơng 2: Con ngƣời cá nhân trong Hải Ông thi tập từ phƣơng diện nội dung Chƣơng 3: Con ngƣời cá nhân trong Hải Ông thi tập từ phƣơng diện nghệ thuật KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO 6 NỘI DUNG Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Vấn đề con ngƣời cá nhân trong văn học Macxim Gorki từng nói: “Văn học là nhân học, văn học là một khoa học nghiên cứu về con ngƣời”. Vấn đề con ngƣời cá nhân trong văn học từ lâu đã đƣợc các nhà nghiên cứu chú ý và quan tâm.Likhachôp trong công trình Con người trong văn học Nga cổ xưa (Matxcơva, 1958, tái bản 1970) cũng đã đề cập đến con ngƣời cá nhân trong văn học Nga thế kỉ XVII.Avêrixep trong Văn học Hy Lạp và văn chương Cận Đông (Matxcơva, 1971) cho rằng: “ngƣời kể chuyện cổ đại đã nhận trách nhiệm cá nhân về tất cả những gì họ kể”.Mikhailôp khi nghiên cứu Quan hệ Tiểu thuyết và phong cách (Matxcơva, 1982) đã nhận xét rằng: “thời trung đại đã có những biểu hiện mang tính cá nhân chống lại các truyền thống chung”.
Trong văn học trung đại, vấn đề con ngƣời cá nhân cũng đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng một trong những đặc điểm của văn học trung đại là tính “vô ngã” (không có cái tôi). Nhƣng không vì thế mà văn học trung đại không có những nét riêng của cái tôi cá nhân. Vấn đề này cho đến nay vẫn còn đƣa ra nhiều tranh cãi.
Tuy nhiên, có một thực tế không thể phủ nhận đƣợc, đó là mỗi cá tính sáng tạo riêng của một tác giả trong sự nghiệp sáng tác của mình đều ít nhiều đƣợc thể hiện. Tập thể tác giả: Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc Vƣơng, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân đã có riêng một công trình nghiên cứu chuyên biệt về vấn đề này, đó là Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam. Trong đó, Trần Đình Sử chỉ ra rằng: con ngƣời cá nhân trong văn học thời Lý – Trần nổi bật là “con ngƣời yêu nƣớc, trung nghĩa”, nhƣ trong thơ Lý Thƣờng Kiệt (1019 – 1105), Trần Quang Khải (1241 – 1294), Trần Quốc Tuấn (1226 – 1300), Đặng Dung (thế kỉ XV). Bên cạnh đó, con ngƣời trong văn học giai 7 đoạn này “chƣa chịu sự ràng buộc chặt chẽ của Nho giáo, còn đầy tinh thần tự chủ, tiến thủ, tích cực kiểu Thiền tông, hoặc con ngƣời vô ngôn, vô ngã, tự do, phá chấp theo giáo lý nhà Phật” [16, 33].
Sang thế kỉ XV – XVII, con ngƣời cá nhân xuất hiện dƣới các hình thái chính “hoặc là lìa bỏ công danh, lìa bỏ thị phi, khen chê, “độc thiện kỳ thân”, đối lập với kẻ khác phàm tục, hoặc là đam mê vật dục, sắc dục nhƣ một tội lỗi, trái với đạo lí nhƣng đã không còn mặc cảm tội lỗi, trái lại đã biểu hiện đƣợc cảm giác đam mê, đẹp, lãng mạn” [16, 163]. Tác giả tiêu biểu trong giai đoạn này phải kể đến Nguyễn Trãi (1380 – 1442), một con ngƣời nhân nghĩa, yêu nƣớc nhƣng phải chịu nhiều bi kịch. Con ngƣời cá nhân trong thơ Nguyễn Trãi đƣợc bộc lộ ở sự lựa chọn giữa “các tƣ tƣởng, các con đƣờng lập thân, dƣỡng thân và nhất là bảo thân”. Ông luôn quan niệm ngƣời có tài thì phải dùng vào việc lớn, có ích cho nhân dân, đất nƣớc: “Lâm truyền ai rặng giá lâm khách?/ Tài đống lƣơng cao ắt cả dùng!/ Đống lƣơng tài có mấy bằng mày.
Sang thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu suy tàn, con ngƣời cá nhân vì thế cũng chịu sự ảnh hƣởng sâu sắc. Nếu Nguyễn Trãi khẳng định con ngƣời cá nhân mình khi đối lập “ta” với “chúng ngƣơi” thì Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) lại khẳng định mình qua hình thức đối lập “khép kín, không giao tiếp, bằng tƣ thế “độc thiện kỳ thân” – cô độc một cách cao quý, thanh sạch” [16, 157]. Trái với con ngƣời mang lí tƣởng thuần khiết, cao cả trong thơ thiền Lý – Trần, Nguyễn Bỉnh Khiêm là con ngƣời sống trong “đam mê, sắc dục” trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Tính “dục” của cá nhân con ngƣời đƣợc đặt trong mối quan hệ của tình yêu nam nữ.
Có thể kể đến cuộc gặp gỡ ái ân của Trung Ngộ với hồn ma Nhị Khanh, cuộc kì ngộ xƣớng họa của Hà Nhân ở trại Tây, rồi kì ngộ Hàn Than và Vô Kỷ, Nhuận Chi và Túy Tiêu, Thị Nghi với quan họ Hoàng… Về mặt đạo lý, những cuộc gặp gỡ này không đƣợc nhà nho chấp nhận. Nhƣng về mặt tình cảm lại đƣợc tác giả một tả một 8 cách khá đẹp, tình tứ trong những vần thơ. Từ đó thể hiện khát vọng cá nhân mạnh mẽ trong cuộc đời trần tục. Đặc biệt giai đoạn văn học từ thế kỉ XVIII – XIX, cái tôi cá nhân đã xuất hiện nhƣ một hiện tƣợng xuyên suốt qua nhiều tác giả khác nhau.
Đây đƣợc xem là giai đoạn xã hội phong kiến Việt Nam đi vào tình trạng sụp đổ, vô cùng bế tắc. Điều đó khiến cho con ngƣời trong văn học “kêu to lên nhu cầu về quyền sống cá nhân, quyền hƣởng hạnh phúc cá nhân nhƣ một quyền tự nhiên” [16, 194]. Xuất hiện dòng tƣ tƣởng thƣơng ngƣời, xót thân bên cạnh sáng tác mang hƣớng hƣởng lạc và trào phúng. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn – Đoàn thị Điểm là khúc ngâm của “cái tôi” cá nhân ngƣời chinh phụ mang bao nỗi niềm, bao sự nhớ mong, chờ đợi, tủi hờn, hi vọng, khát vọng và là tiếng nói tố cáo mạnh mẽ của cá nhân ngƣời chinh phụ từ nơi khuê phòng đến nơi biên ải, chiến trƣờng xa.
Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hƣơng… là những tiếng nói đòi quyền sống, quyền làm ngƣời, quyền đƣợc thể hiện “cái tôi” cá nhân của ngƣời phụ nữ trong xã hội phong kiến. Ngoài ra văn học giai đoạn này còn chứng kiến sự xuất hiện của “con ngƣời cá nhân công danh hƣởng lạc ngoài khuôn khổ” (thơ văn Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát), “con ngƣời cá nhân giải thoát bằng hƣởng lạc” (thơ ca trù cuối thế kỉ XIX), “con ngƣời cá nhân trống rỗng, mất hết ý nghĩa” (thơ Nguyễn Khuyến). Nhƣ vậy, có thể khẳng định dù mức độ đậm nhạt khác nhau, tác phẩm văn học bao giờ cũng ít nhiều in dấu ấn cá nhân. Nhà mỹ học Lý Trạch Hậu cũng đã từng nói: “Cái gọi là vô ngã, không phải là nói nhà nghệ sĩ không có tƣ tƣởng, tình cảm cá nhân ở trong tác phẩm, mà là nói tƣ tƣởng, tình cảm đó không trực tiếp ngoại lộ” [11, 54].
Thân thế, sự nghiệp Đoàn Nguyễn Tuấn Đoàn Nguyễn Tuấn (? - ?) hiệu là Hải Ông, quê ở Hải An, huyện Quỳnh Côi (nay là Quỳnh Phụ), tỉnh Thái Bình. 9 Đoàn Nguyễn Tuấn là con trai Thám hoa Đoàn Nguyễn Thục (1718 – 1775), con rể tiến sĩ Nhữ Đình Toản (1702 – 1773) và là anh vợ thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820). Năm 1786, Trịnh Bồng lên ngôi, Đoàn Nguyễn Tuấn đã tập hợp dân làng đến họp về việc khởi binh giúp Trịnh Bồng đánh Nguyễn Hữu Chỉnh, dành lại ngôi chúa, ổn định tình hình xã hội bấy giờ nhƣng việc không thành. Cuối năm 1787, Vũ Văn Nhậm – tƣớng Tây Sơn đem quân ra Bắc, giết Nguyễn Hữu Chỉnh và đuổi vua Lê Chiêu Thống.
Đây là giai đoạn khiến cho Đoàn Nguyễn Tuấn và các nho sĩ Bắc Hà thời bấy giờ mang trong lòng vô số hoang mang, đắn đo lựa chọn những ngả đƣờng xuất xử khác nhau. Cuối năm 1787, Đoàn Nguyễn Tuấn cùng Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích đứng ra giúp nhà Tây Sơn, ông đƣợc giao chức Hàn lâm trực học sĩ (1788). Tháng 9 năm 1789, Đoàn Nguyễn Tuấn vâng mệnh vua Quang Trung đi tiếp sứ Thanh ở trấn Lạng Sơn. Năm 1790, ông cùng Vũ Huy Tấn, Phan Huy Ích đƣợc cử vào đoàn sứ bộ của vua Quang Trung giả, sang Trung Quốc yết kiến vua Càn Long.
Khi hoàn thành chuyến đi sứ trở về, Đoàn Nguyễn Tuấn đƣợc thăng làm Tả thị lang bộ Lại, tƣớc Hải Phái hầu (1791). Năm 1794, Hải Ông đƣợc lệnh đến Phú Xuân. Trên hành trình đi ông có viết bài thơ: Giáp Dần mạnh thu phụng mệnh nhập Phú Xuân kinh, đăng trình lưu biệt Bắc Thành chư hữu (Đầu mùa thu năm Giáp Dần vâng mệnh vào kinh Phú Xuân, khi lên đƣờng lƣu biệt các bạn ở Bắc thành). Toàn bộ bài thơ là niềm vui cũng nhƣ niềm tin tƣởng, lạc quan của ông vào triều đại mới.
Năm 1798, Đoàn Nguyễn Tuấn đƣợc vua Quang Trung cử đi hộ giá tuần du phƣơng Nam. Ông ghi lại sự kiện này bằng hai bài thơ: Mậu Ngọ Mạnh Đông phụng hộ Nam tuần, hiểu phát Hương giang và Mậu Ngọ niên tái quan Nam hà, dật quan đô úy kinh thảng tương ngộ vu khế chi ngụ, toại tương dữ 10 vãng lai, y cầu quan Nam du tập họa lưu tặng nguyên tác. Dư nhân y vận đáp phục. Năm 1792, vua Quang Trung mất, Quang Toản lên kế vị.
Quang Toản lên ngôi khi còn quá trẻ (9 tuổi) và chƣa có kinh nghiệm nên không giữ đƣợc việc triều chính. Mọi việc đều do cậu là Bùi Đắc Tuyên là thái sƣ nắm giữ. Chính sự rối ren, các đại thần quay sang giết hại lẫn nhau dẫn đến nội bộ lục đục. Thêm vào đó ở phía Nam, nhân cơ hội này Nguyễn Ánh câu kết với quân Xiêm nhằm lật đổ triều Tây Sơn, giành lại chính quyền về phía mình.
Tiếp tục phục vụ cho triều Tây Sơn nhƣng Đoàn Nguyễn Tuấn tỏ ra có phần buồn chán với con đƣờng công danh sự nghiệp. Một thời gian sau ông quyết định lui về quê chọn một cuộc sống thanh nhàn (1800). Sự nghiệp văn học của Đoàn Nguyễn Tuấn cho đến nay còn duy nhất tập thơ Hải Ông thi tập với khoảng 241 bài; bao gồm 146 bài thất ngôn bát cú, 34 bài thất ngôn tứ tuyệt, 12 bài ngũ ngôn, 03 bài ca, 03 bài hành, và 01 bài làm theo thể liên cú, 42 bài chƣa đƣợc dịch; chia làm 2 phần: thơ viết trong nƣớc (139 bài) và thơ đi sứ (102 bài). Nội dung thơ ông cho thấy “ông là con ngƣời trầm mặc, thanh cao, chân thành, giản dị, thiết tha với quê hƣơng, với tổ quốc.
Thơ ông lời chải chuốt, thanh thoát gợi cảm, ít điển cố. Một số bài ca ngợi triều đại Tây Sơn, nhiệt liệt ngƣỡng mộ Quang Trung, hào hứng trƣớc quang cảnh đất nƣớc dƣới triều đại mới” [3, 55]. Tiểu kết chƣơng 1 Tính “phi ngã” là một trong những đặc điểm của thi pháp văn học trung đại. Tuy nhiên, vấn đề con ngƣời cá nhân trên tiến trình văn học lại xuất hiện nhƣ một nhu cầu thiết yếu.