Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Phát triển nông thôn của tác giả Hoàng Gia Lập (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, 2018) đặt trọng tâm vào vai trò thực thi của nguồn nhân lực nông nghiệp cấp cơ sở. Xuất phát điểm của nghiên cứu dựa trên bối cảnh ngành nông nghiệp Việt Nam chiếm 20,23% cơ cấu kinh tế, khoảng 70% dân số sinh sống ở nông thôn và 60% dân số lao động làm nghề nông. Hệ thống khuyến nông Nhà nước được thiết lập chính thức theo Nghị định số 13/CP ngày 02/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ, giữ vai trò chuyển giao kỹ thuật canh tác, đào tạo nghề và nâng cao nhận thức cho người dân nông thôn. Tuy nhiên, tại các địa bàn miền núi, trình độ sản xuất của người dân còn nhiều hạn chế, các kênh thông tin tiếp cận khoa học kỹ thuật chưa đồng bộ và thiếu hụt, đòi hỏi vai trò kết nối trực tiếp của đội ngũ cán bộ khuyến nông xã. Từ đòi hỏi thực tiễn đó, tác giả tiến hành khảo sát và đánh giá công tác khuyến nông tại xã Hồng Phong, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Mục tiêu nghiên cứu về chuyên môn nghiệp vụ của đề tài được xác định cụ thể qua sáu nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến cán bộ khuyến nông.
  2. Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn xã Hồng Phong.
  3. Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ của cán bộ khuyến nông xã Hồng Phong.
  4. Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong quá trình công tác của cán bộ khuyến nông.
  5. Tìm hiểu vai trò của cán bộ khuyến nông của xã đối với sự phát triển sản xuất nông nghiệp của xã.
  6. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của cán bộ khuyến nông xã.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động chức năng, nhiệm vụ chuyên môn và thực trạng công tác của cán bộ phụ trách nông lâm nghiệp, khuyến nông cấp xã.
  • Phạm vi không gian: Ủy ban nhân dân xã Hồng Phong, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra, thực tập và thu thập số liệu được thực hiện từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề theo định hướng ứng dụng thực địa kết hợp tổng quan văn bản chính sách và tài liệu thứ cấp:

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Nông nghiệp: Khái quát thành hai hình thái sản xuất là nông nghiệp sinh nhai (thuần nông, đầu vào hạn chế, không cơ giới hóa, tự cung tự cấp) và nông nghiệp chuyên sâu (chuyên môn hóa cao, thâm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống lai tạo, cơ giới hóa đồng bộ phục vụ thương mại).
  • Khuyến nông (Agricultural extension): Được định vị là hệ thống truyền bá tri thức, đào tạo kỹ năng canh tác, phổ biến cơ chế chính sách và cung cấp thông tin thị trường để hỗ trợ nông dân tự giải quyết các vấn đề trong sản xuất và đời sống.
  • Cán bộ nông nghiệp và khuyến nông cấp xã: Xác định vị trí việc làm của công chức, viên chức hoặc cán bộ hợp đồng cấp cơ sở làm nhiệm vụ tham mưu cho UBND cấp xã và trực tiếp chuyển giao kỹ thuật đến nông dân.
  • Nông thôn và nông dân: Định nghĩa theo tiêu chí địa giới quản lý hành chính của Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Khung văn bản pháp lý

Tác giả viện dẫn và đối chiếu hệ thống quy chuẩn pháp lý điều chỉnh hoạt động khuyến nông qua các thời kỳ:

  • Nghị định số 56/2005/NĐ-CP ngày 26/4/2005 của Chính phủ về khuyến nông – khuyến ngư.
  • Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nông nghiệp và PTNT.
  • Thông tư số 04/2009/TT-BNN ngày 21/01/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn nhiệm vụ của cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật ngành nông nghiệp, kiểm lâm địa bàn cấp xã.
  • Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính phủ về khuyến nông.
  • Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 về cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
  • Nghị định số 83/2018/NĐ-CP ngày 24/5/2018 về công tác khuyến nông.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Thu thập tài liệu thứ cấp: Thu thập hệ thống chỉ thị, báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu kiểm kê đất đai năm 2017, báo cáo tổng kết nông nghiệp của UBND xã Hồng Phong và tài liệu thống kê chuyên ngành qua mạng internet, sách báo.
  • Phương pháp thảo luận: Trao đổi trực tiếp, phân tích ý kiến chuyên môn với lãnh đạo xã, cán bộ phụ trách nông nghiệp và các trưởng thôn.
  • Phương pháp tiếp cận thông tin hiện trường: Quan sát hành vi công vụ tại trụ sở; phương pháp đóng vai thực hành xử lý công văn, thủ tục hành chính; phương pháp tiếp cận đồng ruộng có sự tham gia của cán bộ khuyến nông và nông dân.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của hoạt động khuyến nông trong quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam. Nội dung nêu bật vai trò nguồn nhân lực khuyến nông cơ sở trong việc đảm bảo an ninh lương thực và hỗ trợ nông dân tiếp cận khoa học kỹ thuật. Phần này xác lập hệ thống 6 mục tiêu chuyên môn, yêu cầu về thái độ và kỹ năng công tác, ý nghĩa học thuật, ý nghĩa thực tiễn, nội dung triển khai cùng mốc thời gian thực hiện đề tài tại xã Hồng Phong.

Phần 2: Tổng quan

Nội dung chương tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn:

  • Cơ sở lý luận: Phân tích các khái niệm nông nghiệp, khuyến nông, chức danh cán bộ nông nghiệp cấp xã và quy định chuyên môn tại Thông tư số 04/2009/TT-BNN.
  • Cơ sở thực tiễn cả nước: Thống kê hệ thống khuyến nông gồm gần 17.200 cán bộ chuyên trách (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia có 90 người; cấp tỉnh khoảng 1.900 người; cấp huyện xấp xỉ 4.000 người; khuyến nông viên cơ sở cấp xã xấp xỉ 11.200 người; cộng tác viên thôn bản xấp xỉ 18.000 người). Tỷ lệ cán bộ nông nghiệp xã được đào tạo bồi dưỡng trong 3 năm đạt 77,78%; nhu cầu đào tạo nâng cao kỹ năng thực hành chiếm 94,4%, kỹ năng giao tiếp chiếm 35,3% và học đại học là 5,9%.
  • Bài học kinh nghiệm địa phương: Tổng kết 3 mô hình tiêu biểu gồm:
    1. Xã Đông Bắc (Kim Bôi, Hòa Bình): Chỉ đạo tập trung bộ giống, phòng trừ sâu bệnh kịp thời giúp năng suất lúa tăng từ 45 tạ/ha lên 70 tạ/ha.
    2. Xã Tân Dương (Định Hóa, Thái Nguyên): Chuẩn hóa bằng cấp cán bộ, thực hiện chính sách thu hút người có trình độ đại học, cao đẳng và luân chuyển cán bộ huyện về xã, đạt chuẩn nông thôn mới năm 2015.
    3. Tỉnh Bắc Ninh: Quy hoạch vùng sản xuất tập trung (13 vùng lúa, 24 vùng khoai tây, 26 vùng rau xuất khẩu), ứng dụng giống lúa chất lượng cao (PTE1, Nghi Hương 2308, Hương Cốm, Nếp 9603) đạt 75–80 tạ/ha/vụ, cơ giới hóa khâu làm đất và thu hoạch lúa đạt 80%.

Phần 3: Kết quả thực tập

Chương này phản ánh toàn diện thực trạng địa bàn nghiên cứu và kết quả tham gia công tác thực tế của tác giả:

Khái quát cơ sở thực tập xã Hồng Phong

Xã Hồng Phong nằm ở phía Đông Bắc huyện Bình Gia, cách trung tâm huyện 20 km, gồm 13 thôn/khu phố: Kim Đồng, Nà Nát, Nà Ven, Nà Sla, Khuổi Khuy, Vằng Phya, Nà Kít, Nà Háng, Phố Văn Mịch, Nà Buổn, Nặm Slin, Văn Can, Nà Cạp. Địa hình đồi núi thấp, có sông Bắc Giang chảy qua.

Nhóm đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Đặc điểm hiện trạng
Đất nông nghiệp 6.316,94 90,44 Đất sản xuất nông nghiệp: 637,21 ha (9,12%); đất trồng cây hàng năm: 321,92 ha (đất lúa: 195,31 ha, chiếm 2,80%); cây lâu năm: 315,29 ha; đất lâm nghiệp: 5.675,98 ha (81,27% - rừng phòng hộ: 506,30 ha); nuôi trồng thủy sản: 3,75 ha.
Đất phi nông nghiệp 366,38 5,25 Đất ở nông thôn: 42,06 ha; đất chuyên dùng: 270,56 ha; sông ngòi, kênh rạch: 53,25 ha.
Đất chưa sử dụng 301,06 4,31 Đất đồi núi chưa sử dụng: 285,97 ha; đất bằng chưa sử dụng: 15,09 ha.
Tổng diện tích 6.984,38 100,00 Địa bàn canh tác lúa phân bố dọc các thung lũng và lưu vực sông suối.

Về nhân khẩu và lao động năm 2017: Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động là 2.429 người; trong đó lao động có việc làm là 2.246 người (92,47%), không có việc làm là 183 người (7,53%). Cơ cấu trình độ lao động còn thấp: lao động chưa qua đào tạo chiếm 72,95% (1.772 người), lao động đã qua đào tạo chỉ đạt 27,05% (657 người). Lao động nông lâm nghiệp chiếm khoảng 73%.

Về sản xuất và cơ sở hạ tầng: Diện tích gieo cấy lúa 2 vụ đạt khoảng 202 ha. Đàn vật nuôi năm 2017 gồm: 591 con trâu, 50 con bò, 814 con lợn và đàn gia cầm trên địa bàn. Toàn xã có 190,4 km đường giao thông, chủ yếu là đường đất (19,9 km đường liên xã; 30 km đường liên thôn; 11 km đường trục thôn chỉ có 3 km bê tông; 125,5 km đường nội liên thôn có tới 110,6 km đường đất; 4 km đường nội đồng hoàn toàn là đường đất). Về điện lưới, tỷ lệ dùng điện đạt 100% nhưng chỉ 95% an toàn; còn 04 thôn (Kim Đồng, Nà Sla, Vằng Phya, Khuổi Khuy) hệ thống cột gỗ tạm bợ chưa đạt chuẩn tiêu chí nông thôn mới.

Về đội ngũ cán bộ xã Hồng Phong năm 2017 (tổng số 21 người):

Tiêu chí phân loại Phân nhóm Số lượng (người) Cơ cấu (%)
Giới tính Nam 15 71,4
Nữ 06 28,6
Thành phần dân tộc Dân tộc Kinh 02 9,5
Dân tộc thiểu số khác 19 90,5
Độ tuổi Từ 20 – 30 tuổi 08 38,1
Từ 31 – 40 tuổi 11 52,4
Trên 40 tuổi 02 9,5
Trình độ chuyên môn Đại học 06 28,6
Cao đẳng 10 47,6
Trung cấp 05 23,8

Thực trạng công tác khuyến nông xã và các nhiệm vụ thực tập

Toàn bộ mảng nông – lâm – thủy lợi của xã do một cán bộ phụ trách là ông Vi Văn Anh (sinh ngày 16/11/1985, trình độ Trung cấp Thủy lợi thuộc Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng, 10 năm thâm niên công tác tại địa bàn). Sinh viên tham gia và ghi nhận các nội dung nghiệp vụ thực tế:

  • Kiểm tra đồng ruộng cơ sở: Ngày 16/4/2018 tại thôn Nà Háng, phối hợp cùng cán bộ khuyến nông và trưởng thôn thăm khám sinh trưởng cây lúa, lấy mẫu bệnh, chỉ dẫn bón phân và hướng dẫn nông dân nhận biết dịch hại, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hoặc thiên địch.
  • Soạn thảo và xử lý văn bản hành chính: Lập danh sách đăng ký nhận giống cây trồng bổ sung; danh sách hộ tham gia tập huấn nuôi cá lồng; lập bảng thống kê cá nhân sở hữu xe ô tô trên địa bàn xã; thực hiện in ấn, photo và chuyển giao công văn về các thôn.
  • Tham gia hoạt động hiện trường: Ngày 07/03/2018 tham dự lớp tập huấn kỹ thuật nuôi cá lồng của Trung tâm Thủy sản tỉnh Lạng Sơn; ngày 08/03/2018 tham gia nghiệm thu 130m đường liên thôn bê tông tại thôn Khuổi Khuy; ngày 13/03/2018 dự Đại hội đại biểu Hội Nông dân xã Hồng Phong lần thứ VIII; ngày 23/03/2018 làm thư ký cuộc họp triển khai khoanh nuôi tái sinh rừng.
  • Tiếp nhận và phân phối giống lâm nghiệp: Tiếp nhận 30.000 cây keo giống từ Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Bình Gia, trực tiếp bốc xếp, kiểm đếm và phân phát cho các hộ dân tham gia chương trình trồng cây phân tán; kiểm tra tỷ lệ cây chết để cấp bù cây trồng dặm.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Làm rõ thực trạng một cán bộ kiêm nhiệm đa ngành: Nghiên cứu phản ánh thực tế cấp xã chỉ bố trí 01 cán bộ nông nghiệp phụ trách toàn diện các phân ngành trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi, thú y, thủy lợi, lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới cho 13 thôn bản trên tổng diện tích tự nhiên gần 7.000 ha.
  • Số liệu hạ tầng và nhân lực phản ánh khoảng cách phát triển: Đất lâm nghiệp chiếm áp đảo 81,27% nhưng chủ yếu là rừng tự nhiên nghèo kiệt hoặc rừng non mới trồng; diện tích đất lúa hạn chế (195,31 ha). 72,95% lao động chưa qua đào tạo; hệ thống đường giao thông có hơn 110 km đường liên xóm là đường đất, gây cản trở lưu thông nông sản mùa mưa lũ.
  • Đánh giá hoạt động nghiệp vụ cơ sở: Khóa luận thống kê chi tiết các khâu từ tiếp nhận vật tư (30.000 cây keo giống), giám sát công trình (130m đường giao thông Khuổi Khuy), đến theo dõi diễn biến sâu bệnh ruộng lúa tại thôn Nà Háng.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đầu tư kiện toàn hệ thống khuyến nông: Nhà nước cần có cơ chế kinh phí và hỗ trợ thỏa đáng cho mạng lưới khuyến nông viên cấp cơ sở để tạo động lực duy trì công tác dài hạn.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Ban hành chính sách đãi ngộ, ưu đãi tuyển dụng người có trình độ đại học, cao đẳng chuyên ngành về công tác tại xã; đẩy mạnh gửi cán bộ đi đào tạo và đào tạo lại về kiến thức thị trường và kỹ thuật nông nghiệp hiện đại.
  • Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và sản xuất hàng hóa: Tuyển chọn giống cây trồng, vật nuôi kháng bệnh và năng suất cao; củng cố dịch vụ thú y và bảo vệ thực vật; xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp đầu tư công nghệ chế biến và tiêu thụ nông sản.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận cung cấp tài liệu mô tả chi tiết quy trình tác nghiệp thực tế của cán bộ phụ trách nông nghiệp tại xã miền núi biên giới tỉnh Lạng Sơn. Công trình giúp sinh viên ngành Phát triển nông thôn đối chiếu giữa lý thuyết quản lý nhà nước về nông nghiệp với thực tiễn giải quyết công việc hành chính và hiện trường ở cấp xã.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được ghi nhận từ văn bản

  • Kỹ năng nghiệp vụ của sinh viên thực tập: Tác giả tự nhận diện các khó khăn về kỹ năng mềm, thiếu kinh nghiệm trong thể thức soạn thảo văn bản hành chính nhà nước, lúng túng khi sử dụng trang thiết bị văn phòng (máy photocopy) và chưa thông thạo đường giao thông liên thôn.
  • Phạm vi dữ liệu: Do giới hạn thời gian thực tập (4,5 tháng), một số bảng biểu thống kê chăn nuôi chỉ phản ánh số liệu tổng hợp chung của năm 2017, chưa theo dõi được chu kỳ sinh trưởng trọn vẹn của các mô hình kinh tế mới.
  • Mức độ tham gia của cộng đồng: Tác giả chỉ ra rằng số lượng người dân tham gia chương trình trồng cây phân tán còn ít, lượng giống chuyển giao còn hạn chế.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng khảo sát đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật sau khi trồng của 30.000 cây keo giống phân tán và mô hình nuôi cá lồng trên địa bàn xã.
  • Nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa cán bộ khuyến nông cơ sở với tổ chức hợp tác xã và doanh nghiệp theo chuỗi giá trị nông sản tại huyện Bình Gia.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khuyến nông, Kinh tế nông nghiệp: Tham khảo cách thức tiếp cận địa bàn, phương pháp quan sát và nhật ký thực tập cơ sở; đặc biệt là kỹ năng xử lý công văn, lập kế hoạch họp thôn và triển khai cấp phát cây giống.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp cấp xã, huyện: Tham khảo Bảng mô tả công việc (Bảng 3.5) và danh mục chức năng, nhiệm vụ quy chuẩn theo Thông tư số 04/2009/TT-BNN để phân định rõ khối lượng công việc thực tế của chức danh cán bộ nông nghiệp xã.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Khảo sát chi tiết về cơ cấu sử dụng đất đai, thực trạng giao thông nông thôn và phân tích các đầu việc thường nhật của cán bộ khuyến nông tại một xã vùng núi còn nhiều khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

1. Ai là cán bộ trực tiếp phụ trách mảng nông nghiệp - khuyến nông tại xã Hồng Phong trong thời gian tác giả thực tập?
Đó là ông Vi Văn Anh (sinh ngày 16/11/1985), tốt nghiệp chuyên ngành Thủy lợi tổng hợp tại trường Trung cấp Thủy lợi (thuộc Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng), đã có 10 năm công tác tại xã Hồng Phong với chức danh cán bộ nông lâm – thủy lợi.

2. Đội ngũ cán bộ xã Hồng Phong năm 2017 có cơ cấu trình độ và độ tuổi như thế nào?
Toàn xã có 21 cán bộ; độ tuổi từ 31–40 chiếm đa số với 52,4% (11 người), độ tuổi 20–30 chiếm 38,1% (8 người), trên 40 tuổi chiếm 9,5% (2 người). Về trình độ: Đại học có 6 người (28,6%), Cao đẳng có 10 người (47,6%) và Trung cấp có 5 người (23,8%).

3. Thực trạng hệ thống giao thông tại xã Hồng Phong ảnh hưởng ra sao đến đời sống và sản xuất năm 2017?
Tổng chiều dài đường giao thông của xã là 190,4 km, phần lớn vẫn là đường đất. Đường liên xã (19,9 km) và đường liên thôn (30 km) đều là đường đất; đường nội liên thôn dài 125,5 km thì có tới 110,6 km đường đất (chỉ bê tông hóa được 14,9 km); đường nội đồng 4 km hoàn toàn là đường đất. Giao thông chưa đạt chuẩn nông thôn mới, gây khó khăn lớn cho việc đi lại và thông thương nông sản vào mùa mưa.

4. Sinh viên thực tập đã tham gia những hoạt động hiện trường cụ thể nào trong kỳ thực tập?
Sinh viên cùng cán bộ khuyến nông đi kiểm tra đồng ruộng và hướng dẫn phòng trừ sâu bệnh lúa tại thôn Nà Háng (16/4/2018); tham gia nghiệm thu 130m đường bê tông liên thôn tại thôn Khuổi Khuy (08/03/2018); tiếp nhận, bốc xếp và cấp phát 30.000 cây keo giống từ Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện cho các thôn trồng phân tán; tham dự lớp tập huấn nuôi cá lồng và làm thư ký cuộc họp khoanh nuôi tái sinh rừng.

5. Khung pháp lý nào quy định trực tiếp về nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ nông nghiệp cấp xã được phân tích trong đề tài?
Khóa luận căn cứ chủ yếu vào Thông tư số 04/2009/TT-BNN ngày 21/01/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn nhiệm vụ của cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật ngành nông nghiệp, kiểm lâm địa bàn cấp xã, bên cạnh các Nghị định về khuyến nông như Nghị định 56/2005/NĐ-CP và Nghị định 02/2010/NĐ-CP.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Gia Lập đã phác họa bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tổ chức sản xuất nông nghiệp tại xã Hồng Phong, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn năm 2017. Nghiên cứu chỉ rõ áp lực công việc của chức danh cán bộ khuyến nông cơ sở khi một nhân sự phải phụ trách địa bàn rộng lớn với 13 thôn bản, hạ tầng giao thông cách trở và tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn cao. Các số liệu thực địa cùng hệ thống giải pháp về đào tạo nhân lực, đầu tư hạ tầng và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mang giá trị thực tiễn đối với yêu cầu phát triển nông thôn ở vùng miền núi phía Bắc.