Tổng quan nghiên cứu

Kinh Dịch giữ vị trí độc tôn là "quần kinh chi thủ" trong hệ thống kinh tịch Nho gia, đóng vai trò nền tảng cho tư duy triết học phương Đông suốt hàng nghìn năm. Theo các thống kê thư mục học, tính riêng tại Trung Quốc đến năm 1993 đã có 4.863 quyển thuộc 1.379 bộ sách chuyên khảo về Chu Dịch. Tại Việt Nam, trải qua hơn 2.000 năm lịch sử, Dịch học đã bén rễ sâu sắc trong đời sống học thuật và văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, một định kiến phổ biến thường cho rằng các học giả Việt Nam thời trung cận đại chỉ dừng lại ở việc phiên dịch thô sơ hoặc chịu ảnh hưởng hoàn toàn từ Vương Bật thời Ngụy Tấn hay Chu Hy thời Nam Tống.

Thực tế lịch sử chứng minh nền Dịch học nước nhà từng xuất hiện những công trình khảo cứu mang tính đột phá, tiêu biểu là tác phẩm Chu Dịch cứu nguyên của tác giả Lê Văn Ngữ (1860 – 1934), người tự xưng là Cuồng Sĩ ở đất Nam Định. Luận văn tập trung giải quyết vấn đề xác định bản thảo văn bản học, khôi phục hành trạng học giả Lê Văn Ngữ và làm rõ phong cách kinh học cách tân của ông trong bối cảnh giao thời Đông - Tây đầu thế kỷ XX. Mục tiêu cụ thể là khảo sát toàn diện bản thảo A.2592/2 gồm 2 tập lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, phiên âm, dịch nghĩa và phân tích 16 thiên khảo luận chuyên sâu.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian văn hóa vùng Xuân Trường, tỉnh Nam Định và trục thời gian từ năm 1900 đến năm 1934, đồng thời đối chiếu dữ liệu trong 9 bộ đại chính sử Việt Nam từ đầu Công nguyên đến trước thế kỷ XX. Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật to lớn khi phục dựng chính xác 100% tiểu sử tác giả, hợp nhất danh mục 7 công trình trước tác Hán Nôm đồ sộ và khẳng định bước chuyển biến tư tưởng duy lý của Dịch học Việt Nam thời cận đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng tổng hợp 3 hệ thống lý thuyết nền tảng gồm: Lý thuyết Văn bản học Hán Nôm cổ điển, Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation) và Lý thuyết Kinh học phương Đông. Trong đó, lý thuyết Văn bản học cung cấp công cụ giám định tự dạng, khảo chứng dị bản, ấn tích thư viện và niêm luật văn ngôn. Lý thuyết tiếp biến văn hóa được dùng để lý giải sự chuyển biến tư tưởng của tác giả sau chuyến hải trình sang Pháp kéo dài 118 ngày vào năm 1900 (từ ngày 12 tháng 4 đến ngày 07 tháng 8 năm Thành Thái thứ 12), tạo nên điểm giao thoa độc đáo giữa tri thức phương Tây cận đại và triết học cổ truyền.

Bên cạnh khung lý thuyết, công trình xây dựng hệ thống 4 khái niệm trung tâm bao gồm:

  • "Thời trung": Hạt nhân biện chứng tối cao của Chu Dịch, biểu thị sự vận động thích ứng linh hoạt theo từng thời điểm lịch sử.
  • "Cứu nguyên": Phương pháp truy tầm bản nghĩa nguyên thủy thời Tiên Tần, giải phóng văn bản khỏi các lớp chú giải giáo điều đời sau.
  • "Nghi cổ": Tinh thần hoài nghi khoa học, dũng cảm chỉ ra những điểm khiên cưỡng trong cách sắp xếp văn bản truyền thống.
  • "Kinh - Truyện tương phân": Quan điểm tách biệt rành mạch giữa phần kinh văn gốc của Chu Dịch và phần truyện giải thích xuất hiện muộn hơn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp của luận văn là bản thảo chép tay duy nhất mang ký hiệu A.2592/2 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bộ sách được viết bằng thể chữ chân trên giấy dó cổ, gồm 2 tập với tổng cộng 141 tờ (282 trang) có kích thước đồng nhất khoảng 6cm x 27,5cm. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 16 thiên luận giải chuyên đề, 64 quẻ Dịch và hệ thống thư từ hành chính liên quan.

Về nguồn dữ liệu thứ cấp, luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (exhaustive sampling) đối với 9 bộ chính sử lớn của Việt Nam (gồm An Nam chí lược, Đại Việt sử lược, Lam Sơn thực lục, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Quốc triều chính biên toát yếu, Việt sử tiêu án và Việt Nam sử lược) để trích xuất 60 trường hợp thực chứng liên quan đến Chu Dịch. Phương pháp điền dã dân tộc học được thực hiện trực tiếp tại xóm 12 xã Xuân Phong, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định nhằm đối chiếu gia phả 13 đời họ Lê và ghi nhận lời kể của hậu duệ đời thứ 3. Việc kết hợp liên ngành giữa khảo chứng văn bản, thống kê định lượng và điền dã thực địa giúp đảm bảo tính xác thực tối đa cho các luận điểm khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo cứu văn bản và khảo sát thực địa đã đem lại 3 phát hiện mang tính bước ngoặt cho ngành Hán Nôm học:

Thứ nhất, luận văn đính chính triệt để sai lầm kéo dài trong các tài liệu thư mục quốc gia. Sách "Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam" trước đây chia học giả thành 2 nhân vật riêng biệt là tác giả số 960 (Lê Văn Ngữ) và tác giả số 961 (Lê Ngữ). Qua phân tích đối chiếu tự dạng, văn phong và gia phả, luận văn chứng minh 100% đây chỉ là một người duy nhất: Lê Văn Ngữ (1860 – 1934), tự Ứng Hòa, hiệu Cuồng Sĩ hoặc Lãn Sĩ, quê xã Vạn Lộc, huyện Giao Thủy, phủ Xuân Trường (nay là xã Xuân Phong, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định). Tác giả đã để lại một di sản đồ sộ gồm 7 bộ sách: Chu Dịch cứu nguyên (1917), Phụ tra tiểu thuyết (1900 - 1905), Trung dung thuyết ước, Y học toản yếu, Luận ngữ tiết yếu, Đại học tích nghĩa và Lễ kinh chủ nhân (1928, dày 79 tờ/157 trang).

Thứ hai, kết quả thống kê 9 bộ quốc sử đã định lượng hóa bức tranh Dịch học Việt Nam qua 60 trường hợp xuất hiện cụ thể:

  • Loại A2 (người Việt trực tiếp trích dẫn Chu Dịch để bàn luận chính trị, quân sự, triết học): Chiếm tỷ lệ cao nhất với 61,67% (37/60 trường hợp).
  • Loại A1 (sự kiện lịch sử phản ánh việc tiếp nhận, đào tạo, thi cử, in ấn Dịch học): Chiếm 25,00% (15/60 trường hợp).
  • Loại B (ghi chép về người Hán sử dụng Chu Dịch): Chiếm 13,33% (8/60 trường hợp).

Đại Việt sử ký toàn thư là bộ sử ghi nhận nhiều nhất với 28 trường hợp (chiếm 46,67%), tiếp theo là Khâm định Việt sử thông giám cương mục với 19 trường hợp (chiếm 31,67%).

Thứ ba, bản thảo Chu Dịch cứu nguyên hoàn thành vào mùa đông năm 1917 khi tác giả 57 tuổi. Cấu trúc gồm 16 mục luận bàn dẫn nhập (chiếm gần 40% dung lượng tập 1) và 85 tờ kinh văn giải nghĩa 64 quẻ. Lê Văn Ngữ đã thể hiện thái độ nghi cổ quyết liệt khi bác bỏ lối sắp xếp của Trịnh Huyền thời Đông Hán, chủ trương trả kinh Dịch về trạng thái nguyên sơ thời Tiên Tần và dùng Dịch lý để giải thích các vấn đề y học, đạo đức xã hội hiện đại.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên cho thấy diện mạo Dịch học Việt Nam hoàn toàn không phải là một nhánh phụ sao chép thụ động từ Trung Hoa. Dữ liệu từ 60 trường hợp lịch sử có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ phân bố niên đại, làm nổi bật các mốc son rực rỡ: Năm 1007 vua Lê Long Đĩnh chủ động xin Cửu kinh; năm 1253 Quốc Tử Viện giảng luận Ngũ kinh; năm 1300 Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn vận dụng Bát quái cửu cung đồ viết Vạn Kiếp tông bí truyền thư; năm 1392 Hồ Quý Ly viết Minh đạo phê phán Tống Nho; năm 1467 vua Lê Thánh Tông đặt Ngũ kinh Bác sĩ; và năm 1734 triều đình cho khắc in Ngũ kinh đại toàn trong nước để cấm mua sách ngoại nhập.

So sánh với các tiểu luận sơ khởi của Ngô Vĩ Minh (Hồng Kông, 2001) và Hướng Thế Lăng (Bắc Kinh, 2007), luận văn đã đính chính một nhận định thiếu chính xác của Ngô Vĩ Minh khi cho rằng Lê Văn Ngữ ca tụng thiên Văn ngôn tại trang 37. Thực tế khảo sát văn bản gốc cho thấy tác giả giữ thái độ phê phán, độc lập với Thập dực. Nhờ trải nghiệm thực tế văn minh phương Tây trong chuyến đi Pháp năm 1900, tư tưởng của Lê Văn Ngữ đại diện cho xu hướng kinh học thực chứng hiếm có, dám vượt qua bóng tối của Lý học đời Tống để biến Chu Dịch thành công cụ canh tân tri thức buổi giao thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả nghiên cứu văn bản và thực địa, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, triển khai chương trình dịch thuật và công bố di sản: Viện Nghiên cứu Hán Nôm phối hợp với các nhà xuất bản chuyên ngành thực hiện phiên âm, dịch chú và xuất bản toàn bộ 100% trong số 7 tác phẩm của Lê Văn Ngữ (quy mô ước tính khoảng 800 trang tư liệu Hán Nôm cổ) sang chữ Quốc ngữ trong giai đoạn 2026 – 2028.

Thứ hai, hiệu đính mục từ trong hệ thống từ điển tác gia: Hội đồng biên soạn sách tra cứu quốc gia và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cần cập nhật, sáp nhập 2 mục từ số 960 và 961 trong sách "Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam", bổ sung chuẩn xác năm sinh năm mất (1860 – 1934) cùng danh mục trước tác đầy đủ của học giả Lê Văn Ngữ trước quý IV năm 2026.

Thứ ba, xây dựng học phần chuyên đề Dịch học Việt Nam: Các trường đại học khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn đưa chuyên đề "Lịch sử Dịch học và tư tưởng kinh học Việt Nam" với thời lượng 45 tiết vào chương trình đào tạo cử nhân và thạc sĩ Hán Nôm, Triết học, Văn học từ năm học 2027.

Thứ tư, bảo tồn và số hóa tư liệu di sản tại địa phương: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định chủ trì lập hồ sơ lưu trữ, tiến hành số hóa 100% các văn bản gia phả, hoành phi, câu đối và kỷ vật liên quan đến danh nhân Lê Văn Ngữ tại xã Xuân Phong, huyện Xuân Trường trong vòng 12 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình là tài liệu học thuật giá trị cao dành cho 4 nhóm độc giả trọng tâm:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh ngành Ngôn ngữ học và Hán Nôm: Tiếp cận phương pháp giám định văn bản học cổ điển, khai thác trực tiếp 282 trang tư liệu bản thảo A.2592/2 để phục vụ các đề tài phân tích văn tự, âm vận và ngữ nghĩa Hán Nôm.
  • Nhà nghiên cứu Triết học và Lịch sử tư tưởng: Sử dụng hệ thống dữ liệu thực chứng gồm 60 trường hợp trích xuất từ 9 bộ quốc sử để làm rõ sự tiếp biến và khúc xạ của hệ tư tưởng Nho gia tại Việt Nam qua các triều đại.
  • Sinh viên chuyên ngành Văn hóa học và Lịch sử: Nắm bắt mô hình nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa dịch thuật thư tịch cổ và điền dã thực địa tại nông thôn Bắc Bộ nhằm nâng cao kỹ năng xử lý tư liệu lịch sử.
  • Độc giả say mê Dịch học cổ truyền: Tiếp cận góc nhìn duy lý, biện chứng của một học giả Việt Nam đầu thế kỷ XX, giúp phân biệt rõ ràng giữa giá trị triết học đích thực của Chu Dịch và các hình thức bói toán mê tín dị đoan.

Câu hỏi thường gặp

Tác giả Lê Văn Ngữ và Lê Ngữ trong các thư tịch cổ là hai người khác nhau hay cùng một người? Luận văn đã chứng minh đây chỉ là một người duy nhất sinh năm 1860, mất năm 1934, tự Ứng Hòa, hiệu Cuồng Sĩ hoặc Lãn Sĩ, quê tại làng Vạn Lộc, Nam Định. Căn cứ xác thực là nét chữ chép tay đồng nhất, bố cục văn bản tương đồng và mối liên hệ mạch lạc giữa bản thảo Chu Dịch cứu nguyên cùng 6 tác phẩm Hán Nôm khác.

Bộ sách Chu Dịch cứu nguyên được hoàn thành vào thời điểm nào và có quy mô ra sao? Tác phẩm được Lê Văn Ngữ hoàn thành vào mùa đông năm 1917 khi ông 57 tuổi. Công trình gồm 2 tập với tổng cộng 141 tờ giấy dó chép tay thể chân, bao gồm 16 thiên khảo luận chuyên sâu ở phần đầu và 85 tờ kinh văn giải thích chi tiết ý nghĩa của toàn bộ 64 quẻ Dịch.

Điểm độc đáo nổi bật nhất trong phương pháp nghiên cứu Chu Dịch của Lê Văn Ngữ là gì? Điểm độc đáo nhất là tinh thần nghi cổ và tư duy canh tân chịu ảnh hưởng từ chuyến đi Pháp năm 1900. Tác giả kiên quyết phân định rạch ròi giữa Kinh và Truyện, gạt bỏ những luận giải thần bí của Tống Nho và lấy nguyên lý "thời trung" làm kim chỉ nam để giải thích các vấn đề y học, xã hội đương thời.

Sử sách ghi nhận mốc thời gian sớm nhất người Việt chủ động tiếp nhận Chu Dịch là khi nào? Dịch học theo chân quan lại nhà Hán vào nước ta từ năm 25 sau Công nguyên, nhưng mốc tiếp nhận chủ động đầu tiên được chính sử xác nhận là vào mùa xuân năm 1007. Khi đó, vua Lê Long Đĩnh đã cử sứ bộ sang nhà Tống dâng biểu xin ban cấp trọn bộ Cửu kinh và kinh tạng Phật giáo.

Người Việt trong lịch sử sử dụng Chu Dịch vào những mục đích nào là chủ yếu? Dữ liệu 60 trường hợp trong 9 bộ đại chính sử cho thấy có tới 37 trường hợp (chiếm 61,67%) thuộc loại A2. Điều này khẳng định người Việt không dừng lại ở việc bói toán mà chủ yếu dùng Dịch lý để bàn luận chính sự, rèn luyện tư duy lãnh đạo và ứng dụng vào nghệ thuật quân sự đánh giặc giữ nước như Hưng Đạo Vương năm 1300.

Kết luận

  • Luận văn đã phục dựng trọn vẹn chân dung học thuật của danh nhân Lê Văn Ngữ (1860 – 1934), đính chính sự nhầm lẫn học thuật kéo dài và hợp nhất 7 công trình trước tác Hán Nôm đặc sắc.
  • Giám định thành công bản thảo quý hiếm Chu Dịch cứu nguyên năm 1917 (ký hiệu A.2592/2) gồm 141 tờ với 16 thiên chuyên luận có giá trị học thuật vượt bậc.
  • Khái quát tiến trình 2.000 năm Dịch học Việt Nam qua 60 trường hợp định lượng trong 9 bộ đại chính sử, khẳng định truyền thống tiếp nhận chủ động và sáng tạo của dân tộc.
  • Làm sáng tỏ phương pháp kinh học nghi cổ độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa Dịch lý phương Đông và tư duy khoa học phương Tây thời kỳ cận đại.
  • Mở ra định hướng nghiên cứu mới trong giai đoạn 2026 – 2030 về việc số hóa di sản Hán Nôm và tái đánh giá các học giả độc lập thời kỳ chuyển giao văn hóa.

Quý độc giả và các nhà nghiên cứu hãy cùng tiếp tục đào sâu, khai thác kho tàng trước tác của học giả Lê Văn Ngữ để tôn vinh những giá trị tư tưởng đặc sắc của nền học thuật nước nhà!