Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về xạ khuẩn 1.1 Giới thiệu về xạ khuẩn Xạ khuẩn (Actinomycetes) là một nhóm vi khuẩn thật (Eubacteria), phân bố rất rộng rãi trong tự nhiên: trong đất, nước, một phần trong bùn và trong các chất hữu cơ khác, thậm chí trong cả cơ chất mà các VSV khác không sinh trưởng được. Xạ khuẩn thuộc nhóm vi khuẩn Gram dương, thường có tỷ lệ GC trong ADN cao hơn 55%. Trong số khoảng 1000 chi và 5000 loài sinh vật nhân sơ đã công bố có khoảng 100 chi và 1000 loài xạ khuẩn [26]. Xạ khuẩn phân bố chủ yếu trong đất và đóng vai trò rất quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên.
Theo Waksman, trong một gam đất có khoảng 29.000 mầm xạ khuẩn, chiếm 9 - 45% tổng số VSV [42]. Chúng sử dụng axit humic và các chất hữu cơ khó phân giải khác trong đất. Mặc dù xạ khuẩn thuộc nhóm sinh vật nhân sơ nhưng chúng thường sinh trưởng dưới dạng sợi và thường tạo nhiều bào tử. Sự phân bố của xạ khuẩn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: độ ẩm, thành phần của đất, mức độ canh tác và thảm thực vật.
Ngoài ra sự phân bố của xạ khuẩn còn phụ thuộc vào độ pH môi trường, chúng có nhiều trong các lớp đất trung tính, kiềm yếu hoặc axit yếu 6,8- 7,5. Xạ khuẩn thường tập chung ở những nơi đất giàu hữu cơ, khoáng và lớp bề mặt có nhiều mùn. Chúng sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ 28- 30oC, độ ẩm khoảng 40-55%. Những nơi có nồng độ pH kiềm, axit thường ít xạ khuẩn, đặc biệt nơi đất quá kiềm lại càng ít xạ khuẩn.
Tuy nhiên nhiều loài xạ khuẩn đã được phân lập ở các môi trường khắc nghiệt như Arthrobacter ardleyensis ưa lạnh được phân lập từ trầm tích hồ ở Nam cực có thể sống ở nhiệt độ 0 0C [22] và Nocardiopis alkaliphila được phân lập từ đất sa mạc ở Ai Cập có thể sống ở pH 9,5- 10 [31]. Một trong những đặc tính quan trọng của xạ khuẩn là khả năng hình thành CKS, 60-70% xạ khuẩn được phân lập từ đất có khả năng sinh CKS. Cho tới nay khoảng hơn 8000 CKS hiện biết trên thế giới thì có 80% là do xạ khuẩn sinh ra [3]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Điều đáng chú ý là các xạ khuẩn hiếm đã cung cấp nhiều CKS có giá trị dùng trong y học như: getamixin, vacomixin.
Ngoài ra, xạ khuẩn còn tham gia tích cực vào các quá trình chuyển hóa nhiều hợp chất trong đất nước. Dùng để sản xuất nhiều enzym như: proteaza, amylaza, xenluloza, một số axit amin và axit hữu cơ. Một số xạ khuẩn có thể gây bệnh cho người và động vật [6]. Đặc điểm sinh học của xạ khuẩn * Đặc điểm hình thái của xạ khuẩn Ở trên môi trường đặc, xạ khuẩn sinh trưởng thành những khuẩn lạc khô, kích thước khuẩn lạc thay đổi tùy từng loài và điều kiện ngoại cảnh, đường kính khuẩn lạc trung bình 0,5-2 mm.
Khuẩn lạc xạ khuẩn không trơn, ướt như ở vi khuẩn, nấm men mà thường có dạng thô ráp, dạng vôi, dạng nhung tơ hay dạng màng dẻo, không trong suốt, có các nếp tỏa ra theo hình phóng xạ. Do đó mới có tên gọi là xạ khuẩn (Actinomycetes, tiếng Hy Lạp: Aktis là “tia”, mykes là “nấm”). Khuẩn lạc xạ khuẩn thường có 3 lớp: lớp vỏ ngoài là các sợi bện chặt, lớp trong tương đối xốp và lớp giữa có cấu trúc tổ ong. Màu sắc của khuẩn lạc rất đa dạng: đỏ, da cam, vàng, lam, nâu, trắng… tùy thuộc vào loài và điều kiện dinh dưỡng, màu sắc của khuẩn lạc là một trong những đặc điểm phân loại quan trọng [1].
Các dạng khuẩn lạc xạ khuẩn [5].fr/khaocuu/nguyenlandung/phanloaixakhuan01.htm) Đặc điểm nổi bật của xạ khuẩn là có hệ sợi phát triển, phân nhánh mạnh và không có vách ngăn (chỉ trừ cuống bào tử khi hình thành bào tử). Hệ sợi xạ khuẩn mảnh hơn của nấm mốc, kích thước và khối lượng hệ sợi thường không ổn định và phụ thuộc vào điều kiện sinh lý, nuôi cấy. Kích thước của hệ sợi xạ khuẩn là một trong những đặc điểm phân biệt khuẩn lạc của xạ khuẩn và khuẩn lạc của nấm mốc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 vì hệ sợi của nấm mốc có đường kính lớn, dễ quan sát bằng mắt thường. Trên môi trường đặc, hệ sợi của xạ khuẩn sinh trưởng thành 2 hướng tạo thành khuẩn ti cơ chất (substrate mycelium) và khuẩn ti khí sinh (aerial mycelium).
Khuẩn ti cơ chất (KTCC) sinh trưởng cắm sâu vào trong môi trường với chức năng chủ yếu là lấy nước và thức ăn. Đường kính KTCC thay đổi từ 0,2m-0,3m, khuẩn ti không có vách ngăn và không bị đứt đoạn. Tùy vào loại môi trường mà KTCC có thể tiết ra môi trường một số loại sắc tố trong đó có sắc tố hòa tan được trong nước, có sắc tố hòa tan được trong dung môi hữu cơ. KTCC sinh trưởng một thời gian thì dài ra trong không khí tạo thành khuẩn ti khí sinh (KTKS).
KTKS có chức năng chính là sinh sản. * Đặc điểm cấu tạo của xạ khuẩn Xạ khuẩn có cấu trúc tế bào tương tự như vi khuẩn Gram dương, toàn bộ cơ thể chỉ là một tế bào bao gồm các thành phần chính: thành tế bào, màng sinh chất, nguyên sinh chất, chất nhân và các thể ẩn nhập. Thành tế bào của xạ khuẩn có kết cấu dạng lưới, dày 10 - 20 nm có tác dụng duy trì hình dáng của khuẩn ty, bảo vệ tế bào. Thành tế bào gồm 3 lớp: Lớp ngoài cùng dày khoảng 60 - 120A0, khi già có thể đạt tới 150 - 200A0, lớp giữa rắn chắc, dày khoảng 50A0, lớp trong dày khoảng 50A0.
Các lớp này chủ yếu cấu tạo từ các lớp glucopeptide bao gồm các gốc N - axetyl glucozamin liên kết với N - axetyl muramic bởi các liên kết 1,4 - glucozit. Khi xử lý bằng lyzozym, các liên kết 1,4 - glucozit bị cắt đứt, thành tế bào bị phá huỷ tạo thành thể sinh chất (protoplast), cấu trúc sợi cũng bị phá huỷ khi xử lý tế bào với hỗn hợp este chlorofom và các dung môi hoà tan lipit khác. Nguyên nhân là do lớp ngoài cùng có cấu tạo chủ yếu bằng lipit khác với nấm. Thành tế bào xạ khuẩn không chứa xenllulose và kitin nhưng chứa nhiều enzym tham gia vào quá trình trao đổi chất và quá trình vận chuyển vật chất qua màng tế bào.
Căn cứ vào thành phần hoá học, thành tế bào xạ khuẩn được chia thành 4 nhóm chính : Nhóm I: Thành phần chính của thành tế bào là axit L - 2,6 diaminopimelic (L - ADP) và glyxin. Chi Streptomyces thuộc nhóm này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nhóm II: Thành phần chính của thành tế bào là axit meso - 2,6 - diaminopimelic (m - ADP) và glyxin. Nhóm III: Thành phần chính của thành tế bào là axit meso - 2,6 - diaminopimelic.
Nhóm IV: Thành phần chính của thành tế bào là axit meso - 2,6 - diaminopimelic, arabinose và galactose. Dưới lớp thành tế bào là màng sinh chất dày khoảng 50 nm được cấu tạo chủ yếu bởi 2 thành phần là photpholipit và protein. Chúng có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình trao đổi chất và quá trình hình thành bào tử của xạ khuẩn. Nguyên sinh chất và nhân tế bào xạ khuẩn không có khác biệt lớn so với tế bào vi khuẩn.
Trong nguyên sinh chất của xạ khuẩn cũng chứa mezoxom và các thể ẩn nhập (các hạt polyphosphate: hình cầu, bắt màu với thuốc nhuộm sudan III và các hạt polysaccharide bắt màu với dung dịch lugol). Tuy nhiên, điểm khác biệt của xạ khuẩn so với các sinh vật prokaryote ở chỗ chúng có tỷ lệ G + C rất cao trong DNA, thường lớn hơn 55%, trong khi đó ở vi khuẩn tỷ lệ này chỉ là 25 - 45% [8]. Xạ khuẩn thuộc loại vi khuẩn Gram dương nên ngoài yếu tố di truyền trong nhiễm sắc thể còn có các yếu tố di truyền ngoài nhiễm sắc thể, chúng có thể tự nhân lên mà được Lederberg gọi là plasmid. Các plasmid đem lại cho tế bào nhiều đặc tính chọn lọc quý giá như có thêm khả năng phân giải một số hợp chất, chống chịu với nhiệt độ bất lợi, chống chịu với các kháng sinh, chuyển gene, sản xuất các chất kháng sinh trong đất và môi trường tuyển chọn [2].
Xạ khuẩn thuộc loại cơ thể dị dưỡng, nguồn cacbon chúng thường dùng là đường, tinh bột, rượu và nhiều chất hữu cơ khác. Nguồn nitơ hữu cơ là protein, pepton, cao ngô, cao nấm men. Nguồn nitơ vô cơ là nitrat, muối amôn…Khả năng đồng hoá các chất ở các loài hay chủng xạ khuẩn khác nhau là khác nhau. Phân loại xạ khuẩn 1.
Phân loại theo đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy Đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy là thông tin quan trọng để phân loại xạ khuẩn. Dựa theo cách phân loại này các chủng xạ khuẩn thường được nuôi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 trên các môi trường dinh dưỡng trong điều kiện nhiệt độ và thời gian thích hợp, sau đó quan sát các đặc điểm hình thái và nuôi cấy của xạ khuẩn như hình dạng, màu sắc của bào tử, khả năng sinh sắc tố, sinh melanin.đồng thời ghi chép kết quả và chụp mẫu. Trước kia, nhiều loại xạ khuẩn được phân chia tùy theo sự khác nhau về đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy như màu của khuẩn ti cơ chất (KTCC), khuẩn ti khí sinh (KTKS), sắc tố tan; sự có mặt của KTCC, hình dạng và kết cấu mặt bào tử; đặc điểm cuống sinh bào tử và sự phân đốt của khuẩn ti. Tuy nhiên, do xạ khuẩn không bền vững về mặt di truyền, trong cùng một loài có thể biểu hiện khác nhau về mặt hình thái hoặc có những loài khác nhau lại có thể giống nhau về mặt hình thái.
Do đó để phân loại chính xác hơn, bổ sung cho việc nghiên cứu phân loại, người ta sử dụng thêm các phương pháp phân loại bằng sinh lí, sinh hóa, miễn dịch học và sinh học phân tử [15,42]. Phân loại theo đặc điểm sinh lý, sinh hóa. Khi phân loại xạ khuẩn người ta thường sử dụng các đặc điểm sinh lý, sinh hóa như khả năng đồng hóa các nguồn cacbon, nguồn nitơ, nhu cầu các chất kích thích sinh trưởng. Ngoài ra còn các chỉ tiêu khác cũng được xác định như pH, nhiệt độ, khả năng chịu muối, tính chất đối kháng và mẫn cảm với CKS, khả năng tạo thành CKS và các sản phẩm trao đổi chất khác đặc trưng của xạ khuẩn.
Tuy nhiên, do xạ khuẩn thường xuất hiện nhiều biến dị nên các đặc điểm sinh lý, sinh hóa thường có giá trị thấp về mặt phân loại.