Đặt vấn đề Bất kỳ hoạt động kinh tế xã hội cũng như trong đời sống sinh hoạt con người đều phải sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau. Mặc dù đã có nhiều các nhà khoa học kỹ thuật đã tiến rất xa trên con đường tìm kiếm nguồn năng lượng mới, song chúng chưa thể thay thế cho nhiên liệu hoá thạch và có khả năng cạn kiệt bất cứ lúc nào như than đá, quặng sắt dầu mỏ. Quá trình khai thác các nhiên liệu hoá thạch có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đặc biệt là khai thác sắt. Chính vì vậy, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản là một trong những nhân tố để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia trên thế giới.
Việt Nam là một trong những quốc gia có trữ lượng khoáng sản, than đá vào loại lớn và đa dạng trên thế giới. Đồng thời, việc khai thác khoáng sản đã và đang để lại những hệ lụy về môi trường. Cao Bằng là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc nước ta, có nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào và là tiền đề quan trọng để phát triển nền kinh tế của tỉnh trong nhiều năm tới. Lãnh thổ Cao Bằng có lịch sử phát triển địa chất từ rất sớm, từ Cambri cho đến ngày nay.
Các khoáng sản quan trọng của Cao Bằng: mangan, sắt, thiếc, vonfram, vật liệu xây dựng, khoáng chất công nghiệp (fluorit…), bauxit, chì - kẽm, uran, antimon. Vấn đề hiện nay là thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản mà vẫn bảo đảm phát triển bền vững. Hoạt động khai thác khoáng sản này, đặc biệt là khai thác quặng , đã đem lại lợi ích về mặt kinh tế tạo công ăn việc làm cho nguời dân địa phuơng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển. Tuy nhiên hoạt động khoáng sản tại Mỏ Sắt Nguờm Tráng, Cao Bằng đã và đang ảnh huởng đến môi truờng nước mặt xung quanh.
Đó là tác động môi truờng mà chúng ta khó kiểm soát. Chính vì thế đề tài “ Đánh giá ảnh huởng của khai thác khoáng sản đến môi truờng nuớc mặt tại Mỏ Sắt, xã Dân Chủ, Huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng ” được thực hiện. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Đánh giá được tình hình khai thác quặng sắt tại Ngườm Tráng, xã Dân Chủ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng trong những năm vừa qua.
- Đánh giá được các ảnh hưởng của hoạt động khai thác quặng tới môi trường nước mặt. - Đề xuất giải pháp phòng ngừa, khắc phục các tác động tiêu cực của hoạt động khai thác mỏ sắt đến môi trường nước mặt trên địa bàn xã Dân Chủ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Yêu cầu - Phản ánh đầy đủ, đúng đắn thực trạng khai thác quặng tại mỏ sắt Nguờm Tráng và ảnh hưởng của nó tới môi trường nước khu vực phát tán ô nhiễm. - Các mẫu nước phải được lấy trong khu vực chịu tác động của hoạt động khai thác quặng tại địa bàn nghiên cứu.
- Các biện pháp được đề xuất phải mang tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế. - Nâng cao kiến thức thực tế.
- Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường. - Bổ sung tư liệu cho hoc tập. Ý nghĩa thực tiễn - Đưa ra được các tác động của hoạt động khai thác quặng tới môi trường nước để từ đó giúp cho đơn vị tổ chức khai thác có các biện pháp quản lý, ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường nước, cảnh quan và con người. - Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho mọi thành viên tham gia hoạt động khoáng sản. Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về tài nguyên nước: 2. Tài nguyên nước và tầm quan trọng của tài nguyên nước 2. Khái niệm Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau.
Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt. 97% nước trên trái đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũi băng ở các cực. Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí.
Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy việc cung cấp nước ngọt và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi. Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài nơi trên thế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầu nước càng tăng. Sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần đây. Trong suốt thế kỷ 20, hơn một nửa các vùng đất ngập nước trên thế giới đã bị biến mất cùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị của chúng.
Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suy giảm nhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền.Các nguồn nước ngọt bao gồm 2. Nước mặt Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước. Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất. Nước mặt tự nhiên có thể được tăng cường thông qua việc cung cấp từ các nguồn nước mặt khác bởi các kênh hoặc đường ống dẫn nước, cũng có thể bởi cấp nhân tạo từ các nguồn khác, tuy nhiên số lượng không đáng kể.
Con người có thể làm cho nguồn nước cạn kiệt (với nghĩa không thể sử dụng) bởi ô nhiễm. Brasil được đánh giá là quốc gia có nguồn cung cấp nước ngọt lớn nhất thế giới, sau đó là Nga và Canada. Dòng chảy ngầm Trên suốt dòng sông, lượng nước chảy về hạ nguồn thường bao gồm hai dạng là dòng chảy trên mặt và chảy thành dòng ngầm trong các đá bị nứt nẻ (không phải nước ngầm) dưới các con sông. Đối với một số thung lũng lớn, yếu tố không quan sát được này có thể có lưu lượng lớn hơn rất nhiều so với dòng chảy mặt.
Dòng chảy ngầm thường hình thành một bề mặt động lực học giữa nước mặt và nước ngầm thật sự. Nó nhận nước từ nguồn nước ngầm khi tầng ngậm nước đã được bổ cấp đầy đủ và bổ sung nước vào tầng nước ngầm khi nước ngầm cạn kiệt. Dạng dòng chảy này phổ biến ở các khu vực karst do ở đây có rất nhiều hố sụt và dòng sông ngầm. Nước ngầm: Nước ngầm hay còn gọi là nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá.
Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngậm nước bên dưới mực nước ngầm. Đôi khi người ta còn phân biệt nước ngầm nông, nước ngầm sâu và nước chôn vùi. Nước ngầm cũng có những đặc điểm giống như nước mặt như: nguồn vào (bổ cấp), nguồn ra và chứa. Sự khác biệt chủ yếu với nước mặt là do tốc độ luân chuyển chậm (dòng thấm rất chậm so với nước mặt), khả năng giữ nước ngầm nhìn chung lớn hơn nước mặt khi so sánh về lượng nước đầu vào.
Sự khác biệt này làm cho con người sử dụng nó một cách vô tội vạ trong một thời gian dài mà không cần dự trữ. Đó là quan niệm sai lầm, khi mà nguồn nước khai thác vượt quá lượng bổ cấp sẽ là cạn kiệt tầng chứa nước và không thể phục hồi. Nguồn cung cấp nước cho nước ngầm là nước mặt thấm vào tầng chứa. Các nguồn thoát tự nhiên như suối và thấm vào các đại dương.
Nguồn nước ngầm có khả năng bị nhiễm mặn cách tự nhiên hoặc do tác động của con người khi khai thác quá mức các tầng chứa nước gần biên mặn/ngọt. Ở các vùng ven biển, con người sử dụng nguồn nước ngầm có thể làm co nước thấm vào đại dương từ nước dự trữ gây ra hiện tượng muối hóa đất. Con người cũng có thể làm cạn kiệt nguồn nước bởi các hoạt động làm ô nhiễm nó. Con người có thể bổ cấp cho nguồn nước này bằng cách xây dựng các bể chứa hoặc bổ cấp nhân tạo.
Tầm quan trọng của tài nguyên nước mặt Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên trái đất. Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp. Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể con người. Ðể sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.
Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất mang năng lượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước. Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km3, tập trung trong thuỷ quyển 97,2% (1,35 tỷ km3), còn lại trong khí quyển và thạch quyển. 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông và hồ.
Lượng nước trong khí quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối 0,00007% tổng lượng nước trên trái đất. Lượng nước ngọt con người sử dụng xuất phát từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất 105. Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp). Vai trò của tài nguyên nước mặt *Đối với sản xuất nông nghiệp Việc sử dụng quan trọng nhất của nước trong nông nghiệp là dành cho thủy lợi, và là một thành phần quan trọng để sản xuất đủ lương thực.
Thủy lợi chiếm đến 90% ở các nước đang phát triển và đáng kể tỷ lệ ở các nước kinh tế phát triển hơn (Hoa Kỳ, 30% sử dụng nước ngọt để tưới tiêu).