Luận Văn Thạc Sĩ: Tìm Hiểu Ẩn Dụ Tình Yêu và Con Người Trong Dân Ca Quan Họ Bắc Ninh

Khám phá ẩn dụ ý niệm về tình yêu và con người trong dân ca quan họ Bắc Ninh qua luận văn thạc sĩ USSH. Tìm hiểu sâu sắc và thú vị.

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2018

93
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. Các khái niệm liên quan của ngôn ngữ học tri nhận

1.2. Sự diễn giải, đưa ra cận cảnh, khung tri nhận và không gian tinh thần

1.3. Phạm trù tri nhận và điển dạng

1.4. Tính nghiệm thân

1.5. Miền Nguồn – miền Đích trong ẩn dụ ý niệm

1.6. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.6.1. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm

1.6.2. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở ngoài nước

1.6.3. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở trong nước

1.6.4. Tình hình nghiên cứu về dân ca quan họ Bắc Ninh

1.6.4.1. Một số nghiên cứu đã có về dân ca quan họ Bắc Ninh
1.6.4.2. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong dân ca quan họ Bắc Ninh

1.6.5. Vài nét về quan họ Bắc Ninh

1.6.5.1. Khái quát về dân ca quan họ Bắc Ninh
1.6.5.2. Văn hóa quan họ trong tổng hòa của các loại hình văn hóa
1.6.5.3. Tìm hiểu lối chơi quan họ

2. CHƯƠNG 2: ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH

2.1. Ẩn dụ ý niệm về con người trong dân ca quan họ Bắc Ninh

2.1.1. Mô hình cấu trúc ý niệm “Con người”

2.1.2. Kết quả khảo sát ẩn dụ ý niệm về con người trong dân ca quan họ Bắc Ninh

2.1.3. Những ẩn dụ ý niệm tiêu biểu về con người trong dân ca quan họ Bắc Ninh

3. CHƯƠNG 3: ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH

3.1. Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong dân ca quan họ Bắc Ninh

3.1.1. Mô hình cấu trúc ý niệm “tình yêu”

3.1.2. Kết quả khảo sát ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong dân ca quan họ Bắc Ninh

3.1.3. Những ẩn dụ ý niệm tiêu biểu về tình yêu trong dân ca quan họ Bắc Ninh

3.1.3.1. Ẩn dụ về tình yêu qua các điển tích cũ
3.1.3.2. Ẩn dụ về tình yêu qua vật biểu tượng (chuông, áo, mưa, ...)
3.1.3.3. Ẩn dụ về tình yêu qua NƯỚC/ BÈO/ THUYỀN/ CON ĐÒ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám Phá Ẩn Dụ Tình Yêu Trong Dân Ca Quan Họ Bắc Ninh

Dân ca Quan họ Bắc Ninh không chỉ là một loại hình nghệ thuật độc đáo mà còn chứa đựng những ẩn dụ sâu sắc về tình yêu và con người. Những bài hát này thường phản ánh tâm tư, tình cảm của người dân nơi đây, thể hiện qua các hình ảnh và biểu tượng phong phú. Ẩn dụ tình yêu trong dân ca không chỉ đơn thuần là những lời ca ngọt ngào mà còn là những triết lý sống, những giá trị văn hóa được truyền tải qua từng câu chữ.

1.1. Ý Nghĩa Của Tình Yêu Trong Dân Ca Quan Họ

Tình yêu trong dân ca Quan họ được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau, từ những hình ảnh cụ thể đến những biểu tượng trừu tượng. Những bài hát thường nói về tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương, và tình yêu với cuộc sống. Điều này không chỉ thể hiện tâm tư của người dân mà còn phản ánh những giá trị văn hóa đặc trưng của vùng đất Bắc Ninh.

1.2. Các Biểu Tượng Tình Yêu Trong Dân Ca

Các biểu tượng như hoa, nước, và ánh trăng thường xuất hiện trong các bài dân ca Quan họ, mang theo những ý nghĩa sâu sắc về tình yêu. Những hình ảnh này không chỉ đơn thuần là mô tả mà còn là những ẩn dụ thể hiện cảm xúc, tâm tư của con người. Chúng tạo nên một không gian nghệ thuật phong phú, nơi mà tình yêu được thể hiện một cách tinh tế và sâu sắc.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Việc Bảo Tồn Dân Ca Quan Họ

Dân ca Quan họ Bắc Ninh đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo tồn và phát triển. Sự thay đổi trong thói quen nghe nhạc của giới trẻ, cùng với sự phát triển của các loại hình âm nhạc hiện đại, đã khiến cho dân ca Quan họ dần bị lãng quên. Việc bảo tồn không chỉ là trách nhiệm của các nghệ nhân mà còn cần sự quan tâm từ cộng đồng và các cơ quan chức năng.

2.1. Sự Giảm Dần Sự Quan Tâm Của Giới Trẻ

Giới trẻ hiện nay thường có xu hướng tìm kiếm những loại hình âm nhạc hiện đại, dẫn đến sự giảm sút trong việc tham gia các hoạt động liên quan đến dân ca Quan họ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của nghệ thuật mà còn làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống.

2.2. Thiếu Hỗ Trợ Từ Các Cơ Quan Chức Năng

Mặc dù dân ca Quan họ đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, nhưng vẫn cần nhiều hơn nữa sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng trong việc tổ chức các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật này. Việc thiếu hụt nguồn lực và chính sách hỗ trợ có thể dẫn đến nguy cơ mai một của dân ca Quan họ.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Ẩn Dụ Trong Dân Ca Quan Họ

Nghiên cứu ẩn dụ trong dân ca Quan họ Bắc Ninh là một phương pháp hiệu quả để hiểu rõ hơn về tâm tư, tình cảm của người dân nơi đây. Việc phân tích các ẩn dụ không chỉ giúp làm sáng tỏ ý nghĩa của các bài hát mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân ca Quan họ.

3.1. Phân Tích Các Mô Hình Ẩn Dụ

Phân tích các mô hình ẩn dụ trong dân ca Quan họ giúp nhận diện được những giá trị văn hóa và tâm lý của người dân. Các mô hình này thường phản ánh những trải nghiệm sống, những cảm xúc và suy nghĩ của con người trong bối cảnh xã hội cụ thể.

3.2. Ứng Dụng Lí Thuyết Ngôn Ngữ Học Tri Nhận

Việc ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trong nghiên cứu ẩn dụ giúp làm rõ cách mà con người hiểu và cảm nhận về tình yêu và con người thông qua ngôn ngữ. Điều này không chỉ làm phong phú thêm cho nghiên cứu mà còn giúp bảo tồn những giá trị văn hóa độc đáo của dân ca Quan họ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Dân Ca Quan Họ

Nghiên cứu về dân ca Quan họ không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong việc bảo tồn văn hóa. Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong giáo dục, truyền thông và các hoạt động văn hóa nhằm nâng cao nhận thức về giá trị của dân ca Quan họ trong cộng đồng.

4.1. Giáo Dục Văn Hóa Qua Dân Ca

Việc đưa dân ca Quan họ vào chương trình giáo dục sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa của dân tộc. Điều này không chỉ giúp bảo tồn mà còn phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hiện đại.

4.2. Tổ Chức Các Hoạt Động Văn Hóa

Tổ chức các hoạt động văn hóa liên quan đến dân ca Quan họ như lễ hội, buổi biểu diễn sẽ tạo cơ hội cho cộng đồng tham gia và trải nghiệm. Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn tạo ra một không gian giao lưu văn hóa phong phú.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Dân Ca Quan Họ

Dân ca Quan họ Bắc Ninh có một vị trí quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, để bảo tồn và phát huy giá trị của nó, cần có sự chung tay của cả cộng đồng. Tương lai của dân ca Quan họ phụ thuộc vào việc làm thế nào để kết nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa các thế hệ.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Bảo Tồn

Bảo tồn dân ca Quan họ không chỉ là trách nhiệm của các nghệ nhân mà còn là của toàn xã hội. Việc nhận thức được giá trị của dân ca sẽ giúp tạo ra những hành động thiết thực trong việc bảo tồn.

5.2. Kết Nối Giữa Các Thế Hệ

Việc kết nối giữa các thế hệ thông qua dân ca Quan họ sẽ giúp duy trì và phát huy giá trị văn hóa. Các hoạt động giao lưu, truyền dạy sẽ tạo ra một cầu nối vững chắc giữa quá khứ và hiện tại.

21/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu , Nô ̣i dung và Kế t luâ ̣n , bố cục luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng với các nội dung chính dƣới đây: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CƢ́U ĐỀ TÀI Chƣơng 2: ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ CON NGƢỜI TRONG DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH Chƣơng 3: ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm liên quan của ngôn ngữ học tri nhận 1.1 Ý niệm Trong ngôn ngữ học tri nhận và một số khoa học khác nhƣ nhân chủng học, ngôn ngữ - văn hóa học, dân tộc – ngôn ngữ học…, các nhà nghiên cứu đều coi ý niệm (concept) là đơn vị cơ bản của tính tinh thần. Tức là, ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới đƣợc phản ánh trong tâm lí con ngƣời. Ý niệm ở đây đƣợc hiểu không chỉ là vấn đề tri thức. Ý niệm chi phối các chức năng hoạt động hàng ngày cho đến những chi tiết tầm thƣờng nhất.

Chúng cấu trúc cái chúng ta nhận thức, cái chúng ta giao tiếp với ngƣời khác và ngoại giới. Chúng đóng vai trò chính trong việc xác định hiện thực hàng ngày trong cuộc sống [12]. Đối với ngôn ngữ học tri nhận và tâm lí học, ý niệm “không chỉ là kết quả của quá trình tƣ duy, quá trình phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con ngƣời mà đó là sản phẩm của hoạt động tri nhận, nó là cái chứa đựng tri thức hay sự hiểu biết của con ngƣời về thế giới trên cơ sở kinh nghiệm từ đời này sang đời khác, nó vừa mang tính nhân loại phổ quát vừa mang tính đặc thù dân tộc (do chỗ nó gắn kết chặt chẽ với ngôn ngữ và văn hoá của dân tộc đó)” [83, tr. Từ quan niệm then chốt này, những khái niệm khác của tri nhận nhƣ: khung tri nhận, mô hình tri nhận, phạm trù và điển dạng, không gian tinh thần … mới đƣợc xác định.

Theo Trần Văn Cơ [15], ý niệm là kết quả của quá trình tri nhận nhằm tạo ra các biểu tƣợng tinh thần (mental representation) mà cấu trúc của nó gồm ba thành tố: trí tuệ, cảm xúc và ý chí. Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hóa thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới thực, thế giới tƣởng tƣợng và những sự tình có thể xảy ra trong thế giới đó. Các ý niệm quy sự đa dạng của những hiện tƣợng quan sát đƣợc hoặc những tƣởng tƣợng về một cái gì đó thống nhất, đƣa chúng vào một hệ thống và cho phép chúng ta lƣu giữ những kiến thức về thế giới thông qua chúng. Ý niệm tạo ra một lớp văn hóa trung gian giữa con ngƣời và thế giới, nó đƣợc 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cấu thành từ những tri thức về tín ngƣỡng, phong tục tập quán, luật pháp, đạo lý và thói quen mà con ngƣời tiếp thu đƣợc với tƣ cách là thành viên của xã hội.

Trong [15], Trần Văn Cơ cũng khẳng định rằng, ý niệm là “một mảng của thế giới do con ngƣời cắt ra bằng “lƣỡi dao ngôn ngữ” để nhận thức” [15, tr. Việc cắt thế giới ra thành từng mảng đƣợc gọi là ý niệm hóa. Việc ý niệm hóa thế giới cho con ngƣời những “bức tranh thế giới” không giống nhau do sự chi phối của các cộng đồng ngƣời và những nền văn hoá khác nhau. Theo ông, “ý niệm hóa thế giới là một trong những quá trình quan trọng nhất của hoạt động tri nhận của con ngƣời bao gồm việc ngữ nghĩa hóa thông tin nhận đƣợc và dẫn tới việc cấu tạo nên những ý niệm, những cấu trúc ý niệm và toàn bộ hệ thống ý niệm trong bộ não con ngƣời.

Mỗi hành động riêng lẻ của việc ý niệm hóa thế giới là một ví dụ về cách giải quyết vấn đề, ở đó thể hiện những cơ chế suy luận, suy diễn và những thao tác logic khác” [15, tr. Trong thực tế, chúng ta sử dụng rất nhiều quá trình ý niệm hóa khi chúng ta tạo sinh các phát ngôn. Khi một phát ngôn đƣợc tạo sinh, một cách vô thức chúng ta cấu trúc mọi phƣơng diện của kinh nghiệm mà chúng ta có ý định chuyển tải. Sự ý niệm hóa kinh nghiệm đem lại cho con ngƣời những bức tranh đa dạng về thế giới và làm hình thành các mô hình tri nhận.

Có bốn kiểu mô hình tri nhận thƣờng gặp, đó là: mô hình mệnh đề, mô hình sơ đồ hình ảnh, mô hình ẩn dụ, mô hình hoán dụ. Lakoff [104] gọi đây là những “mô hình tri nhận lí tƣởng” vì mức độ phổ quát của chúng với ngƣời dùng. Những vấn đề lí thuyết này là cơ sở để luận văn phân xuất, nhận diện và hệ thống hóa các ý niệm tình yêu và con người trong các chƣơng tiếp theo. Cụ thể, luận văn sẽ vận dụng lí thuyết về ý niệm, cấu trúc ý niệm để xác lập và chỉ ra các bộ phận cấu thành các ý niệm tình yêu và con người, đặc biệt xác định đƣợc trung tâm của ý niệm (chứa đựng cái phổ quát toàn nhân loại) và ngoại vi ý niệm (chứa đựng đặc thù văn hoá dân tộc).

Cũng trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chủ yếu vận dụng mô hình ẩn dụ (trong tƣơng tác với các mô hình tri nhận khác) để tìm hiểu về các ẩn dụ ý niệm tiêu biểu trong các bài ca dân ca quan họ Bắc Ninh.2 Sự diễn giải, đưa ra cận cảnh, khung tri nhận và không gian tinh thầ n 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây là một tập hợp các khái niệm có vai trò to lớn trong việc chứng minh mối quan hệ qua lại giữa tƣ duy, nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ theo quan điểm của Ngôn ngữ học tri nhận. Sự diễn giải theo quan điểm của Ngôn ngữ học tri nhận đƣợc hiểu là những cách thức mã hóa khác nhau về một tình huống cụ thể nhằm kiến tạo những sự ý niệm hóa khác nhau. Nói cách khác, một tình huống cụ thể có thể đƣợc “diễngiải” theo nhiều cách khác nhau. Quan điểm này rõ ràng đi ngƣợc lại với quan điểm của ngôn ngữ học truyền thống vốn cho rằng ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc đồ chiếu trực tiếp theo kiểu một đối một các yếu tố của thế giới bên ngoài vào dạng thức ngôn ngữ.

Trong các cách khác nhau của việc diễn giải cùng một tình huống và trong những trƣờng hợp nhất định, chỉ có một cách diễn giải tỏ ra phù hợp hoặc tự nhiên đƣợc lƣu tâm lựa chọn. Điều này chứng minh có sự khác biệt trong kinh nghiệm ngôn ngữ của từng cá nhân cụ thể, cái mà các nhà ngôn ngữ học tri nhận gọi là “khoảng trống ngẫu nhiên” [47, tr.134] trong kinh nghiệm diễn ngôn của họ. Khi đó, khả năng vạch ra các khác biệt tinh tế của ngƣời sử dụng ngôn ngữ có thể đƣợc lí giải. Khái niệm sự diễn giải sẽ đƣợc chúng tôi vận dụng để xem xét , làm rõ mối liên quan của tri thức có tính kinh nghiệm các bài dân ca quan ho ̣ trong các ẩn dụ ý niệm mang tính phổ quát (về cuộc đời, tình yêu và con ngƣời).

Đưa ra cận cảnh là nhân tố liên quan chặt chẽ tới các cách diễn giải khác biệt, đó là sự nổi trội tƣơng đối của các thành tố trong tình huống [dẫn theo 47, tr. Đƣa ra cận cảnh kết nối chặt chẽ việc mã hóa bằng ngôn ngữ với cảm nhận thị giác. Trong sự diễn giải về một tình huống, quá trình nhận thức thị giác liên quan tới việc chúng ta tập trung vào những yếu tố nhất định trong khung cảnh và đẩy những yếu tố khác vào hậu cảnh (hay ra vùng ngoại biên của trƣờng thị giác). Những yếu tố trong khung cảnh thu hút sự tập trung thị giác (gọi là tiêu điểm thị giác) có thể kéo theo sự thay đổi về tiêu điểm tri nhận.

Trong luận văn của chúng tôi, khái niệm đƣa ra cận cảnh có vai trò thiết thực trong việc xác định mô hình ánh xạ giữa miền đích với miền nguồn, xác lập tiêu điểm tri nhận trong mỗi cặp nguồn đích của ẩn dụ. Đây cũng là căn cứ để luận văn chọn lọc các thuộc tính ánh xạ phù 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp trong mỗi ẩn dụ ý niệm, tập trung phân tích để chỉ ra đặc trƣng tri nhận của tác giả trong tƣơng liên với những đặc trƣng tri nhận của cộng đồng. Khung tri nhận là khái niệm đƣợc Fillmore [99] dùng để gọi những tri thức nền liên quan đến việc hiểu nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ nào đó. Nói cách khác, việc hiểu tƣờng tận một đơn vị ngôn ngữ nào đó đòi hỏi một lƣợng hiểu biết đáng kể bên ngoài phạm vi định nghĩa của từ điển.

Bản thân khung không phải là cái vẫn thƣờng đƣợc coi là “nghĩa” của từ, tuy nhiên lại là thiết yếu cho việc hiểu đƣợc nó. “Ví dụ, từ uncle (chú/bác) chỉ có nghĩa khi hiểu đƣợc quan hệ thân tộc nói chung – cụ thể uncle liên quan nhƣ thế nào với những từ nhƣ father (bố), mother (mẹ), aunt (cô, dì)…” [dẫn theo 47, tr. Cũng nhƣ vậy, một ý niệm nhƣ MŨI không thể xác định đƣợc nếu không có lĩnh vực CƠ THỂ, hay các ý niệm MẦM, NỤ, HOA cũng không thể xác định đƣợc nếu bỏ qua khung CÂY CỎ (THỰC VẬT). Khi xem xét quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên khung của một đơn vị ngôn ngữ cụ thể với các yếu tố bên ngoài, không nhất thiết phải vạch ra một ranh giới rõ ràng, cũng không cần giới hạn mức độ chi tiết.

Khi giải thích một từ nào đó cho một ngƣời hoàn toàn chƣa có tri thức nền về nó, việc nêu mức độ chi tiết đến đâu là tùy thuộc vào lựa chọn chủ quan của ngƣời nói. Về nguyên tắc, mọi thứ ngƣời nói biết về thế giới bên ngoài đều có thể tiềm ẩn trở thành bộ phận của khung đối với một từ nào đó, tuy nhiên sẽ có một vài khía cạnh của cơ sở tri thức ấy đƣợc làm nổi rõ (đƣa ra cận cảnh) và một số khía cạnh khác đƣợc che giấu, làm mờ (đƣa vào hậu cảnh). Khung còn là một khái niệm vừa mang chiều kích ý niệm vừa mang chiều kích văn hóa. Phƣơng diện ý niệm giúp phân biệt các đơn vị ngôn ngữ trong cùng một khung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ