Chương 1: Tổng quan về tình hình khai thác các di tích và lễ hội đền phục vụ du lịch Chương 2: Đánh giá cụm đền và lễ hội đền ở Tràng Kênh phục vụ phát triển du lịch Chương 3: Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa và lịch sử của cụm di tích và lễ hội Tràng Kênh nhằm phục vụ phát triển du lịch. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KHAI TÁC CÁC ĐỀN VÀ LỄ HỘI ĐỀN PHỤC VỤ DU LỊCH 1.1 Khái quát về đối tượng được tôn thờ trong ngôi đền của người Việt. Từ bao đời nay bên cạnh những ngôi chùa, đình và đền đã gắn bó với tín ngưỡng và đời sống tâm linh, với văn hóa và kiến trúc của các dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước. Đền là nơi thờ thần thánh hoặc là những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh.
Đó có thể là một vị minh quân, một vị anh hùng hoặc một vị thần đã có công với dân với nước. Ngay từ thời sơ khai, trong quá trình đấu tranh chống thú dữ, khai phá thiên nhiên gian khổ, có những trở ngại lớn không dễ gì khuất phục nổi. Trong hoàn cảnh đó, xuất hiện những nhân vật tài ba có công dẫn dắt cộng đồng vượt qua khó khăn. Con người dần dần nảy sinh ý thức khuất phục và sùng bái, ý niệm tôn kính, thờ, tế thần xuất hiện.
Người Việt thờ hai loại thần đó là thiên thần và nhân thần. Thiên thần là những nhân vật thần thoại có sức mạnh siêu nhiên, có tác dụng răn đe con người làm điều tốt làm điều thiện, vừa hỗ trợ con người chống lại cái ác, chống lại ngay chính những lực lượng thiên nhiên xâm hại con người như bão lụt, bệnh tật Nhân thần là những nhân vật có thật trong lịch sử đã có công trong việc giúp dân làm ăn sinh sống, đánh đuổi giặc ngoại xâm, mở mang và giữ gìn bờ cõi. Thần là vị tài giỏi phán bảo mọi điều, mọi nhẽ. Vì vậy người ta thường nói thần kỳ là chỉ sự tài giỏi và kì lạ.
Còn thánh là nhân vật huyền thoại hoặc có thực, khi còn sống có công trạng dời non, lấp biển, chết hiển thánh. Thời cổ trước đây, đối với người còn sống cũng được phân ra bậc hiền là người đạo đức hoàn hảo và có một phần tài giỏi nào đó. Trên hiền là á thánh, trên á thánh là bậc thánh người có đầy đủ đức tài. Đối với người Việt, phổ biến nhất, nổi bật nhất là thần ở làng, hầu như làng nào cũng có đền, đình, miếu thờ thần.
Bởi vì làng vừa là một đơn vị cư trú, là nơi tụ cư, làng cũng là đơn vị sản xuất trên phạm vi công điền, công thổ, ruộng tư nhất định, người làng, mỗi làng tự làm ăn sinh sống. Với quan niệm “đất có thổ công, sông có hà bá”, “sống gửi hồn, chết gửi xương”, “sống khôn thác thiêng”. nên muốn lập nghiệp an cư, con người không thể không thờ thần, cầu thần phù hộ cho phong đăng hòa cốc, bồ thóc đầy vơi. “Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ” là vậy.
Chính vì thế làng không thể thiếu một biểu tượng thiêng liêng, vị thần hộ mệnh để phát tin tập hợp, củng cố, bảo vệ và phát triển cộng đồng. Mỗi làng phụng sự một vị thánh, có làng thờ 2, 3 vị, có làng thờ 6, 7 vị, gọi là phúc thần. Phúc thần chia làm ba hạng: thượng đẳng thần, trung đẳng thần, hạ đẳng thần. Tại nhiều làng, ngoài vị Thành hoàng chính thờ tại đình, còn các vị thần khác thờ tại các đền.
Đền thường nhỏ hơn đình, nhưng kiến trúc cũng tương tự như kiến trúc đình, nghĩa là cũng chia ra hậu cung và nhà đại bái. Thường trong những ngày thần kỵ, trong làng có mở hội thí dân làng bao giờ cũng tổ chức lễ rước thần từ đền tới đình. Ngày nay, tại các nơi đô thị thường chỉ có đền, nên hội kỷ niệm thần linh thương tổ chức ngay tại đền. Trong mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại các di tích lịch sử văn hóa như đền, đình là một bộ phận di sản văn hóa, vật chất do nhân dân lao động sáng tạo ra.
Mặt khác, gắn liền với nó là những sự tích, truyền thuyết, tín ngưỡng,. liên quan đến sự hình thành của các di tích trong tiến trính lịch sử. Đối tượng được tôn thờ trong các ngôi đền là yếu tố quyết quan trọng nhất quyết định đến vị trí của ngôi đền trong đời sống tâm linh của người Việt.2 Đặc điểm chung trong kiến trúc xây dựng đền của ngƣời Việt Đền thờ là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị thần hoặc một danh nhân quá cố. Đền vốn là chốn tâm linh bao đời của người dân Việt bởi vậy trong thiết kế và kiến trúc thể hiện rõ được nét văn hóa của người Việt a.
Về vị trí xây dựng Người Việt vốn rất sùng bái, tôn kính và tin tưởng vào sức mạnh cũng như tâm đức của thần linh và những người có công giúp đỡ họ. Họ quan niệm rằng người ta sinh ra ở đâu thì khi chết đi hồn xác họ cũng muốn trở lại với nơi đó. Thế nên địa điểm xây dựng thường được lựa chọn ở những vị trí có liên quan đến những truyền thuyết hoặc sự tích, cuộc sống của vị thần siêu nhiên hoặc các nhân vật được tôn thờ, nơi thờ thần thánh phải được đặt vào vị thế đẹp, có vị trí thuận lợi nhất của vùng đó để phân biệt với “đất rừng” của ma quỷ và đất làng xã của người trần tục. Về kết cấu Đại thể kiến trúc bên ngoài của đình, đền, miếu mạo có những đặc điểm cơ bản giống của kiến trúc đình chùa, nhưng nội dung thờ cúng và trang trí nội thất có khác nhau.
Theo nghiên cứu thì đền chính là tiền thân của những ngôi đình làng ngày nay. Trước đây người ta chỉ biết đến đền miếu. Đền cũng chính là nơi thờ thần và những người có công với dân làng thế nên nhiều khi người ta còn không phân biệt rạch ròi giữa đền và đình. Bởi vậy về mặt thiết kế thì đền cũng tương tự như những ngôi đình làng.
Nhìn từ ngoài thì đền khá giống ngôi đình với mái cong. Người ta mô phỏng mái cong của đền giống như hình con thuyền úp ngược. Đường cong đó giúp cho ngôi đình ngôi đền trở nên thanh thoát hơn và nhiều nhà nghiêm cứu đã lý giải rằng; “cong vì nó đẹp và mang ý nghĩa biểu tượng đề cao tôn linh, mặc dù khó làm hơn thẳng. Kiến trúc tôn giáo phương Tây xuất hiện đường cong VÒM parabon úp ngược; thể hiện quyền năng siêu phàm ở đỉnh cao vút như biểu lộ một giới hạn đóng - khép chặt bởi hai tia cong, cảm giác dồn nén, ép chặt lại vào phía bên trong rồi được thăng hoa lên đỉnh vòm.
Kiến trúc tôn giáo tâm linh phương Đông ngược lại, đường cong mở không bị giới hạn bởi hướng lên trời, cảm giác nhẹ nhõm, thoát tục, như có sự nâng đỡ dẫn đến sự hướng thiên. Đường cong mang tính chất vô hướng, biểu lộ ý nghĩa giải thoát; còn đường thẳng lại có tính chất định hướng, gần gũi với các quy chế gò bó con người trong các định lệ. Vì thế mái đình đền chùa miếu mạo được làm cong lên, phụ họa cho nội dung ý nghĩa của các thuyết lý về giải thoát con người, phù hợp với tâm lý người phương Đông. Về bố cục cảnh quan Các đền, miếu thường tuân theo thế phong thủy, như phải có minh đường, tả thanh long, hữu bạch hổ.
nhưng có khi khá đơn giản, thường theo bố cục chữ đinh (丁), chữ nhị (二),. gồm nhà tiền tế và hậu tẩm, hoặc kiến trúc chữ công (工), chữ tam (三). Thông thường một ngôi đền thường có 3 phần đó là tiền đường, chánh điện và hậu cung. Tùy theo quy mô bề thế của ngôi đền mà đền có thêm các phần như trung đường, thiêu hương.
Về đồ thờ và bài trí ban thờ trong đền Đồ thờ trong di tích của người Việt trở thành bộ phận hữu cơ giữa con người và thần linh, mối quan hệ này được thể hiện theo trục tung (con người - đồ thờ - thần linh) là sự giao tiếp giữa tầng dưới với tầng trên, giữa trần tục với linh thiêng. là công cụ trung gian để con người bày tỏ ước vọng của mình với thế giới siêu nhiên. Bên cạnh đó, đồ thờ gắn liền với các công trình kiến trúc như đình, chùa, đền, miếu. nó thể hiện sự tương quan về kết cấu, hình dáng, phong cách và niên đại với quy mô, loại hình kiến trúc.
Đó là mối quan hệ được thể hiện theo trục ngang (hoành) - mối quan hệ lịch sử giữa đồ thờ đối với di tích (con người - đồ thờ - kiến trúc). Như vậy con người được coi là chủ thể, đồ thờ là trung tâm trong mối ràng buộc với di tích tín ngưỡng. Con người đã không chỉ tạo hình hài cho đồ thờ thông qua lao động nghệ thuật mà còn thổi vào nó linh hồn thông qua những hoạt động văn hóa tín ngưỡng. Ngoài ra, con người còn tạo cho đồ thờ những mối liên kết với không gian kiến trúc cùng dòng chảy của lịch sử dân tộc.
Mỗi đồ thờ thường gắn với những loại hình di tích nhất định. Tuy nhiên, một số loại đồ thờ được sử dụng phổ biến cho tất cả các loại hình kiến trúc thờ cúng mà ý nghĩa của nó cũng không thay đổi là bao. Đối với di tích Phật giáo, do có tính chặt chẽ về giáo lý, nghi thức nên đồ thờ được quy định khá chuẩn mực và ổn định về ý nghĩa tượng trưng. Đối với các di tích như đình, đền, miếu.
về cơ bản cũng đã định hình trong lịch sử, ít nhất là vào thời Lê sơ, nhưng lại mang trong mình nhiều yếu tố dân gian đậm chất nông nghiệp nên đồ thờ của chúng thường khó phân định chính xác là nó thuộc không gian thờ cúng nào. Chính vì vậy, có thể bắt gặp rất nhiều đồ thờ giống nhau ở các di tích đình, đền, miếu. Bên cạnh các đồ thờ được đặt trên nhang án như: bát hương, cây đèn, lọ hoa,. còn có các đồ thờ ngoài hệ thống nhang án như linh vật (long, lân, quy, phượng), bát bửu, chấp kích, chiêng, trống.
được bài trí theo một quy chuẩn nhất định. Theo cách bài trí phổ biến trên mặt phẳng, đây là quan hệ về chiều sâu (từ ngoài vào trong, từ nhỏ tới lớn, từ thấp tới cao, từ sáng vào tối) tạo nên một trật tự về không gian trong kiến trúc.