Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Khai thác các giá trị của Thăng Long Tứ Trấn phục vụ phát triển du lịch tôn giáo tín ngưỡng" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Dung, chuyên ngành Văn hóa Du lịch thuộc Khoa Du lịch - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng vào năm 2015, dưới sự hướng dẫn của ThS. Đào Thị Thanh Mai.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả xuất phát từ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chính sách mở cửa kinh tế của Việt Nam, trong đó ngành du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Trong hệ thống các loại hình du lịch, du lịch tôn giáo tín ngưỡng giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn di sản văn hóa, phong tục tập quán và đáp ứng đời sống tinh thần của nhân dân. Thủ đô Hà Nội được xác định là một trung tâm du lịch lớn với tài nguyên nhân văn phong phú: tính đến năm 2014, Hà Nội dẫn đầu cả nước với 3.840 di tích trên tổng số gần 40.000 di tích của Việt Nam (trong đó có 1.164 di tích quốc gia trên tổng số gần 3.500 di tích cấp quốc gia), cùng hệ thống cơ sở lưu trú gồm 511 cơ sở với hơn 12.700 phòng (gồm 9 khách sạn 5 sao, 6 khách sạn 4 sao và 19 khách sạn 3 sao).
Trong hệ thống di tích tâm linh tại Hà Nội, cụm di tích "Thăng Long Tứ Trấn" trấn giữ bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc của kinh thành Thăng Long xưa mang giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng sâu sắc. Tuy nhiên, thực trạng quản lý, bảo tồn và khai thác giá trị du lịch tại cụm di tích này còn bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung chính:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tôn giáo, tín ngưỡng và loại hình du lịch tôn giáo tín ngưỡng.
- Khảo sát, đánh giá các giá trị lịch sử, kiến trúc, văn hóa và hiện trạng khai thác du lịch tại 4 ngôi đền thuộc Thăng Long Tứ Trấn.
- Đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và khai thác bền vững cụm di tích phục vụ phát triển du lịch.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về loại hình du lịch tôn giáo tín ngưỡng; hiện trạng và giải pháp phát triển du lịch tôn giáo tín ngưỡng tại Thăng Long Tứ Trấn.
- Phạm vi không gian: Cụm 4 di tích thuộc nội thành Hà Nội, bao gồm: đền Bạch Mã (quận Hoàn Kiếm), đền Voi Phục (quận Ba Đình), đền Kim Liên (quận Đống Đa) và đền Quán Thánh (quận Ba Đình). Khóa luận tập trung nghiên cứu Thăng Long Tứ Trấn theo nghĩa hẹp là 4 ngôi đền thiêng, không đi sâu vào nghĩa rộng là 4 phiên trấn (Kinh Bắc, Sơn Nam, Hải Dương, Sơn Tây).
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thu thập tài liệu và khảo sát thực địa trong khoảng thời gian từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc phân tích các khái niệm học thuật và chỉ tiêu xã hội học về tôn giáo và du lịch văn hóa tâm linh:
- Khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng: Phân tích nguồn gốc thuật ngữ religion (gốc Latinh religio), bản chất nhị phân giữa "thiêng liêng" và "trần tục", phân biệt tôn giáo (có hệ thống giáo lý kinh điển, thần điện, tổ chức giáo hội và nghi lễ chặt chẽ) với tín ngưỡng (mang tính dân gian bản địa, gắn với truyền thuyết, thần tích, chưa có hệ thống giáo lý thành văn cố định).
- Khái niệm và đặc điểm du lịch tôn giáo tín ngưỡng: Xác định đây là một phân nhánh của du lịch văn hóa, kết hợp giữa nhu cầu tham quan, giải trí với nhu cầu tâm linh, chiêm bái, cân bằng đời sống nội tâm và củng cố đức tin. Ở Việt Nam, loại hình này gắn chặt với Phật giáo, đạo lý uống nước nhớ nguồn, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Thành hoàng làng, thờ Mẫu và các danh nhân có công với đất nước.
- Khung văn bản pháp lý: Luật Di sản văn hóa và các quy định quản lý chuyên ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Tác giả sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Khai thác các công trình nghiên cứu lịch sử, kiến trúc cổ, giáo trình chuyên ngành du lịch, các văn bia Hán Nôm và báo cáo từ Ban quản lý di tích.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp: Phân tích các chỉ số phát triển du lịch Hà Nội, lưu lượng khách tham quan, nguồn thu công đức và thực trạng cơ cấu tổ chức quản lý.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Trực tiếp điền dã, khảo sát hiện trạng kiến trúc, cảnh quan, hoạt động đón tiếp khách và công tác tổ chức lễ hội tại cả 4 điểm di tích đền Bạch Mã, đền Voi Phục, đền Kim Liên và đền Quán Thánh.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm:
- Dữ liệu thứ cấp: Số liệu thống kê du lịch Hà Nội năm 2013-2014 từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội; kết quả điều tra xã hội học về thực hành tôn giáo tín ngưỡng của ThS. Lê Ngọc Lân (Viện Gia đình và Giới) với mẫu khảo sát 1.211 người; các tư liệu lịch sử của Nguyễn Khắc Thuần, Vũ Tam Lang, văn bia lịch sử tại di tích.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa trực tiếp của tác giả tại 4 ngôi đền trong giai đoạn tháng 4 - tháng 6/2015.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lý luận về du lịch tôn giáo tín ngưỡng
Chương 1 tập trung phân định các khái niệm học thuật, điều kiện hình thành và vai trò của du lịch tôn giáo tín ngưỡng trong xã hội hiện đại. Tác giả chỉ ra rằng du lịch tôn giáo tín ngưỡng xuất phát từ nhu cầu giải tỏa áp lực tâm lý trong đời sống công nghiệp, tìm kiếm sự an yên và tri ân nguồn cội.
Chương này dẫn chứng số liệu điều tra xã hội học của ThS. Lê Ngọc Lân (Viện Gia đình và Giới) trên mẫu $n = 1.211$ người nhằm minh chứng cho nhu cầu thực hành tín ngưỡng trong đời sống:
- Hoạt động đi lễ chùa: 48,1% người tham gia vào các dịp lễ chính (Tết, rằm tháng Giêng, tháng Bảy, tháng Tám, tháng Chạp); 20,9% đi vào ngày rằm, mùng một hàng tháng; 7,3% đi kết hợp công tác, du lịch; 23,4% không đi lễ chùa. Tỷ lệ người đặt tiền công đức, giọt dầu khi đi lễ chiếm 97,5%.
- Hoạt động thờ cúng tại gia trong 12 tháng: 83,2% người thực hiện 1-2 lần/tháng; 4,1% cúng 1-2 lần/năm; 2,6% cúng vài lần/năm; 3,7% không thực hiện.
- Đối tượng thờ phụng tại gia đình Hà Nội: 94% hộ thờ cúng tổ tiên; 46,1% thờ Ông Địa; 10,9% thờ Thần Tài; 8,8% thờ Phật. Có 70,4% người được hỏi khẳng định việc hành lễ, thờ cúng tại gia là phong tục tốt cần giữ gìn; 48,6% coi đây là dịp tỏ lòng thành kính với tổ tiên; 6,8% coi là phương thức giáo dục con cái.
Chương 2. Hiện trạng khai thác các giá trị của Thăng Long Tứ Trấn (Hà Nội) phục vụ phát triển du lịch tôn giáo tín ngưỡng
Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích chi tiết nguồn gốc lịch sử, giá trị kiến trúc mỹ thuật, công tác quản lý và hiện trạng khai thác du lịch tại 4 ngôi đền.
| Tiêu chí |
Đền Bạch Mã (Trấn Đông) |
Đền Voi Phục (Trấn Tây) |
Đền Kim Liên (Trấn Nam) |
Đền Quán Thánh (Trấn Bắc) |
| Vị trí hiện nay |
76 Hàng Buồm, Q. Hoàn Kiếm |
Phường Ngọc Khánh, Q. Ba Đình |
Phường Phương Liên, Q. Đống Đa |
Đường Thanh Niên / Quán Thánh, Q. Ba Đình |
| Thần chủ thờ phụng |
Thần Long Đỗ (Thành hoàng Thăng Long) |
Hoàng tử Linh Lang (Linh Lang Đại Vương) |
Thần Cao Sơn Đại Vương |
Huyền Thiên Trấn Vũ |
| Niên đại khởi dựng |
Thế kỷ IX (thời Cao Biền / Lý Thái Tổ) |
Năm 1065 (thời Lý Thánh Tông) |
Thế kỷ XVII (thời Lê Tương Dực lập năm 1509) |
Khởi dựng thời Lý (1010-1012) |
| Xếp hạng di tích |
Di tích quốc gia (1986) |
Di tích quốc gia (28/4/1962) |
Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia |
Di tích quốc gia đợt đầu (1962) |
| Đặc trưng kiến trúc - hiện vật |
Kết cấu "giá chiêng chồng rường con nhị", hệ củng 3 phương, vòm vỏ cua; 15 văn bia cổ; bài thơ của Trần Quang Khải |
Mặt bằng chữ "Công", gò Long Thủ; 9 cây muỗm cổ thụ 700 năm (cao 25-30m, chu vi 3-5m); chuông đồng năm 1994 (cao 93cm, đk 70cm) |
Bia đá "Cao Sơn đại vương thần từ bi minh" (Lê Tung soạn 1510, cao 2,34m, rộng 1,57m, dày 0,22m); 39 đạo sắc phong; 9 bậc gạch vồ thời Lê Trung Hưng |
Tượng đồng đen Huyền Thiên Trấn Vũ đúc năm 1677 (Vũ Công Chấn chủ trì; cao 3,96m, chu vi 8m, nặng 4 tấn, bệ 1,2m); khánh đồng năm 1794 |
| Thời gian lễ hội |
Ngày 12 - 13 tháng 2 âm lịch |
Ngày 9 - 10 tháng 2 âm lịch |
Ngày 15 - 16 tháng 3 âm lịch (chính hội ngày 16, có thi cắt tóc) |
Lễ hội truyền thống đầu xuân |
Khóa luận đánh giá thực trạng quản lý và hoạt động kinh doanh du lịch tại cụm di tích:
- Cơ chế quản lý: Chịu sự quản lý đa tầng nấc gồm Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, Ban Quản lý di tích Hà Nội, Phòng Văn hóa và Thông tin các quận (Đống Đa, Ba Đình, Hoàn Kiếm), Ban quản lý từng đền, UBND các phường và Công ty TNHH MTV Vườn thú Hà Nội (liên quan đến đền Voi Phục). Cơ chế này dẫn đến sự chồng chéo, khó phân định trách nhiệm cụ thể trong bảo tồn và khai thác.
- Doanh thu và nguồn thu: Nguồn thu chủ yếu đến từ tiền công đức, tiền giọt dầu (định kỳ 6 tháng kiểm kê một lần gửi vào ngân hàng phục vụ tu bổ). Riêng đền Quán Thánh có triển khai bán vé tham quan với mức thu 10.000 đồng/lượt.
| Điểm di tích |
Lượng khách ước tính |
Đặc điểm thị trường khách |
| Đền Bạch Mã |
900 - 1.000 lượt/tháng (cao điểm tháng 7 đến tháng 3 âm lịch đạt ~2.000 lượt/tháng) |
Nhiều khách quốc tế dạo bộ phố cổ, khách nội địa đi lễ đầu năm |
| Đền Quán Thánh |
Khoảng 20.000 lượt/năm (lượng khách đông nhất trong Tứ Trấn) |
Đón lượng lớn khách quốc tế và nội địa nhờ vị trí gần Hồ Tây và Lăng Bác |
| Đền Voi Phục |
10.000 - 12.000 lượt/năm |
Khách nội địa trẩy hội, khách tham quan công viên và học sinh, sinh viên |
| Đền Kim Liên |
Khoảng 10.000 lượt/năm |
Chủ yếu là nhân dân địa phương đi lễ, lượng khách quốc tế còn thấp |
Chương 3. Một số giải pháp và kiến nghị
Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn và phát triển cụm di tích Thăng Long Tứ Trấn gồm 7 nhóm:
- Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ cảnh quan: Giải tỏa các điểm lấn chiếm, quy hoạch không gian quanh di tích, chống xuống cấp và ô nhiễm môi trường.
- Tuyên truyền, quảng bá: Xuất bản ấn phẩm, tờ rơi đa ngôn ngữ, xây dựng website thông tin chuyên đề về Thăng Long Tứ Trấn.
- Tuyên truyền, giáo dục ý thức cộng đồng: Nâng cao nhận thức bảo vệ di sản cho người dân địa phương và du khách, hạn chế đốt vàng mã, mê tín dị đoan.
- Áp dụng khoa học công nghệ: Ứng dụng kỹ thuật số trong lưu trữ tư liệu văn bia, hiện vật và công tác trùng tu di tích bằng vật liệu chuẩn quy chuẩn.
- Phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ thuyết minh viên, ban quản lý di tích về ngoại ngữ và văn hóa tín ngưỡng.
- Nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm du lịch: Xây dựng tour chuyên đề kết nối 4 ngôi đền, kết hợp biểu diễn nghệ thuật dân gian và dịch vụ lưu niệm đặc thù.
- Nâng cao sự sẵn sàng đón tiếp du khách: Hoàn thiện bãi đỗ xe, biển chỉ dẫn, nhà vệ sinh đạt chuẩn và khu vực dịch vụ văn minh.
Đồng thời, tác giả đưa ra các kiến nghị theo 3 cấp quản lý:
- Đối với cơ quan quản lý cấp Bộ (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch): Hoàn thiện hành lang pháp lý, thẩm định quy hoạch tu bổ đồng bộ cụm Tứ Trấn.
- Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội: Phối hợp với các công ty lữ hành xây dựng tuyến điểm du lịch chuyên đề Thăng Long Tứ Trấn trong tour Hà Nội city tour.
- Đối với Ban tổ chức và quản lý cụm di tích: Minh bạch tài chính công đức, phân công nhân sự trực thuyết minh, giữ gìn vệ sinh môi trường di tích.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể:
- Thống kê và hệ thống hóa toàn bộ các thông số kỹ thuật, hiện vật quý của Thăng Long Tứ Trấn: 15 văn bia tại đền Bạch Mã; pho tượng đồng Huyền Thiên Trấn Vũ đúc năm 1677 (nặng 4 tấn, cao 3,96m, chu vi 8m) tại đền Quán Thánh; văn bia năm 1510 của Lê Tung (cao 2,34m, rộng 1,57m, dày 0,22m) cùng 39 đạo sắc phong tại đền Kim Liên; quần thể 9 cây muỗm cổ thụ 700 năm tại đền Voi Phục.
- Lượng hóa quy mô đón khách tại từng điểm di tích (Quán Thánh: 20.000 lượt/năm; Voi Phục: 10.000 - 12.000 lượt/năm; Kim Liên: 10.000 lượt/năm; Bạch Mã: 900 - 2.000 lượt/tháng) và chỉ rõ đền Quán Thánh là điểm duy nhất bán vé (10.000 đồng/lượt).
- Chỉ ra bất cập lớn trong cơ chế quản lý đa đầu mối dẫn đến sự phân tán trách nhiệm giữa các quận Đống Đa, Ba Đình, Hoàn Kiếm, Sở VHTTDL và đơn vị quản lý công viên.
- Đề xuất mô hình liên kết tuyến điểm du lịch chuyên biệt kết nối trọn vẹn 4 trấn Thăng Long thay vì để các di tích hoạt động riêng lẻ như thực trạng lúc bấy giờ.
Về đóng góp học thuật và thực tiễn, khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa Du lịch cấp đại học tập hợp tương đối đồng bộ dữ liệu lịch sử - kiến trúc của cụm Tứ Trấn dưới góc nhìn khai thác kinh tế du lịch, đặt trong bối cảnh du lịch văn hóa tâm linh của Hà Nội sau Đại lễ 1000 năm Thăng Long.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Thời gian nghiên cứu ngắn (tháng 4/2015 đến tháng 6/2015); dữ liệu về lượt khách và doanh thu tại các đền chủ yếu mang tính ước tính và khai thác qua báo cáo của Ban quản lý, chưa có dữ liệu điều tra bằng bảng hỏi định lượng riêng của tác giả đối với du khách tại điểm đến; chưa phân tích sâu khía cạnh chi tiêu và chuỗi cung ứng dịch vụ phụ trợ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng điều tra xã hội học định lượng về mức độ hài lòng và hành vi chi tiêu của du khách quốc tế khi tham quan Thăng Long Tứ Trấn; nghiên cứu giải pháp liên kết tour du lịch đêm hoặc kết hợp Thăng Long Tứ Trấn với các di tích đạo quán, đình làng lân cận trong khu vực nội đô Hà Nội.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Du lịch, Văn hóa học, Việt Nam học: Tham khảo phương pháp tiếp cận đánh giá tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh và kỹ năng tổng hợp tư liệu Hán Nôm, thần tích, kiến trúc di tích.
- Đơn vị lữ hành và hướng dẫn viên du lịch: Khai thác hệ thống dữ liệu thuyết minh chi tiết về lịch sử, sự tích, quy cách kiến trúc và hiện vật của 4 ngôi đền Thăng Long Tứ Trấn để xây dựng bài thuyết minh tuyến điểm Hà Nội.
- Cơ quan quản lý văn hóa - du lịch địa phương: Tham khảo các kiến nghị về phân định trách nhiệm quản lý và tổ chức khai thác dịch vụ tại các di tích tín ngưỡng đô thị.
Câu hỏi thường gặp
1. Thăng Long Tứ Trấn gồm những ngôi đền nào và thờ phụng những vị thần nào?
Thăng Long Tứ Trấn gồm 4 ngôi đền:
- Trấn Đông: Đền Bạch Mã (số 76 Hàng Buồm, Hoàn Kiếm), thờ thần Long Đỗ - Thành hoàng bảo hộ kinh thành Thăng Long.
- Trấn Tây: Đền Voi Phục (Thủ Lệ, Ngọc Khánh, Ba Đình), thờ hoàng tử Linh Lang (Linh Lang Đại Vương).
- Trấn Nam: Đền Kim Liên (Phương Liên, Đống Đa), thờ Cao Sơn Đại Vương.
- Trấn Bắc: Đền Quán Thánh (đường Thanh Niên, Ba Đình), thờ Huyền Thiên Trấn Vũ.
2. Pho tượng thần Huyền Thiên Trấn Vũ tại đền Quán Thánh có quy cách và niên đại ra sao?
Pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ được đúc bằng đồng đen vào năm Đinh Tỵ, niên hiệu Vĩnh Trị thứ 2 (1677) đời vua Lê Hy Tông, do nghệ nhân Vũ Công Chấn trực tiếp chỉ huy đúc. Tượng có chiều cao 3,96m, chu vi 8m, trọng lượng 4 tấn, tọa lạc trên bệ đá cẩm thạch cao 1,2m.
3. Hiện vật quý giá nhất được lưu giữ tại đền Kim Liên là gì?
Di vật quan trọng nhất tại đền Kim Liên là tấm bia đá "Cao Sơn đại vương thần từ bi minh" do sử thần Lê Tung soạn năm 1510 (đời vua Lê Tương Dực), có kích thước cao 2,34m, rộng 1,57m, dày 0,22m, cùng hệ thống 39 đạo sắc phong (gồm 26 đạo thời Lê Trung Hưng và 13 đạo thời Nguyễn, sớm nhất là sắc phong năm Vĩnh Tộ thứ 2 - 1620).
4. Khảo sát của ThS. Lê Ngọc Lân được trích dẫn trong khóa luận đưa ra những số liệu nào về thực hành tín ngưỡng của người dân?
Khảo sát trên 1.211 người cho thấy: 48,1% người đi lễ chùa vào các dịp lễ chính trong năm; 97,5% người đi chùa có thực hiện đặt lễ công đức, giọt dầu; 83,2% người duy trì thói quen thờ cúng tại gia 1-2 lần/tháng; trong các đối tượng thờ cúng tại gia đình ở Hà Nội, 94% hộ thờ tổ tiên, 46,1% thờ Ông Địa, 10,9% thờ Thần Tài và 8,8% thờ Phật.
5. Điểm di tích nào trong Thăng Long Tứ Trấn đón lượng khách lớn nhất và có áp dụng thu phí tham quan?
Đền Quán Thánh là điểm thu hút đông khách nhất trong Tứ Trấn với khoảng 20.000 lượt khách/năm (bao gồm cả khách quốc tế và nội địa) và là ngôi đền duy nhất trong 4 trấn thực hiện thu phí vé vào cửa ở mức 10.000 đồng/lượt.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Dung đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch tôn giáo tín ngưỡng và phân tích chi tiết giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc của cụm di tích Thăng Long Tứ Trấn. Công trình phản ánh thực trạng quản lý đa đầu mối, cơ sở vật chất và lượng khách tham quan tại 4 ngôi đền trong giai đoạn năm 2014-2015. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp bảo tồn di sản gắn với phát triển sản phẩm du lịch đặc thù cho thủ đô Hà Nội.