phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung khóa luận bao gồm 3 chƣơng : Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về du lịch tôn giáo tín ngƣỡng Chƣơng 2. Hiện trạng khai thác các giá trị của Thăng Long Tứ Trấn (Hà Nội) phục vụ phát triển du lịch tôn giáo tín ngƣỡng. Một số giải pháp và kiến nghị 3 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH TÔN GIÁO TÍN NGƢỠNG 1. Khái niệm, đặc điểm và các loại hình du lịch tôn giáo tín ngƣỡng.1 Khái niệm về tôn giáo tín ngƣỡng và du lịch tôn giáo tín ngƣỡng a. Khái quát chung về tôn giáo tín ngƣỡng Tôn giáo hay đạo (tiếng Anh: religion - xuất phát từ tiếng Latinh religio mang nghĩa "tôn trọng điều linh thiêng, tôn kính thần linh" hay "bổn phận, sự gắn kết giữa con ngƣời với thần linh") - xét trên một cách thức nào đó, đó là một phƣơng cách để giúp con ngƣời sống và tồn tại với sức mạnh siêu nhiên từ đó làm lợi ích cho vạn vật và con ngƣời), đôi khi đồng nghĩa với tín ngƣỡng, thƣờng đƣợc định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng nhƣ những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó. Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần: thiêng liêng và trần tục.
Trần tục là những gì bình thƣờng trong cuộc sống con ngƣời, còn thiêng liêng là cái siêu nhiên, thần thánh. Đứng trƣớc sự thiêng liêng, con ngƣời sử dụng lễ nghi để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái và đó chính là cơ sở của tôn giáo. Trong nghĩa tổng quát nhất, có quan điểm đã định nghĩa tôn giáo là kết quả của tất cả các câu trả lời để giải thích nguồn gốc, quan hệ giữa nhân loại và vũ trụ; những câu hỏi về mục đích, ý nghĩa cuối cùng của sự tồn tại. Chính vì thế những tƣ tƣởng tôn giáo thƣờng mang tính triết học.
Số tôn giáo đƣợc hình thành từ xƣa đến nay đƣợc xem là vô số, có nhiều hình thức trong những nền văn hóa và quan điểm cá nhân khác nhau. Tuy thế, ngày nay trên thế giới chỉ có một số tôn giáo lớn đƣợc nhiều ngƣời theo hơn những tôn giáo khác. Đôi khi từ "tôn giáo" cũng có thể đƣợc dùng để chỉ đến những cái gọi đúng hơn là "tổ chức tôn giáo" - một tổ chức gồm nhiều cá nhân ủng hộ việc thờ phụng, thƣờng có tƣ cách pháp nhân. "Tôn giáo" hay đƣợc nhận thức là "tôn giáo" có thể không đồng nhất với những định nghĩa trên đây trong niềm tin tối hậu nơi mỗi tôn giáo (tức là khi một tín hữu theo một tôn giáo nào đó, họ không có cái gọi là ý niệm "tôn giáo" nơi tôn giáo của họ, tôn giáo chỉ là một cách suy 4 niệm của những ngƣời không có tôn giáo bao phủ lấy thực tại nơi những ngƣời có tôn giáo).
Có nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo: Một cách định nghĩa, đôi khi đƣợc gọi là "lối theo chức năng", định nghĩa tôn giáo là bất cứ hệ thống tín ngƣỡng và phong tục nào có chức năng đề cập đến những câu hỏi căn bản về đặc tính loài ngƣời, đạo đức, sự chết và sự tồn tại của thần thánh (nếu có). Định nghĩa rộng ngày bao gồm mọi hệ thống tín ngƣỡng, kể cả những hệ thống không tin tƣởng vào thần thánh nào, những hệ thống đơn thần, những hệ thống đa thần và những hệ thống không đề cập đến vấn đề này vì không có chứng cớ. Cách định nghĩa thứ hai, đôi khi đƣợc gọi là "lối theo hình thể", định nghĩa tôn giáo là bất cứ hệ thống tín ngƣỡng nào xác nhận những điều không thể quan sát một cách khoa học đƣợc, và chỉ dựa vào chức trách hay kinh nghiệm với thần thánh. Nghĩa này hẹp hơn phân biệt "tôn giáo" với chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa nhân bản thế tục, thuyết vô thần, triết khách quan và thuyết bất khả tri, vì những hệ thống này không dựa vào chức trách hay kinh nghiệm nhƣng dựa vào cách hiểu theo khoa học.
Cách định nghĩa thứ ba, đôi khi đƣợc gọi là "lối theo chứng cớ vật chất", định nghĩa tôn giáo là những tín ngƣỡng về nhân quả mà Occam's Razor loại trừ vì chúng chấp nhận những nguyên nhân quá phức tạp để giải thích những chứng cớ vật chất. Theo nghĩa này, những hệ thống không phải là tôn giáo là những hệ thống không tin tƣởng vào những nguyên nhân phức tạp hơn cần thiết để giải thích những chứng cớ vật chất. Những ngƣời theo quan điểm này tự xƣng là "bất tôn giáo", nhƣng cũng có ngƣời tôn giáo nhìn nhận rằng "tín ngƣỡng" và "khoa học" là hai cách hoàn toàn khác nhau để đi đến chân lý. Quan điểm này bị bác bỏ bởi những ngƣời xem rằng những giải thích siêu hình là cần thiết để giải thích các hiện tƣợng tự nhiên một cách căn bản.
Cách định nghĩa thứ tƣ, đôi khi đƣợc gọi là "lối tổ chức", định nghĩa tôn giáo là các hội đoàn, tín ngƣỡng, tổ chức, phong tục, và luật đạo đức chính thức của tất cả các tôn giáo chính có tổ chức. Nghĩa này đặt "tôn giáo" vào một vị trí 5 trái ngƣợc với "tinh thần", cho nên không bao gồm những luận điệu của "tinh thần" về việc tiếp xúc, phục vụ, hay tôn thờ thần thánh. Tuy nhiên, trong nghĩa này tôn giáo và tinh thần không cần phải "đƣợc cái này mất cái kia": một ngƣời sùng đạo có thể có tinh thần hay không tinh thần, và một ngƣời có tinh thần có thể có hay không sùng đạo. Theo tƣơng tự, ta có thể xem "tôn giáo" nhƣ là than, củi, hay xăng, và "tinh thần" là ngọn lửa [8] Tôn giáo thể hiện đặc trƣng của một nền văn hóa, thể hiện bề mặt và tâm linh, phong tục tập quán của con ngƣời trong xã hội.
Tôn giáo gắn liền với chính trị xã hội. Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của ngƣời sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình. Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con ngƣời trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hƣớng con ngƣời đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tƣơng lai cùng chung sống. Nó gieo niềm hi vọng vào con ngƣời, dù có phần ảo tƣởng để mà yên tâm, tin tƣởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải.
Nhƣ vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lƣợng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, đƣợc chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hƣ ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng nhƣ ở thế giới bên kia. Niềm tin đó đƣợc biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, đƣợc vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau. Tín ngƣỡng mang tính dân tộc, dân gian. tín ngƣỡng có tổ chức không chặt chẽ nhƣ tôn giáo.
Khi nói đến tín ngƣỡng ngƣời ta thƣờng nói đến tín ngƣỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn 6 giáo thì thƣờng là không mang tính dân gian. Tín ngƣỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức nhƣ tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngƣỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo. Cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngƣỡng là niềm tin, sự ngƣỡng vọng của con ngƣời vào những cái "siêu nhiên" hay gọi là "cái thiêng" cái đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu mà con ngƣời có thể sờ mó, quan sát đƣợc.
Niềm tin vào "cái thiêng" thuộc về bản chất con ngƣời, nó ra đời và tồn tại, phát triển cùng với con ngƣời và loài ngƣời, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con ngƣời, cũng giống nhƣ đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tƣ tƣởng, đời sống tình cảm. Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dân tộc, địa phƣơng, quốc gia mà niềm tin vào "cái thiêng" thể hiện ra các hình thức tôn giáo, tín ngƣỡng cụ thể khác nhau. Chẳng hạn nhƣ niềm tin vào Đức Chúa Trời, của Kitô giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo, niềm tin vào Thánh, Thần của tín ngƣỡng dân gian, tín ngƣỡng Thành Hoàng, Đạo Mẫu. Các hình thức tôn giáo tín ngƣỡng này dù rộng hẹp khác nhau, dù phổ quát toàn thế giới hay là đặc thù cho mỗi dân tộc.
thì cũng đều là một thực thể biểu hiện niềm tin vào cái thiêng chung của con ngƣời. Hiện tại, có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm tôn giáo và tín ngƣỡng. Theo quan điểm truyền thống, ngƣời ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín ngƣỡng, thƣờng coi tín ngƣỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo. Loại quan điểm thứ hai là đồng nhất giữa tôn giáo và tín ngƣỡng và đều gọi chung là tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phƣơng, tôn giáo thế giới (phổ quát).
Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngƣỡng thể hiện ở một số điểm nhƣ: Tôn giáo có hệ thống giáo lý, kinh điển. đƣợc truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh đƣờng, học viện. có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng nhƣ nhà thờ, chùa, thánh đƣờng., nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con ngƣời. Còn tín ngƣỡng thì chƣa có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoại, thần 7 tích, truyền thuyết.
Tín ngƣỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian. Trong tín ngƣỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con ngƣời, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chƣa thành quy ƣớc chặt chẽ. Khái niệm du lịch tôn giáo tín ngƣỡng Du lịch tôn giáo tín ngƣỡng đã có từ lâu và thịnh hành trên thế giới từ khi nhân loại bƣớc sang văn minh hậu công nghiệp.