CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG Để có thể nắm bắt được toàn bộ chương trình học môn quản trị doanh nghiệp trước tiên cần phải làm rõ và sinh viên phải nắm được, hiểu đúng về các khái niệm có liên quan, như: Kinh doanh, doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp; góp vốn v.v…Khái niệm có thể được nhiều tác giả, nhiều quan điểm, quan niệm về cùng một sự vật hiện tượng, những cơ bản người học cần phải hiểu được bản chất của nó.1 Kinh doanh Để duy trì cuộc sống của mình, nhu cầu con người về sử dụng các sản phẩm hoặc dịch vụ là vô cùng đa dạng và thường xuyên thay đổi. Muốn đáp ứng các nhu cầu đó cần phải tiến hành sản xuất hoặc tạo ra dịch vụ. Nếu những người sản xuất các sản phẩm hoặc tạo ra các dịch vụ cung cấp cho thị trường nhằm mục đích kiếm lời thì người ta gọi là hoạt động kinh doanh.
Khái niệm về kinh doanh được nhiều tác giả đưa ra và có nhiều cách hiểu khác nhau, tùy theo góc độ, quan điểm của từng người, như: - Koontz, Donell, Weihrich cho rằng: Kinh doanh là việc dùng công sức và tiền để tổ chức các hoạt động nhằm mục đích kiếm lời trên thị trường. - Trần Hoàng Kim và các tác giả cho rằng: Kinh doanh là việc bỏ ra một số vốn ban đầu vào hoạt động trên thị trường để thu lại một lượng vốn lớn hơn sau một khoảng thời gian nào đấy. - Trong Luật doanh nghiệp (luật số: 59/2020/QH14 ban hành 26 tháng 07 năm 2020) của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã định nghĩa về kinh doanh theo chúng tôi đây là khái niệm đầy đủ và rõ ràng nhất, khái niệm như sau: 1 Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Như vậy, có thể thấy bản chất của kinh doanh là: - Kinh doanh phải gắn với thị trường, thị trường và kinh doanh đi liền với nhau như hình với bóng.
Kinh doanh phải diễn ra trên thị trường và phải tuân theo các quy luật và thông lệ quy định của thị trường. - Kinh doanh phải do một chủ cụ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể có thể là tư nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp v.v…mà đặc trưng chủ yếu của các chủ thể là: Phải có quyền sở hữu nhất định về các yếu tố cần có của quá trình kinh doanh (vốn, tài sản, sức doanh nghiệp v.v…); Phải được tự do và chủ động trong kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật và tự chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng của quá trình kinh doanh tương ứng với quyền sở hữu. - Mục đích chủ yếu của kinh doanh: Như đã đề cập ở khái niệm trên, hoạt động kinh doanh thực chất là tiến hành các khâu của quá trình sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ ra thị trường và nhằm mục tiêu sinh lời. Như vậy, mục đích của kinh doanh phải là sinh lợi hợp pháp được Nhà nước bảo hộ và thị trường chấp nhận công khai.
Nhìn chung, hoạt động kinh doanh được tiến hành nhằm một số mục đích sau: - Nhằm tạo ra sản phẩm/DV thoả mãn nhu cầu của thị trường và tạo ra giá trị gia tăng, thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển; - Hoạt động kinh doanh chính là mắt xích của quá trình tái sản xuất mở rộng, liên kết chuỗi; - Hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội, đóng góp ngân sách, tạo việc làm ,…, góp phần giải quyết các vấn đề của xã hội; - Hoạt động kinh doanh đúng đắn có tác dụng định hướng tiêu dùng, tạo ra văn minh tiêu dùng. Khái niệm về quản trị và quản trị doanh nghiệp 2 1. Khái niệm về quản trị Khái niệm về quản trị được nhiều tác giả đề cập, tiêu biểu như: - Mary Parker Follet: Quản trị là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác. - Robert Albanese: Quản trị là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn lực, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức.
- Kreitner: Quản trị là quá trình làm việc với người khác và thông qua người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn thay đổi. Trọng tâm của tiến trình này là kết quả và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực giới hạn. - Harold Lootz & Cyril O’Donnell: Quản trị là việc thiết lập và duy trì một môi trường nơi mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả, nhằm đạt được mục tiêu của nhóm. - Quản trị là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị để phối hợp hoạt động của các cá nhân và tập thể nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra của tổ chức.
Từ những khái niệm trên, nhìn chung quản trị phải bao gồm ba yếu tố (điều kiện): Thứ nhất: Phải có chủ thể quản trị là tác nhân tạo ra tác động quản trị và một đối tượng quản trị tiếp. Đối tượng bị quản trị phải tiếp nhận sự tác động đó. Tác động có thể chỉ một lần và cũng có thể nhiều lần. Thứ hai: Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng.
Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. Sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị được thực hiện trong một môi trường luôn biến động. Về thuật ngữ chủ thể quản trị, có thể hiểu chủ thể quản trị bao gồm một người hoặc nhiều người, còn đối tượng quản trị là một tổ chức, một tập thể con người, hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị đất đai, thông tin. 3 Thứ ba: Phải có một nguồn lực để chủ thể quản trị khai thác và vận dụng trong quá trình quản trị.
Quản trị doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu khách quan. Các hoạt động tập thể (lao động, sản xuất kinh doanh…) đều đòi hỏi một sự phối hợp nhịp nhàng, sự điều khiển, sự hướng dẫn cụ thể đối với từng cá nhân để hoàn thành công việc chung. Hoạt động quản trị ra đời gắn liền với sự xuất hiện của hiệp tác và phân công lao động. Theo Ngô Kim Thanh: Quản trị doanh nghiệp là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của người chủ doanh nghiệp làm tập thể những người lao động trong doanh nghiệp sử dụng một cách tốt nhất những tiềm năng và cơ hội để tiến hành hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội.
Quản trị doanh nghiệp bao gồm: - Chủ thể quản trị: Chủ doanh nghiệp và đội ngũ quản trị viên trong bộ máy quản trị doanh nghiệp; - Đối tượng quản trị: Nhân viên, người lao động với phương hướng tác động quản trị thông qua các chức năng về lĩnh vực quản trị, hệ thống thông tin và quyết định của quản trị. - Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp: Hoạt động quản trị nhằm đảm bảo mục tiêu lợi ích của doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển lâu dài, cạnh tranh trên thị trường, bảo toàn và phát triển vốn để đáp ứng được mong muốn của chủ sở hữu và mọi thành viên trong doanh nghiệp. Quản trị doanh nghiệp chính là nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được cao hơn, tốt hơn. Vai trò của quản trị doanh nghiệp - Tạo ra một cấu trúc, tổ chức hợp lý: Thiếu một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ gây ra nhiều khó khăn phức tạp cho công tác quản trị doanh nghiệp.
4 - Sử dụng triệt để, nâng cao hiệu quả lao động trong quá trình thực hiện mục tiêu; - Kết hợp nỗ lực của các cá nhân trong từng tổ chức để sản sinh ra sự cộng hưởng; - Tạo ra tính liên tục trong doanh nghiệp, không bị gián đoạn khi gặp sự cố và đảm bảo cho tổ chức doanh nghiệp luôn đạt mục đích; - Duy trì và phát triển tổ chức. Hiện nay, chắc không ai phủ nhận vai trò quan trọng và to lớn của quản trị trong việc bảo đảm sự tồn tại và hoạt động bình thường trên thị trường kinh doanh. Đối với sự phát triển của từng đơn vị hay cộng đồng và các doanh nghiệp, quản trị càng có vai trò quan trọng. Chính vì vậy nắm vững được những yếu tố cốt lõi, kiến thức về quản trị doanh nghiệp sẽ giúp bạn thực hiện công việc này một cách dễ dàng.
Khái niệm về doanh nghiệp Khái niệm về doanh nghiệp cũng có nhiều cách hiểu khác nhau, như: - Trịnh Văn Thanh cho rằng: Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh, nhằm mục đích sinh lợi. - Viện thống kê và nghiên cứu kinh tế Pháp (INSEE) cho rằng: Doanh nghiệp là một tổ chức (tác nhân) kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất ra của cải vật chất hoặc các dịch vụ dùng để bán. - Trong Luật doanh nghiệp (luật số: 59/2020/QH14) của Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đây là khái niệm rõ ràng và đầy đủ nhất, cụ thể như sau: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. * Đặc điểm chung của doanh nghiệp - Doanh nghiệp có chức năng sản xuất và kinh doanh, hai chức năng này liên hệ hết sức chặt chẽ với nhau và tạo thành chu trình khép kín trong hoạt động của doanh nghiệp.
5 - Doanh nghiệp có mục tiêu kinh tế cơ bản là lợi nhuận tối đa muốn đạt được điều đó doanh nghiệp phải tìm cách thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng ngày càng tốt hơn. - Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, chấp nhận cạnh tranh tồn tại và phát triển. Muốn làm được điều đó phải chú ý đến chiến lược kinh doanh thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh trong từng giai đoạn. - Doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh có quy mô đủ lớn (vượt quy mô của các cá thể, các hộ gia đình, các hợp tác xã v.) như các xí nghiệp, nông trường, lâm trường, công ty, v.v…Thuật ngữ doanh nghiệp có tính quy ước để phân biệt.