đặt vấn đề, cách mô 17 tả tâm lý các vai truyện mà nhất là lời văn dễ dãi linh động, ba tác giả này như vạch ra một đường rạch lớn phân đôi hai thế hệ trước (13 - 32) và thế hệ sau (32 - 45)” [25, tr. Khái Hưng đã góp phần làm phong phú thể loại tiểu thuyết. Theo Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, Khái Hưng có các loại tiểu thuyết: lãng mạn, tâm lý, phong tục. Theo Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học, tiểu thuyết của Khái Hưng có các ý hướng: ý hướng thơ, ý hướng tranh đấu, ý hướng lịch sử, ý hướng tâm lý.
Có người lại cho rằng Khái Hưng viết các loại tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết tâm lý. Qua các ý kiến đó ta thấy, với Khái Hưng tiểu thuyết đã có nhiều hình thức: tiểu thuyết lý tưởng, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý… Khái Hưng đã viết mười hai trên tổng số hai mươi cuốn tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn (ngoài ra ông còn có hai cuốn viết chung với Nhất Linh). Trong đó có nhiều cuốn được đánh giá cao. Tiểu thuyết luận đề 1.
Khái niệm tiểu thuyết và tiểu thuyết luận đề Khái niệm tiểu thuyết Tiểu thuyết ra đời sớm ở châu Âu, vào thời kì cá nhân con người không còn cảm thấy lợi ích và nguyện vọng của mình gắn liền với cộng đồng xã hội cổ đại. Nhưng phải đến thế kỉ XIX với sự xuất hiện của những cây bút “đại thụ” như Xtăng đan, Banzăc, L. Tônxtôi, Đôxtôiepxki…thể loại tiểu thuyết mới đạt tới sự hoàn thiện. Nhà nghiên cứu M.
Bakhtin cho rằng: tiểu thuyết là loại văn chương duy nhất luôn biến đổi bởi nó phản ánh được một cách sâu sắc, cơ bản và nhạy bén hơn sự chuyển biến của bản thân hiện thưc. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [13, tr. Đây là một trong những thể loại quan trọng bậc nhất của văn chương hiện đại.
Nó 18 “không đơn thuần chỉ là một thể loại trong nhiều thể loại. Đó là thể loại duy nhất nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới và vì thế mà thân thuộc sâu sắc với thời đại ấy” [27, tr. Ở Việt Nam tiểu thuyết phát triển muộn. Tận đầu thế kỉ XVIII với sự xuất hiện của Nam Triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí, nước ta mới có tác phẩm có quy mô tiểu thuyết.
Tuy nhiên những tác phẩm này vẫn thuộc loai hình cổ điển phương Đông. Phải sang đầu thế kỉ XX, khi xã hội Việt Nam chuyển từ phong kiến sang thực dân nửa phong kiến thì tiểu thuyết của nước nhà mới mang tinh thần của thời đại mới. Qua sự giao lưu và tiếp nhận những tinh hoa của văn học phương Tây, tiểu thuyết Việt Nam mới thực sự trở thành tiểu thuyết hiện đại. Tiểu thuyết luận đề Tiểu thuyết luận đề được hiểu là tiểu thuyết mà cốt truyện và số phận nhân vật được dùng để chứng minh cho một luận đề (vấn đề triết học, đạo đức, xã hội) có trước.
Tiểu thuyết luận đề khác với luận đề của tiểu thuyết. Luận đề của tiểu thuyết chính là chủ đề, là vấn đề “triết lý xã hội, đạo đức và các loại hình tư tưởng khác đặt ra trong tác phẩm” [2, tr. Chủ đề được hình thành từ hiện thực cuộc sống thông qua sự khái quát hóa của nhà văn, chủ đề toát ra từ ý nghĩa khách quan của tác phẩm. Trong tiểu thuyết luận đề, luận đề là cái có trước.
Cốt truyện và nhân vật được tác giả sử dụng nhằm làm sáng tỏ luận đề. Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ cho rằng: “Tiểu thuyết luận đề là tiếng để dịch thành ngữ Pháp Roman à thèse. Luận đề đây là chỉ cái chủ trương, cái quan niệm có hệ thống của một tác giả về một vấn đề trọng đại của tư tưởng và liên quan đến xã hội nhân sinh. Nhà văn viết ra một câu chuyện với chủ ý trình bày những nhân vật, dẫn dắt các tình tiết để đi đến một kết cục, tất cả nhằm bênh vực cái quan niệm riêng của mình…Người ta nhận ra tiểu thuyết luận đề ở chỗ, tác giả đã rõ rệt chủ ý 19 bênh vực một quan niệm, để chống lại một quan niệm khác và rõ rệt uốn nắn câu chuyện, khuôn đúc nhân vật, phục vụ cho chủ ý của mình” [30, tr.
Đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết luận đề là tính định hướng trong khai thác nhân vật và cốt truyện. Trong tiểu thuyết luận đề, độc giả dễ dàng nhận ra sự can thiệp của tác giả. Ở đó nhà văn luôn xây dựng hai tuyến nhân vật đối lập, có mâu thuẫn, xung đột gay gắt với nhau và nhân vật chính diện luôn là “phát ngôn viên” cho tư tưởng của chính tác giả. Nhân vật cũng thường được khai thác ở những khía cạnh có lợi cho luận đề.
Kết thúc của tiểu thuyết luận đề thường là kết thúc có hậu. Bởi vậy tiểu thuyết luận đề thường mang màu sắc đạo đức và duy lý. Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn và Khái Hưng Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn Đầu thế kỉ XX, tầng lớp trí thức Tây học ở nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ. Họ tiếp nhận và chiụ ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây hiện đại.
Vì thế ý thức cá nhân trong họ trỗi dậy mạnh mẽ, trong khi đó chế độ gia đình phong kiến vẫn đầy rẫy những tập tục lạc hậu. Cuộc đối đầu giữa hai phe cũ - mới ngày càng căng thẳng quyết liệt, khó có thể dung hòa. Trước tình hình trên của xã hôi, Tự lưc văn đoàn nhanh chóng cho ra đời nhiều tác phẩm có nội dung chống lễ giáo phong kiến, đòi giải phóng con người cá nhân. Những tác phẩm này ngay từ khi mới ra đời đã nhận được sự ủng hộ, yêu mến của đại đa số độc giả trẻ tuổi, những người đang khao khát sống cuộc đời tự do.
Mở đầu cho cuộc chiến chống lễ giáo phong kiến, giải phóng con người cá nhân là cuốn tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng. Ở tiểu thuyết này, tuy luận đề chống lễ giáo phong kiến chưa được đặt ra trực tiếp nhưng thông qua những hành động, suy nghĩ của các nhân vật, nhà văn gián tiếp phê phán những tập tục lạc hậu của chế độ đại gia đình. Nhà văn kín đáo lên án sự kìm hãm quyền được yêu, được tự do lựa chọn hạnh phúc lứa đôi. Bởi thế từ khi mới ra đời, tác phẩm nhận được sự chào đón nồng nhiệt của độc giả.
Bạn đọc nói chung và thanh niên nói riêng đã tích cực ủng hộ cho Tự lực văn đoàn. Đây chính là yếu tố thúc đẩy, cổ vũ nhóm tiếp tục sáng tác các tiểu thuyết có luận đề chống lễ giáo phong kiến. Các tiểu thuyết ra đời sau Hồn bướm mơ tiên như Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Lạnh lùng, Gia đình, Thoát ly, Thừa tự đã trực tiếp tấn công vào thành trì của lễ giáo phong kiến. Các tiểu thuyết này đã phê phán nền luân lí bảo thủ, phê phán những thứ mà phái cũ gọi là truyền thống, gia phong nền nếp.
Cụ thể đó là chế độ đa thê với quan niệm “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có môt chồng” trong các tiểu thuyết Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt; là mâu thuẫn muôn đời giữa mẹ chồng nàng dâu với quạn niệm nghiệt ngã “mất tiền mua mâm bà đâm cho thủng” trong Đoạn tuyệt; là chế độ hôn nhân gả bán và tư tưởng phải “môn đăng hộ đối” trong cả Đoạn tuyệt và Nửa chừng xuân; là nghĩa vụ tam tòng và bổn phận thủ tiết của người đàn bà theo quan niệm “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” trong tác phẩm Lạnh lùng. Trong các tiểu thuyết luận đề, Tự lực văn đoàn đã dụng công xây dựng các nhân vật lí tưởng nhằm làm sáng tỏ luận đề của mình và thể hiện tôn chỉ, mục đích hoạt động văn chương của nhóm. Theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì Tự lực văn đoàn là những cây bút “thấm nhuần văn hóa Pháp”. Các sáng tác của họ chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây mới mẻ.
Họ ca ngợi và cổ vũ cho cái mới, họ đi tiên phong trong công cuộc đổi mới tư duy nghệ thuật lúc bấy giờ. Nhanh chóng nắm bắt xung đột giữa mới và cũ trong xã hội, các nhà văn của Tự lực văn đoàn sử dụng văn chương như một thứ vũ khí chống lại những nền nếp, ý thức, tư tưởng đã lỗi thời. Bởi thế tiểu thuyết luận đề đã trở thành hình thức văn chương có hiệu quả, phù hợp với mục tiêu đấu tranh của văn đoàn Tự lực. Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn đi theo hai hướng: Thứ nhất là đấu tranh chống lễ giáo phong kiến và giải phóng con người cá nhân; thể hiện những khát vọng về cuộc sống tự do, được hưởng hạnh phúc, được tự do yêu đương: Trong các sáng tác của Tự lực văn đoàn, chúng ta thấy có cái tôi cá nhân mạnh mẽ, luôn khao khát được sống, được yêu, luôn muốn thoát ra khỏi sự ràng buộc của những hủ tục luật lệ khắt khe.
Bởi vậy, cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai phe cũ và mới đã diễn ra. Một bên là những thanh niên 21 trí thức đại diện cho những tư tưởng tiến bộ của thời đại. Một bên là những nhân vật đại diện cho nền luân lí truyền thống luôn khăng khăng giữ lấy quan điểm của mình. Thông qua các tiểu thuyết luận đề, Tự lực văn đoàn phê phán mạnh mẽ lễ giáo phong kiến đã chà đạp lên quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc chính đáng của cá nhân con người.
Thứ hai là cải cách xã hội: Nội dung cải cách xã hội trong các tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn mang đậm màu sắc cải lương tư sản. Những tiểu thuyết theo hướng này là Gia đình của Khái Hưng, Con đường sáng của Hoàng Đạo. Ở tiểu thuyết Gia đình như đã nói, tác giả Khái Hưng ca ngợi những địa chủ giàu lòng nhân ái, biết quan tâm tới cuộc sống khổ cực của người nông dân. Họ có những việc làm thiết thực nhằm cải thiện cuộc sống của những người dân nghèo.
Ở tác phẩm Con đường sáng tác giả Hoàng Đạo lại vẽ lên bức tranh đẹp về một cuộc sống mới của người nông dân.