CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ từ 0 – 36 tháng tuổi. Khái niệm trẻ em. Theo điều 1, phần 1 của Công ƣớc Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (1990), “trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Tại điều 1, chƣơng 1, luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004, trẻ em là tất cả những ngƣời dƣới 16 tuổi. Ngƣời chƣa thành niên là ngƣời dƣới 18 tuổi. Trong giới hạn phạm vi đề tài nghiên cứu của mình, tôi quan niệm trẻ em không chỉ là những ngƣời dƣới 16 tuổi mà còn là một thành viên trong gia đình có ảnh hƣởng tới bầu không khí tâm lý của gia đình một cách rõ ràng. Đặc trưng phát triển tâm vận động của trẻ từ 0 -36 tháng.
Đặc trƣng quan trọng của lứa tuổi này là phát triển vận động để phát triển tâm lý. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phần lớn các trẻ 3 tháng tuổi đã có thể biết lẫy, 7 tháng đã có thế biết bò, 9 tháng tập đi, 12 tháng có thể tự đi đƣợc 5m, 15 tháng chạy chúi đầu về phía trƣớc… tƣơng ứng với các phản xạ tâm lý nhƣ: Vung tay, đạp chân khi đƣợc ngƣời thân nói chuyện, trẻ phát ra những âm thanh ban đầu (ƣ, à…) khi đƣợc ngƣời lớn nói chuyện. Trẻ học đƣợc cách ứng xử với ngƣời khác khi bị ƣớt, khi bị đói, khi bị bỏ rơi và ngƣời lớn cũng dần học đƣợc cách chăm sóc trẻ tốt hơn. Việc chơi đùa tƣơng tác với trẻ giai đoạn này có ý nghĩa quyết định giúp trẻ phát triển vận động và phát triển tâm lý của mình, tạo nền móng cho sự phát triển tâm lý sau này của trẻ.
Trong giai đoạn sơ sinh (từ 0 đến 24 tháng tuổi), song song với việc phát triển về thể chất, trẻ phát triển về vận động và phản xạ, từ cảm giác đến tri giác và dần học đƣợc cách biểu hiện xúc cảm của mình khi tƣơng tác với ngƣời chăm sóc. Giai đoạn quan trọng này giúp trẻ phát triển nhận thức ban đầu về môi trƣờng xung quanh. Đặc biệt, lúc này trẻ học đƣợc từ xã hội ngôn ngữ giao tiếp ban đầu và thâm nhập vào tiến trình xã hội hóa cá nhân của mình. Nếu thiếu vắng giao tiếp phù hợp trong giai đoạn này, trẻ ở giai đoạn sau thƣờng lộ rõ những khó khăn về tâm lý, chẳng hạn nhƣ rối loạn cảm giác, rối loạn ý thức, rối loạn ngôn ngữ … Đồng thời, việc thiếu vắng đi những hoạt động vui chơi, hoạt động chăm sóc có kèm theo sử dụng ngôn ngữ của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời chăm sóc trong giai đoạn từ 0 – 24 tháng sẽ khiến trẻ lộ dần khả năng kém hòa nhập của mình với môi trƣờng xung quanh khi trẻ bƣớc sang giai đoạn sau (Nguyễn Văn Đồng, 2004).
Cũng trong giai đoạn sơ sinh, các nhà nghiên cứu về quá trình phát triển tâm lý trẻ em đặc biệt chú tâm đến phát triển nhận thức và ngôn ngữ cho trẻ. Giai đoạn này đƣợc J.Piaget gọi là giai đoạn giác - động. Đây là nền tảng quan trọng để giai đoạn tiền thao tác và thao tác cụ thể sau này của trẻ đƣợc phát triển bình thƣờng (Nguyễn Văn Đồng, 2004). Nhìn từ quan điểm văn hóa xã hội của L.
Vygotxky, đứa trẻ sinh ra phải đƣợc phát triển về thể chất và tâm lý trong những hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể. Nếu thiếu đi cái xã hội cụ thể ấy thì trẻ cũng không phát triển đƣợc tâm lý nhân cách của mình phù hợp với chuẩn chung mà xã hội cụ thể đó đang quy định, từ kỹ năng nhận thức ban đầu về thế giới ở trẻ đến khả năng nhận thức lý tính có đƣợc sau này ở ngƣời trƣởng thành. Trong giai đoạn đầu đời, trẻ cần đƣợc vui chơi và chăm sóc có sự hƣớng dẫn của bố mẹ, ngƣời thân hoặc ngƣời chăm sóc thay thế. Việc ngƣời hƣớng dẫn hiểu rõ các đặc điểm tâm sinh lý của trẻ và có những tác động phù hợp với khả năng tiếp nhận của trẻ đƣợc Vygotxky xem là sự tác động vào vùng phát triển gần nhất của trẻ.
Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng, ở mỗi giai đoạn phát triển lứa tuổi, trẻ cần đạt đƣợc một trình độ nhất định về mặt thể trạng và tâm lý, ở đó ngƣời ta gọi là điểm tới hạn của sự phát triển. Nếu qua giai đoạn đó mà trẻ vẫn chƣa đạt đƣợc trình độ trung bình của sự phát triển thể trạng và tâm lý thì đứa trẻ đó sẽ bị “chậm phát triển” ở khía cạnh nó gặp phải. Sự phát triển của một đứa trẻ càng xa điểm phát triển tới hạn bao nhiêu, trẻ càng khó thiết lập trở lại kỹ năng cần có ở đặc điểm tới hạn bấy nhiêu. Vậy nên, việc giúp trẻ tham gia vào các hoạt động chơi, chăm sóc trẻ trong giai đoạn đầu đời là rất cần thiết để đảm bảo trẻ đƣợc phát triển đầy đủ cả về mặt thể chất và tâm lý.
Hoạt động chơi của trẻ. Định nghĩa về hoạt động chơi của trẻ Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam do Nguyễn Lân biên soạn, “chơi” đƣợc định nghĩa là hoạt động với mục đích đƣợc vui hay thoả thích, tham dự các hoạt động cụ thể nhƣ thể thao, nhạc cụ… Trong ngữ cảnh khác, chơi còn là hoạt động quan hệ giao tiếp với ngƣời khác, nhƣ: kết bạn (chọn bạn mà chơi), thăm hỏi (đến chơi nhà) … 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở từ điển Wikipedia, “chơi” (Play) là một kiểu hoạt động có tính trí tuệ kết hợp với thế giới quan của con ngƣời. Hoạt động chơi có thể bao gồm những tƣơng tác bên ngoài và bên trong tâm trí của ngƣời chơi, những tác động qua lại có tính vui thú, giả vờ hay tƣởng tƣợng. Các kiểu hoạt động chơi đƣợc thể hiện rõ trong suốt quá trình phát triển tự nhiên của con ngƣời, đặc biệt trong quá trình phát triển nhận thức và xã hội hóa ở trẻ em.
Hoạt động chơi thƣờng đi kèm với đồ chơi, động vật và đạo cụ tuỳ theo hoàn cảnh học tập và tiêu khiển. Trên thực tế, có nhiều quan điểm chƣa thống nhất về hoạt động chơi của con ngƣời, phân biệt nó với những hoạt động khác - không phải hoạt động chơi (nonplay). Trong tính tƣơng đối của sự phân biệt này, các nhà khoa học đƣa ra các yếu tố thƣờng có trong hoạt động chơi nhƣ: sự tham gia của chủ thể vào hoạt động chơi; tính vui thú, thỏa thích của hoạt động cho ngƣời tham gia và; tính tự nguyện của chủ thể khi tham gia vào hoạt động đó. Ngoài ra, còn nhiều yếu tố của hoạt động chơi ở con ngƣời gây tranh cãi trong các nhà khoa học nhƣ: tính giả định của hoạt động; mức độ nghiêm túc, đầu tƣ trí tuệ của chủ thể tham gia vào hoạt động; tính qui ƣớc về luật lệ của hoạt động; động cơ bên trong của chủ thể tham gia hoạt động; mục đích bên ngoài mà chủ thể muốn chiếm lĩnh thông qua hoạt động.
Những yếu tố kể trên có tính nổi trội trong các trƣờng hợp xác định cho hoạt động chơi của con ngƣời. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh cụ thể, nó cũng xuất hiện trong những hoạt động khác của con ngƣời. Ví dụ: chơi thể thao, đối với các vận động viên là lao động nghiêm túc, với ngƣời thƣờng nói chung là hoạt động thƣ giãn. Ngƣời ta vẫn có cách nói đời thƣờng kiểu “học nhƣ chơi”, “làm nhƣ chơi”, cho thấy sự khó phân biệt các tính chất giữa hoạt động chơi và hoạt động không phải chơi trong những trƣờng hợp cụ thể.
Nhà văn Mark Twain cho rằng: chơi và làm việc là những từ mô tả cùng một sự việc trong những điều kiện khác nhau. Theo từ điển tâm lý học của Vũ Dũng (2008), hoạt động chơi của trẻ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Hoạt động vui chơi là các hoạt động được tìm kiếm và theo đuổi một cách tự do vì sự thích thú. Chơi theo nhóm có thể theo dạng song song giống nhau, dạng cạnh tranh hay dạng hợp tác hoặc kết hợp cả ba dạng. Chơi rất quan trọng đối với trẻ em vì chơi mang lại cho trẻ các kỹ năng thể chất và xã hội khác nhau.
Đó cũng là phương tiện hàng đầu để khám phá bản thân và thế giới cũng như phương tiện để duy trì sức khỏe và đạt được sự cân bằng trong cuộc sống”. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các lý thuyết đương đại về hoạt động chơi ở trẻ em. Lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget.
Piaget cho rằng trẻ em là những ngƣời học đầy năng động và tự động. Bản thân trẻ em có tính tò mò tự nhiên đối với thế giới xung quanh. Chúng luôn năng nổ tìm kiếm thông tin để có thể lý giải và hiểu về thế giới đó. Chúng thƣờng trải nghiệm những vật thể mà chúng tình cờ gặp phải, khám phá và quan sát những hệ quả từ những hành vi của chúng.
Khi trẻ chơi, đó chính là lúc trẻ khám phá thế giới qua những tính chất và cấu trúc của đồ vật và qua những hành vi tác động lên đồ vật đó. Quá trình học tập của trẻ có tính cơ cấu và tính cá thể. Đứa trẻ năng động tìm tòi thông tin và kết nối các thông tin theo cách riêng để lý giải về môi trƣờng sống xung quanh. Piaget dùng thuật ngữ “sơ cấu” khi giải thích tính cơ cấu trong quá trình học tập của trẻ.
Đó là một dạng cấu trúc nhận thức đơn giản mà trẻ có đƣợc nhờ những hành vi phản xạ tự phát ban đầu. Khi các kích thích quen thuộc xuất hiện thƣờng xuyên, các phản xạ tự phát dần dần có chọn lọc, sơ cấu càng đƣợc củng cố và trở thành kiểu hành vi có thể lập đi lập lại khi trẻ nhận biết kích thích quen thuộc tác động. Piaget cho rằng trẻ sử dụng nhiều lần các sơ cấu mới đạt đƣợc trong các tình huống tƣơng tự và mới mẻ. Quá trình lập lại các sơ cấu đó giúp đứa trẻ chọn lọc các hành vi và kết hợp chúng lạidựa trên quá trình tƣ duy thao tác.
Lý thuyết này đƣợc chứng thực khi ta quan sát trẻ chơi. Trong lúc chơi, trẻ thao tác lặp đi lặp lại nhiều lầntrên một vật và thử chơi bằng nhiều cách khác nhau với đồ vật đó, cho tới khi chọn đƣợc cách chơi tƣơng ứng với chức năng của nó, và kết hợp chơi giữa đồ vật đó với đồ vật khác.