CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ DANH LƯỢNG TỪ: 1. Khái niệm về lượng từ trong tiếng Hán: Trong tiếng Hán, khái niệm lượng từ thường được các nhà nghiên cứu xem xét từ góc độ ý nghĩa ngữ pháp để chỉ một lớp từ nằm ở vị trí giữa số từ và danh từ làm thành phần trong một kết cấu đoản ngữ chỉ về lượng. Tuy nhiên, theo quan niệm trong tác phẩm nghiên cứu lượng từ Hán ngữ hiện đại của tác giả Hà Kiệt (何杰 (2001),现代汉语量词研究, 民族出版社 trang 6): “Lượng từ là những từ biểu thị đơn vị số lượng của sự vật hoặc động tác và được chia thành hai nhóm: vật lượng từ (tính đếm cho thực thể, sự vật) và động lượng từ (tính đếm cho hành vi động tác)”.
Chúng ta có thể coi đây là một định nghĩa chính xác nhất về lượng từ trong tiếng Hán hiện đại. Như vậy thì lượng từ là từ chỉ lượng đơn vị để đếm số lượng người, sự vật hay động tác. Lượng từ thường đi kèm với danh từ hoặc số từ để chỉ các vật thể có thể đo lường, đếm được hoặc tính toán được. Không những thế, lượng từ còn được dùng vào việc phân loại sự vật do danh từ biểu thị dựa trên đặc điểm hình dáng và chức năng của chúng.
5 Lượng từ trong tiếng Hán thật sự là những hiện tượng ngôn ngữ có tính đặc thù và phức tạp đã được học giả thảo luận từ rất lâu. Cuối cùng thì vị trí của lượng từ cũng đã được xác định là một từ loại riêng trong hệ thống từ loại tiếng Hán. Lượng từ tuy rằng được xác định là thực từ trong hệ thống từ loại của mỗi ngôn ngữ, nhưng bản thân nó không phải là thành phần độc lập của câu; Các nghiên cứu so sánh thường xem xét ý nghĩa từ vựng và ngữ pháp của nó trong các đoản ngữ, chủ yếu là trong các cụm danh từ. Trong kết cấu của cụm danh từ, lượng từ tham gia vào các vị trí và có nhiều chức năng khác nhau, đồng thời lượng từ thường đứng ở vị trí trong thành phần của định ngữ định lượng.
Phân loại lượng từ trong tiếng Hán: Chúng ta có thể nhận thấy rằng, “lượng từ” được sử dụng rất phổ biến trong hầu hết các công trình nghiên cứu tiếng Hán hiện đại ở Trung Quốc. Trải qua quá trình tranh luận lâu dài, các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc đã nhanh chóng loại bỏ lượng từ ra khỏi phạm trù của danh từ, lượng từ được định danh, trở thành một đơn vị từ loại độc lập và đóng vai trò quan trọng trong tiếng Hán. Mà theo Quách Nhược [1], Chu Đức Hy [2] thì việc phân loại lượng từ tiếng Hán cần thiết “ưu tiên tiêu chí chức năng”. Theo đó, lượng từ trong tiếng Hán được phân chia thành hai nhóm lớn: Một là danh lượng từ và hai là động lượng từ.
Tuy nhiên, vẫn có nhiều lượng từ vừa có thể xếp ở nhóm danh lượng từ, lại vừa ở nhóm động lượng cùng tu sức cho danh từ. Bởi vì lượng từ là một kho tàng khổng lồ đã và đang được các nhà nghiên cứu không ngừng tìm tòi và nghiên cứu, do thời gian và năng lực có hạn nên trong bài nghiên cứu này tôi sẽ chỉ đi sâu vào nghiên cứu danh lượng từ. Phân loại danh lượng từ: Danh lượng từ được chia thành: 6 • Lượng từ cá thể/loại từ, • Lượng từ đo đếm như lượng từ bộ phận, lượng từ tập hợp, lượng từ vật chứa, lượng từ lâm thời, lượng từ đo lương chuẩn. Lượng từ cá thể là nhóm lượng từ tiêu biểu nhất của danh lượng từ nói riêng và của lượng từ tiếng Hán nói chung, được sử dụng để chỉ đơn vị các sự vật cá thể.
Do vậy mà danh từ đi kèm với một lượng từ cá thể nào đó thì phải là danh từ cụ thể và có thể đếm được. Vì vậy, sự kết hợp giữa danh từ với lượng từ cá thể có quy tắc tương đối ổn định. lượng từ bộ phận lượng từ tập hợp lượng từ đo đếm lượng từ vật chứa lượng từ lâm thời Danh lượng từ lượng từ đo lường lượng từ cá thể/loại từ Hình 1.1: Hệ thống danh lượng từ tiếng Hán được mô hình hóa 1. Đặc điểm ngữ nghĩa của danh lượng từ trong tiếng Hán: 1.
Tiêu chí nhận diện nghĩa của danh lượng từ tiếng Hán: 7 Trong Hán ngữ hiện đại lượng từ được coi như là những “từ biểu thị số lượng đơn vị sự vật hay động tác”. Mặc dù đã rõ ràng và chính xác như vậy, nhưng quan niệm này lại chỉ mới nêu lên được nghĩa chỉ lượng mà vẫn chưa chỉ ra rõ ràng được nghĩa chỉ loại của một bộ phận trong lớp từ này, đó chính là lượng từ cá thể. Để chọn ra được một danh sách lượng từ cá thể của tiếng Hán chính danh hỗ trợ cho đề tài nghiên cứu, tôi đã xác định các tiêu chí cho việc nhận diện nghĩa của lớp từ này. Một đơn vị mà muốn được coi là lượng từ cá thể phải đáp ứng được các tiêu chí dưới đây: • Tính đánh dấu [+đơn vị] của thực thể (hình thức tồn tại): đơn vị tự nhiên có khả năng phân lập sự vật thành những đơn thể, tức là có chức năng cá thể hóa sự vật.
Tính đơn vị tự nhiên là đặc trưng cơ bản của lớp từ này. Ví dụ: 一张桌子 (yì zhāng zhuō zi) nghĩa tiếng Việt là một cái bàn; 一条鱼 (yì tiáo yú) nghĩa tiếng Việt là một con cá. Ví dụ: 三个球 (sān gè qiú) nghĩa tiếng Việt là ba quả bóng = 3 × (1 × 1) × quả bóng; 我买了本书 (wǒ mǎi le běn shū) nghĩa tiếng Việt là tôi mua cuốn sách = tôi mua một cuốn sách. • Khả năng phạm trù hóa sự vật theo đặc điểm nổi trội sẵn có từ lâu của thực thể (tính chất, hình dạng, chức năng.) bằng góc độ tư duy của người bản ngữ.
Ví dụ: ▪ 一把伞 (yì bǎ sǎn) nghĩa tiếng Việt là một cái ô, đặc điểm vật thể có cán. ▪ 一顶伞 (yì dǐng sǎn) nghĩa tiếng Việt là một cái ô, đặc điểm vật thể có chóp đỉnh. 8 • Khả năng [+vật hóa]: làm “tác tử vật hóa” (thuật ngữ của Cao Xuân Hạo [5]), một biểu hiện trong khả năng vật hóa là khả năng danh từ hóa của lượng từ. Ví dụ như: 一个痛苦 (yí gè tòng kǔ) nghĩa tiếng Việt là một nỗi khổ; 一丝希望 (yì sī xī wàng) nghĩa tiếng Việt là một tia hy vọng.
• Khả năng [+miêu tả] biểu thị ở khả năng này là có thể phụ gia cho danh từ, miêu tả một đặc điểm nào đó có trong bản chất của thực thể được đánh dấu bằng tên gọi của thực thể. Ví dụ: 一条布 (yì tiáo bù) nghĩa tiếng Việt là một mảnh vải; 一场雨 (yì chǎng yǔ) nghĩa tiếng Việt là một trận mưa 1. Phạm trù ngữ nghĩa của danh lượng từ trong tiếng Hán: Thông thường, danh lượng từ sẽ được tổ hợp với danh từ phù hợp với các phạm trù trong hệ thống ngữ nghĩa. Các lượng từ này đảm nhiệm chức năng cá thể hóa danh từ mà chúng lựa chọn, nó có đặc điểm chung trong phạm trù khái quát và những ngữ nghĩa cụ thể ở các phạm trù nhỏ.
Danh từ trong tiếng Hán biểu thị những thuộc tính về chất liệu và chất lượng, chúng không được phân lập, không có hạn định, và là lớp từ loại mở, vì vậy, chúng cần có lượng từ tạo cho chúng một đường biên đủ rõ ràng về nghĩa và có thể phân lập được. Lượng từ cá thể của tiếng Hán được phân thành ba phạm trù chính (theo hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa chủ yếu của danh từ đi cùng) biểu thị các đặc điểm như vật tính, hình dáng, chức năng. Nhóm lượng từ mang ý nghĩa vật tính: Vật tính (chỉ vật) là một phạm trù ngữ nghĩa tương đối quan trọng của lượng từ. Nghĩa chỉ vật bao gồm ba loại dưới đây: Nhóm danh lượng từ chỉ người: Trong tiếng Hán lượng từ chỉ người không nhiều, chỉ gồm có: 个 (gè), 位 (wèi), 口 (kǒu), 条 (tiáo), 号 (hào), 员(yuán ) trong đó 个 (gè) được coi là lượng từ thông dụng và phổ biến nhất.
9 • Nhóm danh lượng từ chỉ loài vật [trừ người]: Lượng từ 条 (tiáo) thường tổ hợp với danh từ chỉ loài vật [trừ người] thuộc loài bò sát (không chân) và một số loài vật bốn chân. Những loài vật đi với lượng từ 条 (tiáo) thường có hình dáng dài, linh hoạt. Lượng từ 头 (tóu) được sử dụng tổ hợp với danh từ chỉ loài động vật bốn chân, chủ yếu là gia súc. Trong một số trường hợp, có thể sử dụng lượng từ “口 (kǒu)”, “只 (zhī)” thay cho “头 (tóu)”, ví dụ: Một con lợn: 一口猪 (yì kǒu zhū); Một con sư tử: 一只狮子 (yì zhī shī zi); Một con voi: 一只大象 (yì zhī dà xiàng).
Việc thay thế này hoàn toàn không ảnh hưởng đến ý nghĩa ngữ pháp. Lượng từ 只 (zhī) có khả năng tổ hợp với hầu hết các danh từ chỉ các loại động vật [trừ người] kể cả côn trùng, khả năng tổ hợp của 只 (zhī) khá là rộng. Đối với một số động vật đặc thù hoặc có giá trị trong đời sống con người, thường có lượng từ chuyên dụng riêng. Cụ thể, lượng từ 峰 (fēng) dùng cho lạc đà (một con lạc đà: 一峰骆驼 (yī fēng luò tuó)); 匹 (pǐ) dùng cho ngựa (một con ngựa:一匹马 (yī pǐ mǎ)).
Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động ngôn ngữ, lạc đà có thể được phân biện bởi 3 lượng từ như sau: 峰 (fēng) để nhấn mạnh đặc điểm có u trên lưng, 头 (tóu) để nhấn mạnh ý nghĩa là 1 loài gia súc lớn, 匹(pǐ) có giá trị giống ngựa. • Cho nên số lượng loại từ chỉ con vật của tiếng Hán nhiều hơn đáng kể so với loại từ chỉ con vật của tiếng Việt nước ta. Trong tiếng Việt, chỉ dùng một loại từ “con” là đã có thể kết hợp với tất cả các loài động vật. Nhưng trong khi đó, ở tiếng Hán, mỗi loại động vật chúng sẽ có một loại từ chuyên dùng của riêng chúng, thậm chí một loại động vật có thể có nhiều loại từ đi cùng (ví dụ như lạc đà nói trên).
• Nhóm danh lượng từ dùng để chỉ vật bất động: Danh từ của vật bất động đa phần là danh từ khối và không đếm được, trong bản chất và chức năng ngôn ngữ nó sẽ được cá thể hóa nhờ tổ hợp với lượng từ. Nhóm lượng từ này đặc biệt phong phú 10 trong tiếng Hán, đó là những lượng từ được gắn với những vật thể liên quan đến đời sống và sinh hoạt hàng ngày của con người. Ví dụ như: 个 (gè), 条 (tiáo), 把 (bǎ), 根 (gēn), 块 (kuài), 张(zhāng), 盘 (pán), 台 (tái), 盏 (zhǎn), 帖 (tiē), 服 (fú), 面 (miàn), 只 (zhī), 部 (bù),… 1.