CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Chiều cạnh giới trong tác động của thiên tai đến sản xuất nông nghiệp Tác động của thiên tai đến sản xuất nông nghiệp Thiên tai trên thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, bất thường, là thách thức lớn nhất của thiên nhiên mà nhân loại đang phải đối phó. Trong khi cộng đồng quốc tế còn đang tranh luận về các biện pháp và lộ trình can thiệp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của thiên tai, những người dân đã và đang phải trực tiếp đương đầu với các ảnh hưởng này ở các mức độ khác nhau. Việt Nam được xếp vào nhóm 5 quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi thiên tai và BĐKH trong đó những nạn nhân nhạy cảm nhất, bao gồm các tầng lớp dân chúng nghèo nhất, sẽ phải hứng chịu sớm nhất và nặng nề nhất những tác động của thiên tai [96, 193].
Theo kịch bản của Ủy ban liên minh Chính phủ về BĐKH (IPCC), đến năm 2100, nếu mực nước biển dâng cao 1m sẽ ảnh hưởng đến 5% đất đai của Việt Nam, 10% dân số, tác động đến 7% sản xuất nông nghiệp, làm giảm 10% GDP [20]. Còn nếu mực nước biển dâng cao từ 3-5m sẽ là thảm họa khôn lường đối với phần lớn người dân và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. Trên thực tế, trong khoảng vài thập kỷ trở lại đây, thời tiết, khí hậu đã trở nên bất thường, khắc nghiệt và khó dự đoán hơn; bão có xu hướng gia tăng về cường độ và ngày càng khó dự đoán về thời gian và hướng dịch chuyển; thời tiết mùa đông ấm dần lên, mùa hè nóng hơn; xuất hiện bão, lũ và khô hạn với tần xuất nhiều hơn trước (Lưu Ngọc Trịnh. 21; Trần Thị Tuyết, 2019).
Thiên tai ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đối với ngành nông, lâm, ngư nghiệp của Việt Nam và mọi mặt của đời sống, đặt ra những thách thức lớn đối với nền kinh tế và xã hội [38, 192]. Việt Nam là đất nước chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai với hơn 70% dân số đối mặt với các rủi ro từ nhiều loại hình thiên tai khác nhau. Trong hai thập kỷ qua, ước tính mỗi năm Việt Nam đã thiệt hại từ 1% đến 1,5% GDP do thiên tai và con số thiệt hại có thể lên đến 3,5% vào năm 2050 [193]. Thiên tai và BĐKH đã và đang làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên nước, biểu hiện rõ nét nhất là hạn hán và xâm nhập mặn ở các tỉnh Nam Trung Bộ trong những năm gần đây đã gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm.
Hiện nay, Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia bị đe dọa bởi an ninh nguồn nước với tổng bình quân đầu người cả nước mặt và nước ngầm trên phạm vi lãnh thổ thấp hơn đáng kể so với mức bình quân của thế giới (là 4400m3/người/năm so với bình quân thế giới là 400m3/người/năm [2]. Bên cạnh hạn hán và xâm nhập mặn thì tần suất và mức độ của các trận bão, lụt.ở Việt Nam đang ngày càng trở nên nghiêm trọng. Những con số thống kê về 7 thiệt hại trong thời gian qua do thiên tai gây ra chỉ mang tính chất tương đối. Thông thường, mức độ thiệt hại trên thực tế còn lớn hơn rất nhiều so với con số ước tính bởi rất khó có thể đo lường được hết những thiệt hại phi kinh tế như thiệt hại về người, di sản văn hóa phi vật thể, hệ sinh thái [19, 83].
Nông nghiệp – ngành trọng tâm của nền kinh tế Việt Nam với đóng góp hơn 18% GDP, sử dụng đến gần một nửa lực lượng lao động của cả nước và mô hình phổ biến là sản xuất hộ gia đình quy mô nhỏ, phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên. Tính biến động và dị thường của thời tiết, khí hậu khiến mùa khô kéo dài hơn với lượng mưa giảm rõ rệt, tình trạng thiếu nước, hạn hán và sa mạc hóa diễn ra trên diện rộng… đã tác động trực tiếp đến mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, gia tăng dịch bệnh và làm suy giảm năng suất và sản lượng nông nghiệp [7, 47, 52, 8]. Một số nghiên cứu về tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp ở các vùng miền khác nhau trong những năm gần đây như nghiên cứu của Mai Thanh Sơn và cộng sự (2011)3 ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nghiên cứu tại tỉnh Bến Tre và đồng bằng Sông Cửu Long (2013), nghiên cứu ảnh hưởng của hạn hán đến sản xuất nông nghiệp ở Nam Trung Bộ (2015); nghiên cứu của ở Quảng Nam của một số tác giả [47, 52, 12, 9, 43, 41] cũng cho thấy, thiên tai đang ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp của người dân theo hướng làm sụt giảm diện tích đất canh tác nông nghiệp, sụt giảm năng suất lúa, cây hoa màu, cây ăn quả và vật nuôi. Khu vực Nam Trung Bộ, đặc biệt là tỉnh Ninh Thuận với đặc điểm mùa khô, nắng nóng kéo dài, lượng mưa thấp nên hạn hán xảy ra thường xuyên và khốc liệt hơn, gây nhiều khó khăn cho phát triển kinh tế và sản xuất nông nghiệp [83, 65].
Giới trong tác động của thiên tai Thiên tai là một thách thức rất lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững và bình đẳng giới. Mối liên hệ giữa bình đẳng giới với thiên tai ngày càng được thừa nhận ở các nước đang phát triển trong những năm gần đây. Thiên tai cũng được chứng minh là có những tác động khác nhau đến mỗi giới [23, 108, 118, 1, 176]. Thiên tai là một trong những nguyên nhân làm gia tăng thêm gánh nặng mưu sinh và chăm sóc gia đình cho phụ nữ [176, 44, 78].
Phụ nữ thường đảm nhiệm các vai trò khác nhau trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, quản lý tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo dinh dưỡng cho các thành viên trong hộ gia đình. Họ là người thực hiện chính các 3 Mai Thanh Sơn, Lê Đình Phùng, Lê Đức Thịnh. Biến đổi khí hậu: Tác động khả năng ứng phó và một số vấn đề về chính sách – Nghiên cứu trường hợp đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc. Hà Nội tháng 10 năm 2011.
8 công việc liên quan đến trồng trọt, quản lý và mua bán thực phẩm; thu lượm nước và chất đốt để sử dụng trong gia đình trong khi nam giới chịu trách nhiệm chính với những công việc sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi với quy mô lớn hơn. Sự phụ thuộc lớn vào đất đai, nguồn tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo sinh kế chính là nguyên nhân khiến cho phụ nữ dễ bị tổn thương hơn trước thiên tai so với nam giới [72, 43]. Về mặt sức khỏe, phụ nữ và trẻ em là đối tượng dễ bị mắc các bệnh liên quan đến nguồn nước như tiêu chảy, bệnh tả, bệnh nhiễm trùng hơn khi xảy ra thiên tai [50, 158, 159]. Nghiên cứu ở cộng đồng cư dân ven biển phía nam Bangladesh cho thấy, việc thiếu nước sạch cho sinh hoạt do thiên tai đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, cũng như tiềm ẩn những nguy cơ về sự đảm bảo an toàn cho họ khi phải đi lấy nước và đi tắm ở cách xa nhà [167].
Thiên tai làm gia tăng khối lượng công việc của cả nam và nữ song bên cạnh các công việc sẵn sàng ứng phó như nam giới thì phụ nữ thường vẫn phải đảm nhiệm chính trong các hoạt động chăm sóc và phục hồi. Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái cũng có xu hướng gia tăng sau thiên tai và phụ nữ có thể phải chịu thêm những áp lực về tâm lý nhiều hơn do vai trò giới truyền thống của họ trong gia đình [157, 158]. Nghiên cứu của Cuevas, Peterson, Morrison, & Robinson (2016) cho thấy, những tác động của thiên tai và BĐKH không trung lập về giới, nó có thể củng cố thêm tình trạng bất bình đẳng giới hiện có và làm nảy sinh thêm những bất bình đẳng giới ở các chiều cạnh khác vì nó sẽ làm tăng nguy cơ tổn thương nhất đối với những nhóm yếu thế trong xã hội và ảnh hưởng toàn diện trên nhiều chiều cạnh như xã hội, kinh tế, chính trị, sinh thái và môi trường. Thiên tai là nguyên nhân làm trầm trọng hơn những bất bình đẳng giới trong xã hội theo hướng đặt thêm gánh nặng lên vai những người phụ nữ có sinh kế lệ thuộc vào các nguồn lực tự nhiên [181, 1, 64].
Nghiên cứu của FAO (2005)4 cho rằng, sự phụ thuộc lớn vào đất đai, nguồn tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo sinh kế chính là nguyên nhân làm cho phụ nữ dễ bị tổn thương hơn nam giới. Tuy nhiên, nghiên cứu của Phan Thị Hoàn (2023) đối với cộng đồng người Kinh và Khơ me tại tỉnh Trà Vinh cũng cho thấy nam giới và phụ nữ chịu tổn thương theo các chiều cạnh khác nhau trước thiên tai và hạn hán và xâm nhập mặn. Nam giới với vai trò chính trong sản xuất nông nghiệp sẽ bị ảnh hưởng đáng kể về sinh kế và gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm để bù đắp thu nhập. Phụ nữ lại chịu căng thẳng khi nguồn nước sạch sinh hoạt bị hạn chế và phải xoay sở tài chính đề đảm bảo nhu cầu cuộc sống của gia đình tại các thời điểm thu nhập từ nông nghiệp bị suy giảm.
Thiên tai không chỉ làm gia tăng gánh nặng về sản xuất và 4 FAO. International Code of Conduct on the Distribution and Use of Pesticides. Rome: Food and Agriculture Organization of the United Nations. 9 việc nhà cho phụ nữ mà còn gây áp lực khác nhau lên mỗi giới, gắn với vai trò, trách nhiệm của họ đảm nhiệm trong hộ gia đình [53].
Phần lớn các nghiên cứu thường chỉ ra các tác động của thiên tai đến đời sống và sinh kế của người dân nói chung hoặc nhấn mạnh về tình trạng tổn thương của phụ nữ trong khi trên thực tế nam giới cũng là đối tượng bị ảnh hưởng bởi thiên tai. Vì vậy, giới là một yếu tố xuyên suốt cần được chú ý, nghiên cứu giới trong ứng phó với thiên tai không chỉ đề cập đến phụ nữ mà cần xem xét trong mối tương quan giữa hai giới để đảm bảo hiệu quả trong ứng phó với thiên tai và phát triển bền vững.