CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỀ TÀI 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Một số công trình nghiên cứu về tưởng tượng và tưởng tượng sáng tạo ở nước ngoài 1. Những công trình nghiên cứu ở phương Tây Tưởng tượng được dé cập nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX, nhà tâm lý học người Pháp Ribot (1839-1916) lúc bấy giờ đã xem xét tưởng tượng như một quá trình xây dựng biểu tượng mới từ những gì đã có trước (xây dựng cái mới trên cơ sở cái cũ).
Ông cho rằng nên nghiên cứu tưởng tượng trong mối liên hệ thống nhất của hai yếu tố cảm xúc và trí tuệ. Ribot đánh giá rất cao vai trò của tưởng tượng trong cuộc sống, ông khẳng định tuyệt đại đa số phát minh trước khi di vào hiện thực đều đi qua các giai đoạn tưởng tượng. Ribot cũng đưa ra một biểu đổ miêu tả một cách tượng trưng đặc điểm phát triển của biểu tượng ở các lứa tuổi khác nhau trong đó có trẻ em. [35] Đến Jean Piaget (1896-1979), nhà tâm lý hoc Thụy Sĩ khi nghiên cứu về sự phát triển các chức năng ký hiệu, ông chỉ ra rằng những hình ảnh của tượng tượng không chỉ là sự sao chép hiện thực một cách đơn thuần mà đó là sự sao chép một cách tích cực những bức tranh tri giác.
[17] Sigmund Freud (1856-1939) là nhà tâm lý học nghiên cứu rất nhiều về giấc mơ nên cũng quan tâm đến tưởng tượng. Tuy nhiên, ông lý giải cũng như các hiện tượng tâm lý khác, tưởng tượng có nguồn gốc từ sự dén nén các bắn năng tính dục khi chúng không được thỏa mãn. Tưởng tượng xuất hiện rất nhiều 6 trong vô thức giúp thỏa mãn dục vọng. Ông cho rằng chức năng cơ bản của tưởng tượng là bảo vệ “cái tôi”, điểu hòa những cảm xúc bị dồn nén.|8| Một số nhà tâm lý khác thì nghiên cứu tưởng tượng trong sự đối chiếu với các quá trình tâm lý khác.
Điển hình như Guilford đã gắn lién tưởng tượng với tư duy trong nghiên cứu về tưởng tượng. Ông xem tưởng tượng như là tư duy sáng tạo, một thành tố không thể thiếu được của con người. Nối tiếp hướng nghiên cứu của Guilford, có các nhà tâm lý học A. Kết quả nghiên cứu của các tác giả này mặc dù đã chỉ ra được vài đặc điểm của tưởng tượng sáng tạo nhưng không vạch ra được quy luật hoạt động chung và sự phát triển của quá trình tưởng tượng.
Đối lập với quan điểm trên là tư tưởng đánh đồng tưởng tượng với trí nhớ. Tiểu biểu của trường phái này là các tác giả người Đức: Vinhem Serer, Muyle Phraienphenx. Nhằm mục đích phản bác lại quan điểm xem tưởng tượng là yếu tố không thể nhận biết được, là yếu tố độc quyền của các thiên tài sáng tạo, các tác giả này đã chứng minh tưởng tượng là một hiện tượng don giản và phổ biến thông qua việc coi các hình ảnh của trí nhớ mà sự thể hiện thực sự của tưởng tượng. Serer từng tuyên bố: “ Tôi thiên về phía thừa nhận rằng trí nhớ và tưởng tượng chẳng qua chỉ là một mà thôi, đấy là khả năng gợi lại các biểu tương cũ" [15, tr.
Như vậy, chỉ căn cứ vào sản phẩm của tưởng tượng và trí nhớ đều là biểu tượng, các tác giả này đã vội quy kết hai quá trình này giống nhau về bản chất. Đây là quan điểm chưa thực sự hợp lý và khoa học. Những công trình nghiên cứu ở Liên Xô Tâm lý học Liên Xô lấy triết học Mác Lénin làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu tưởng tượng. Các Mác từ thế kỷ XIX đã đưa ra một quan niệm duy vật biện chứng trong nghiên cứu tưởng tượng, đó là việc sáng tạo ra cái mới ban đầu chỉ là hình thức biểu tượng và biểu tượng ấy chính là hiện thân của tưởng tượng.
[8] Bước sang thế kỷ XX, L.Vưgôtxki (1896-1934) đã tiến thêm một bước rất dài trong những hiểu biết về tưởng tượng. Một loạt các tác phẩm của ông đều liên quan đến tưởng tượng như: “Tri tưởng tượng sáng tạo ở lứa tuổi thiếu nhỉ”, “Tâm lý học nghệ thuật”, “Sự phát triển của các chức năng tâm lý cấp cao”. Ông đã xây dựng nên lý thuyết khá hoàn chỉnh vé tưởng tượng. Ông cho rằng tưởng tượng là một hoạt động tâm lý phức tạp nhưng cũng như các quá trình tâm lý khác.
nó là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não con người được phát triển mạnh mẽ từ lứa tuổi mẫu giáo. Ông khẳng định tưởng tượng có nến tảng từ kinh nghiệm hiện thực của con người, chính vì vậy tưởng tượng của trẻ em không thể phong phú như người lớn. Vưgôtxki cũng nghiên cứu tưởng tượng trong sự gắn kết với sáng tạo nên ông cũng đưa ra khái niệm tưởng tượng sáng tạo. Đối với ông, hoạt động sáng tạo có vai trò to lớn trong sự tổn tại của loài người và cơ sở sáng tạo chính là tưởng tugng.[35] Nối tiếp tư tưởng của Vưgôtxki, các nhà tâm lý học Liên Xô đã đi sâu nghiên cứu tưởng tượng như một hoạt động tâm lý theo hai hướng: xây dựng và làm giàu hình ảnh tưởng tượng, tách rời hình ảnh tưởng tượng ta khỏi hình ảnh thế giới hiện thực.
Các tác giả đều chỉ ra rằng các phương tiện chủ yếu của hoạt động nhận thức trong đó có tưởng tượng là các ký hiệu hình ảnh. Sự phát triển của tưởng tượng cũng là một quá trình nhập tâm chuyển vào trong toàn bộ các quan hệ xã hội dưới dạng các ký hiệu. Họ nghiên cứu các vấn dé thuộc về tưởng tượng như: mối liên hệ giữa tưởng tượng với kinh nghiệm vẻ thế giới hiện thực, vai trò của hành động thực với sự xây dựng hình ảnh tưởng tượng. vai trò của ngôn ngữ trong việc khôi phục hình ảnh trong óc.Ilencôp đều cho rằng việc lĩnh hội các phương tiện của hoạt động tưởng tượng được diễn ra trong mối quan hệ tác động qua lại giữa trẻ và những đồ vật của nền van hóa xã hội thông qua những dang hoạt động khác nhau của trẻ dưới sự tổ chức của người lớn.
[23] Trong những thập kỷ gắn đây, tưởng tượng nói chung và tưởng tượng của trẻ nói riêng thu hút sự nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học và giáo dục học. Mục tiêu chung của họ là làm sao để phát triển trí tưởng tượng của trẻ một cách tốt nhất. Cụ thể như E.Xapagona đã vạch ra sự ảnh hưởng của các trò chơi lắp ghép xếp hình đối với trí tưởng tượng của trẻ căn cứ vào lý luận các thao tác xây dựng biểu mẫu là điểu kiện cẩn thiết cho tưởng tượng.Panchiukhina thì lại vạch ra phương pháp day nặn trong trường mẫu giáo để phát triển trí tưởng tượng sáng tạo cho trẻ từ việc hình thành các biểu tượng đến việc trang bị các kỹ năng kỹ thuật nặn và cách gây hứng thú cho trẻ đốt với các hoạt động này.Zaika thì lại chú ý đến vai trò của tưởng tượng đối với việc lĩnh hội trí thức của học sinh phổ thông. Zaika đã bỏ nhiều năm để nghiên cứu một số biện pháp phát triển trí tưởng tượng cho trẻ trong đó sâu sắc nhất là hệ thống các trò chơi dành cho học sinh phổ thông.
[23] Nghiên cứu về ảnh hưởng của kể chuyện đối với sự phát triển tâm lý nói chung và sự phát triển tưởng tượng nói riêng ở trẻ, có rất nhiều công trình trong đó được kể đến nhiều nhất là “Doc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ" của tác giả M. Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày về vai trò của đọc và kể chuyện đối với sự phát triển của trẻ, các thủ thuật, yêu cầu, phương pháp đọc và kể chuyện cho trẻ nghe. Những cơ sở lý luận ấy đến ngày nay vẫn được giáo dục mắm non kế thừa và vận dụng. Một số công trình nghiên cứu tưởng tượng và tưởng tượng sáng tạo ở Việt Nam Ở Việt Nam, các nhà tâm lý học, giáo dục học rất chú trọng nghiên cứu tưởng tượng và xem đó là vấn dé nim trong chiến lược giáo dục, đặc biệt là giáo dục trí tuệ.
Mội số tác giả Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn đã viết các giáo trình Tâm lý học cho các trường Cao đẳng, Đại học cả nước, trong đó họ đều làm rõ khái niệm tưởng tượng. Có thể nhận thấy dễ dàng rằng các tác giả này có khuynh hướng chấp nhận những kết quả nghiên cứu của Tâm lý học Liên Xô. Theo xu hướng của giáo dục thế giới, các nhà tâm lý học, giáo dục học Việt Nam, cũng quan tâm đến vấn để sáng tạo. Trong các nghiên cứu của các tác giả Đức Uy, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Lê, Vũ Kim Thanh.
khẳng định vai trò của tưởng tượng sáng tạo trong sáng tạo. Đối với trẻ mắm non, vấn để nghiên cứu tưởng tượng cũng thu được nhiều kết quả đáng kể hỗ trợ đắc lực cho công tác giáo dục ở lứa tuổi này. Đi đầu trong nghiên cứu tưởng tượng ở trẻ mầm non là các tác giả Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn. Các tác giả này đã trình bày tương đối đây đủ đặc điểm tưởng tượng, tưởng tượng sáng tạo và một số biện pháp phát triển tưởng tượng của trẻ ở lứa tuổi này.
Trong số các biện pháp ấy, các nhà nghiên cứu khá quan tâm đến vai trò của thơ ca, truyện cổ tích. hay nói cách khác là hoạt động kể chuyện có vị trí không nhỏ trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển tưởng tượng cho trẻ mẫu giáo. Tuy vậy, các biện pháp phát triển tưởng tượng sáng tạo ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi vẫn chưa được trình bày một cách chuyên biệt. Tác giả Hà Nguyễn Kim Giang trong quyển “Phương pháp kể sáng tạo truyện cổ tích thần kỳ cho trẻ mẫu giáo" đã phân tích đặc điểm tiếp nhận truyện cổ tích thần kỳ của trẻ 5-6 tuổi và đưa ra khẳng định rằng kể chuyện sáng tạo nhằm phát triển khả năng sáng tạo và tưởng tượng sáng tạo của trẻ khá hiệu quả.
| 10 Tác giả Nguyễn Xuân Khoa, Dinh Văn Vang trong “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo qua thơ và truyện” đã trình bày kỹ lưỡng vé một số hình thức kể chuyện hiện nay trong trường mẫu giáo, tác dụng của từng hình thức đối với sự phát triển của trẻ, trong đó nhấn mạnh đến sự phát triển tưởng tượng sáng tạo. [HỊ Gần đây rất nhiều học viên cao học chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục mam non tiến hành các luận văn nghiên cứu về tưởng tượng và tưởng tượng sng tạo ở lứa tuổi mdm non.