Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khả năng sáng tạo của con người bắt nguồn từ trí tưởng tượng. Như Albert Einstein từng khẳng định, tri thức là có hạn nhưng trí tưởng tượng bao quát toàn thế giới, thúc đẩy sự tiến bộ và là nguồn gốc của quá trình tiến hóa xã hội. Trong chiến lược phát triển con người của Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nhấn mạnh yêu cầu xây dựng mẫu người có tư duy sáng tạo và kỹ năng thực hành giỏi. Để phát triển năng lực sáng tạo cho trẻ em, nền tảng cốt lõi cần xây dựng từ sớm chính là trí tưởng tượng.

Giai đoạn mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) đánh dấu bước phát triển vượt bậc về tâm lý: vốn kinh nghiệm sống của trẻ phong phú hơn, ngôn ngữ phát triển mạch lạc và bắt đầu xuất hiện tưởng tượng tích cực mang tính độc lập. Trẻ ở độ tuổi này không chỉ tái hiện hiện thực khách quan mà đã có thể kết hợp các biểu tượng cũ để tạo ra những hình ảnh mới độc đáo, chuẩn bị trực tiếp cho việc thích ứng với hoạt động học tập ở trường tiểu học.

Trong các hoạt động giáo dục tại trường mầm non, kể chuyện là phương tiện hữu hiệu kích thích trí tưởng tượng của trẻ. Tuy nhiên, thực tiễn dạy học cho thấy đa số giáo viên mầm non chỉ tập trung rèn luyện cho trẻ kỹ năng "kể lại chuyện" một cách máy móc, lặp lại nguyên văn lời cô giáo hoặc cốt truyện sẵn có. Các hình thức tổ chức hoạt động kể chuyện còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa tạo điều kiện cho trẻ phát huy trí tưởng tượng sáng tạo.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát thực trạng mức độ và biểu hiện khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại một số trường mầm non thuộc khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời thử nghiệm các hình thức kể chuyện sáng tạo nhằm nâng cao khả năng này cho trẻ.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, các hình thức kể chuyện và vai trò của hoạt động kể chuyện đối với sự phát triển trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ.
  2. Khảo sát thực trạng khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại hai trường mầm non thuộc khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí Minh và xác định một số nguyên nhân của thực trạng đó.
  3. Thử nghiệm một số hình thức kể chuyện sáng tạo nhằm nâng cao khả năng tưởng tượng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
  • Khách thể nghiên cứu thực trạng: 121 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại Trường Mầm non Họa Mi 2 - Quận 5 (53 trẻ lớp Lá 6) và Trường Mầm non Họa Mi 2 - Quận 12 (35 trẻ lớp Lá 2, 33 trẻ lớp Lá 3). Khách thể bổ trợ gồm 26 giáo viên phụ trách các lớp Lá (8 lớp tại Quận 5, 5 lớp tại Quận 12) và 2 cán bộ quản lý (hiệu phó chuyên môn) của hai trường.
  • Khách thể nghiên cứu thực nghiệm: 35 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thuộc lớp Lá 2 Trường Mầm non Họa Mi 2 - Quận 12, được chia thành nhóm đối chứng (17 trẻ) và nhóm thực nghiệm (18 trẻ).
  • Giới hạn nghiên cứu: Đề tài tập trung đánh giá khả năng tưởng tượng sáng tạo thông qua bài trắc nghiệm (Test) vẽ tranh của E. Paul Torrance; địa bàn khảo sát giới hạn tại hai trường mầm non nội thành TP.HCM; nội dung thực nghiệm sư phạm dừng lại ở việc thử nghiệm 6 hình thức kể chuyện sáng tạo.

Giả thuyết khoa học: Khả năng tưởng tượng sáng tạo của đa số trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở khu vực nội thành TP.HCM chỉ đạt mức trung bình, với nguyên nhân chính xuất phát từ phương pháp giáo dục của giáo viên. Nếu đưa vào sử dụng các hình thức kể chuyện sáng tạo một cách phù hợp thì có thể nâng cao khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên cơ sở phân tích hệ thống quan điểm tâm lý học trong nước và quốc tế:

  • Lý thuyết về tưởng tượng và sáng tạo: Tiếp thu quan điểm duy vật biện chứng của tâm lý học Xô Viết (L. Vygotsky, A.V. Petrovsky) khẳng định tưởng tượng là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não bộ, phát triển mạnh từ tuổi mẫu giáo và xây dựng trên cơ sở vốn kinh nghiệm sống. Cơ chế tưởng tượng sáng tạo gồm 5 giai đoạn: tích lũy tài liệu, phân giải tài liệu, biến đổi các yếu tố, liên tưởng và phối hợp hình ảnh vào hệ thống.
  • Quan niệm về khả năng và năng lực: Dựa trên Từ điển Tâm lý học Liên Xô và Từ điển Tiếng Việt, tác giả phân định "khả năng" là những đặc điểm tâm lý cá nhân đóng vai trò tiền đề, xác suất thực hiện thành công một hoạt động, trong khi "năng lực" là tổ hợp thuộc tính tâm lý ổn định và bền vững. Ở lứa tuổi 5-6 tuổi, năng lực tưởng tượng sáng tạo chưa hình thành hoàn chỉnh mà chỉ mới bộc lộ các dấu hiệu của "khả năng tưởng tượng sáng tạo" (khả năng hình thành ý tưởng mới lạ, giải quyết nhiệm vụ độc lập).
  • Phương pháp sáng tạo hình ảnh mới: Gồm 6 phương pháp cơ bản: Thay đổi kích thước/số lượng; Nhấn mạnh; Chắp ghép (kết đính); Liên hợp; Điển hình hóa; Loại suy.
  • Hoạt động kể chuyện của trẻ mẫu giáo: Vận dụng lý thuyết của A.M. Borodich, Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Văn Vang và Hà Nguyễn Kim Giang để phân định giữa "kể lại chuyện" (tái hiện máy móc văn bản sẵn có) và "kể chuyện" (hoạt động sáng tạo ngôn ngữ, đòi hỏi trẻ tự chọn ý tưởng, cốt truyện và cấu trúc biểu đạt). Hệ thống 6 hình thức kể chuyện sáng tạo được đề xuất gồm: (1) Kể chuyện sáng tạo nối tiếp; (2) Kể chuyện sáng tạo thay đổi lời kết; (3) Kể chuyện sáng tạo với đồ dùng, đồ vật; (4) Kể chuyện sáng tạo từ họa báo; (5) Kể chuyện sáng tạo lắp ghép tranh; (6) Kể chuyện sáng tạo theo chủ đề.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp trắc nghiệm (phương pháp chủ đạo): Sử dụng Test vẽ tranh của E. Paul Torrance (phiên bản do TS. Vũ Kim Thanh hiệu đính, đạt hệ số tin cậy r ≈ 0.8 khi kiểm nghiệm trên trẻ 5-6 tuổi Việt Nam). Test gồm 3 nhiệm vụ:
    1. Nhiệm vụ 1: Vẽ tranh tùy thích trên khổ giấy A4 cho sẵn và đặt tên bức tranh (10 phút).
    2. Nhiệm vụ 2: Vẽ thêm chi tiết trên cơ sở 10 hình vẽ chưa đầy đủ để tạo thành tranh hoàn chỉnh và đặt tên (30 phút).
    3. Nhiệm vụ 3: Thêm chi tiết trên 30 hình tròn in sát nhau trên giấy A4 tạo thành các hình vẽ khác biệt và đặt tên (10 phút).
  • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, ghi chép và ghi âm 6 tiết học (Làm quen văn học, Toán, Vẽ, Chữ viết, Khám phá môi trường xung quanh) và 4 buổi hoạt động góc tại hai trường mầm non để theo dõi thái độ, hành vi và mức độ bộc lộ tưởng tượng của trẻ.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát 26 giáo viên dạy lớp Lá thông qua phiếu trưng cầu ý kiến gồm 7 câu hỏi (6 câu hỏi đóng, 1 câu hỏi mở) về nhận thức, thực trạng, phương pháp giảng dạy và nguyên nhân ảnh hưởng.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp 2 hiệu phó chuyên môn và 3 giáo viên trực tiếp giảng dạy 3 lớp nghiên cứu thực trạng.
  • Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động: Phân tích 3 sổ kế hoạch hoạt động, 3 sổ kế hoạch chủ nhiệm cùng các sản phẩm tranh vẽ, hình nặn, mô hình xếp hình và lời kể chuyện của trẻ.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành tác động thử nghiệm 6 hình thức kể chuyện sáng tạo trên 35 trẻ lớp Lá 2 Trường MN Họa Mi 2 - Quận 12 (18 trẻ thực nghiệm, 17 trẻ đối chứng).
  • Phương pháp thống kê toán học: Tính toán các tham số thống kê mô tả (Mean, Max, Min, tỷ lệ %), sử dụng kiểm nghiệm t (Student) và mức ý nghĩa quan sát (Sig, $\alpha$) để so sánh giá trị trung bình giữa các nhóm.

Hệ thống tiêu chí chấm điểm bài Test Torrance gồm 4 tiêu chí thành phần:

  • Điểm Độc đáo (Originality - O): Đánh giá qua điểm đặt tên tranh (0 đến 3 điểm) và tần số xuất hiện hình vẽ trên toàn mẫu (từ 0 điểm cho hình vẽ lặp lại trên 5% đến 3 điểm cho hình vẽ độc đáo < 1%).
  • Điểm Tỷ mỷ (Elaboration - E): Mỗi chi tiết thêm vào không lặp lại trong một hình vẽ được tính 1 điểm.
  • Điểm Tốc độ (Fluency - F): Mỗi hình vẽ hoàn chỉnh được tính 1 điểm.
  • Điểm Linh hoạt (Flexibility - Fx): Mỗi loại chủ đề/hình vẽ khác biệt được tính 1 điểm.

Bảng điểm chuẩn tối đa và thang xếp loại trình độ tưởng tượng sáng tạo của trẻ:

Tiêu chí đánh giá Điểm chuẩn tối đa (Max)
Độc đáo (O) 35
Tỷ mỷ (E) 45
Tốc độ (F) 28
Linh hoạt (Fx) 31
Tổng điểm bài Test 139

Bảng xếp loại các mức độ khả năng tưởng tượng sáng tạo căn cứ trên bài Test Torrance:

Xếp loại Tỷ lệ điểm chuẩn Điểm Độc đáo (O) Điểm Tỷ mỷ (E) Điểm Tốc độ (F) Điểm Linh hoạt (Fx) Tổng điểm bài Test
Yếu 0% - 30% 0 - 10 0 - 13 0 - 8 0 - 9 0 - 42
Trung bình 31% - 60% 11 - 21 14 - 27 9 - 16 10 - 19 43 - 83
Khá 61% - 90% 22 - 31 28 - 40 17 - 25 20 - 28 84 - 125
Xuất sắc 91% - 100% 32 - 35 41 - 45 26 - 28 29 - 31 126 - 139

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận đề tài

Chương này tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề tưởng tượng sáng tạo trên thế giới và tại Việt Nam. Về mặt quốc tế, tác giả phân tích các hướng tiếp cận của Ribot, Piaget, Freud, Guilford, các quan điểm đồng nhất tưởng tượng với trí nhớ của Serer, cùng hệ thống lý luận tâm lý học Xô Viết của Vygotsky, Petrovsky, Xapagona, Panchiukhina, Zaika. Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp các công trình của Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Hà Nguyễn Kim Giang, Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Văn Vang, Huỳnh Văn Sơn, Hồ Lam Hồng và các luận văn chuyên ngành mầm non.

Về mặt lý luận chuyên biệt, chương 1 xác lập bản chất tâm lý của tưởng tượng, 4 giai đoạn hành động tưởng tượng, 6 phương pháp cấu tạo hình ảnh mới, phân loại tưởng tượng (tiêu cực, tích cực, ước mơ, lý tưởng). Chương 1 làm rõ khái niệm khả năng tưởng tượng sáng tạo ở trẻ 5-6 tuổi, nêu bật đặc điểm tưởng tượng tích cực gắn liền với hoạt động chơi và tạo hình. Đồng thời, tác giả phân tích khái niệm hoạt động kể chuyện, phân biệt "kể lại chuyện" với "kể chuyện", vai trò của kể chuyện trong sự phát triển tâm lý, hệ thống 6 hình thức kể chuyện sáng tạo và các yêu cầu sư phạm khi tổ chức hoạt động kể chuyện cho trẻ mẫu giáo lớn.

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết kế hoạch khảo sát thực trạng và tổ chức thực nghiệm sư phạm. Tác giả cụ thể hóa mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, cơ cấu khách thể khảo sát gồm 121 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (Lá 2, Lá 3 Trường MN Họa Mi 2 - Q.12; Lá 6 Trường MN Họa Mi 2 - Q.5), 26 giáo viên và 2 hiệu phó chuyên môn.

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức thực hiện 7 phương pháp nghiên cứu, trong đó trọng tâm là trắc nghiệm hình vẽ E. Torrance (3 tiểu nhiệm vụ, điều kiện phòng đo, hướng dẫn thực hiện, kiểm nghiệm độ tin cậy r ≈ 0.8). Tác giả thiết lập hệ thống 4 tiêu chí chấm điểm (Độc đáo, Tỷ mỷ, Tốc độ, Linh hoạt), xây dựng bảng điểm chuẩn tối đa (139 điểm) và barem xếp loại 4 mức độ (Yếu, Trung bình, Khá, Xuất sắc). Quy trình thực nghiệm sư phạm trên 35 trẻ lớp Lá 2 Trường MN Họa Mi 2 - Quận 12 (17 trẻ nhóm đối chứng, 18 trẻ nhóm thực nghiệm) cũng được thiết kế chặt chẽ nhằm đánh giá tác động của 6 hình thức kể chuyện sáng tạo.

Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương này tập trung trình bày và phân tích các số liệu thu được từ quá trình khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm:

  1. Thực trạng khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi nội thành TP.HCM: Đánh giá phân bố tổng điểm bài Test và phân tích chi tiết theo 4 tiêu chí thành phần (Độc đáo, Tỷ mỷ, Tốc độ, Linh hoạt). Khảo sát sự khác biệt về khả năng tưởng tượng sáng tạo theo các biến số: giới tính (nam - nữ), trường mầm non (Quận 5 - Quận 12) và từng lớp học thông qua kết quả kiểm nghiệm t (Sig).
  2. Nguyên nhân của thực trạng: Tổng hợp và phân tích dữ liệu điều tra ý kiến của 26 giáo viên, biên bản phỏng vấn 5 cán bộ quản lý/giáo viên, nhật ký dự giờ 6 tiết học và 4 buổi chơi góc, cùng kết quả phân tích kế hoạch giảng dạy, kế hoạch chủ nhiệm và sản phẩm hoạt động của trẻ.
  3. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm sư phạm: So sánh mức độ phát triển khả năng tưởng tượng sáng tạo giữa nhóm đối chứng (17 trẻ) và nhóm thực nghiệm (18 trẻ) trước tác động và sau khi hoàn thành chuỗi thử nghiệm 6 hình thức kể chuyện sáng tạo, kiểm chứng giả thuyết khoa học bằng các trị số thống kê.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả khoa học chính:

    • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về khả năng tưởng tượng sáng tạo ở trẻ 5-6 tuổi và vai trò đặc thù của hoạt động kể chuyện sáng tạo trong giáo dục mầm non.
    • Thích ứng và chuẩn hóa quy trình sử dụng bộ công cụ Test vẽ tranh của E. Paul Torrance để đo lường khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn tại TP.HCM với độ tin cậy cao (r ≈ 0.8). Xây dựng thang đo chuẩn gồm 4 tiêu chí (O, E, F, Fx) với tổng điểm tối đa 139 điểm, chia thành 4 mức xếp loại cụ thể.
    • Khảo sát thực chứng trên 121 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và 28 cán bộ quản lý/giáo viên tại hai trường mầm non thuộc Quận 5 và Quận 12, chỉ ra bức tranh thực trạng về mức độ tưởng tượng sáng tạo của trẻ và các nguyên nhân sư phạm liên quan.
    • Khẳng định hiệu quả thực nghiệm của 6 hình thức kể chuyện sáng tạo trong việc cải thiện và nâng cao khả năng tưởng tượng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo lớn.
  • Giải pháp và kiến nghị sư phạm:

    • Giáo viên mầm non cần chuyển đổi trọng tâm từ việc rèn luyện "kể lại chuyện" thụ động sang tổ chức cho trẻ "kể chuyện sáng tạo".
    • Áp dụng linh hoạt hệ thống 6 hình thức kể chuyện sáng tạo: kể nối tiếp, thay đổi lời kết, kể với đồ dùng/đồ vật, kể từ tranh cắt họa báo, kể từ bộ tranh lắp ghép và kể theo chủ đề mở.
    • Phối hợp đa dạng các biện pháp đàm thoại, giải thích từ ngữ, tổ chức trò chơi, thảo luận nhóm và sử dụng đồ dùng trực quan an toàn, thẩm mỹ, kích thích đa giác quan trong các giờ học Làm quen văn học.
    • Nâng cao nhận thức và năng lực sư phạm của giáo viên về đặc điểm tâm lý tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn; xây dựng kế hoạch giáo dục tạo điều kiện cho trẻ bộc lộ tính chủ động, độc lập trong tư duy và ngôn ngữ.
  • Đóng góp mới của đề tài:

    • Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tại TP.HCM đi sâu thiết kế, thử nghiệm có hệ thống các hình thức kể chuyện sáng tạo nhằm tác động trực tiếp đến khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
    • Đóng góp bộ công cụ đánh giá trắc nghiệm định lượng rõ ràng kèm barem chấm điểm cụ thể, có thể ứng dụng trực tiếp trong nghiên cứu tâm lý học phát triển và thực hành đánh giá trẻ tại các trường mầm non.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:

    • Phạm vi khách thể khảo sát thực trạng còn giới hạn ở 121 trẻ tại 2 trường mầm non thuộc khu vực nội thành TP.HCM (Trường MN Họa Mi 2 - Quận 5 và Trường MN Họa Mi 2 - Quận 12), chưa mở rộng so sánh với khu vực ngoại thành hoặc các địa phương khác.
    • Công cụ đo lường thực nghiệm chủ yếu dựa trên Test vẽ tranh của E. Torrance, chưa kết hợp trắc nghiệm chuyên sâu về ngôn ngữ độc lập hoặc các test vận động sáng tạo khác.
    • Nghiên cứu thực nghiệm sư phạm mới dừng lại ở mức độ thử nghiệm tác động trên quy mô 1 lớp học (35 trẻ lớp Lá 2 Trường MN Họa Mi 2 - Quận 12) với 6 hình thức kể chuyện sáng tạo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên nhiều địa bàn quận/huyện khác nhau (cả nội thành và ngoại thành) để tăng tính đại diện của dữ liệu.
    • Kéo dài thời gian thực nghiệm sư phạm và mở rộng can thiệp bằng các hình thức sáng tạo nghệ thuật đa dạng khác như hoạt động nặn, tạo hình từ vật liệu thiên nhiên, đóng kịch sáng tạo và trò chơi đóng vai có chủ đề.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:

    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục Mầm non, Giáo dục học tại các trường đại học sư phạm, cao đẳng sư phạm mầm non.
    • Giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các trường mầm non, đặc biệt là giáo viên phụ trách các lớp mẫu giáo lớn (5-6 tuổi).
    • Cán bộ quản lý chuyên môn bậc học mầm non tại các Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban Giám hiệu các trường mầm non.
  • Nội dung đáng tham khảo:

    • Chương 1: Cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh về bản chất tâm lý học của tưởng tượng sáng tạo, các giai đoạn và phương pháp tạo hình ảnh mới, cùng cơ sở phân biệt giữa kể chuyện và kể lại chuyện.
    • Chương 2: Cung cấp quy trình ứng dụng chi tiết Test vẽ tranh E. Torrance (3 nhiệm vụ), cách tính điểm 4 tiêu chí (Độc đáo, Tỷ mỷ, Tốc độ, Linh hoạt) và bảng chuẩn xếp loại 4 mức độ có thể sử dụng trực tiếp làm tài liệu đo nghiệm tâm lý.
    • Hệ thống 6 hình thức kể chuyện sáng tạo: Là tài liệu tham khảo giàu tính ứng dụng thực tiễn để giáo viên mầm non đổi mới giáo án các môn Làm quen văn học, Làm quen môi trường xung quanh và tổ chức hoạt động góc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt khái niệm "kể lại chuyện" và "kể chuyện" ở trẻ mẫu giáo như thế nào?
Dựa trên quan điểm của Nguyễn Xuân Khoa và A.M. Borodich, khóa luận xác định: "Kể lại chuyện" là việc trẻ thuật lại một câu chuyện văn học đã được nghe, diễn đạt nội dung và ngôn ngữ có sẵn mang tính chất lặp lại, bắt chước dựa trên trí nhớ. Ngược lại, "kể chuyện" đòi hỏi trẻ phải tự lựa chọn ý tưởng, nội dung và hình thức ngôn ngữ để thuật lại một sự kiện, miêu tả đối tượng hoặc tự tạo ra cốt truyện mới. Kể chuyện là hoạt động đòi hỏi sự tham gia tích cực của tư duy và tưởng tượng sáng tạo.

2. Bài trắc nghiệm vẽ tranh của E. Paul Torrance trong khóa luận gồm những nhiệm vụ nào?
Test Torrance được sử dụng gồm 3 nhiệm vụ:

  • Nhiệm vụ 1 (10 phút): Vẽ một bức tranh tùy thích trên khổ giấy A4 cho sẵn, tự suy nghĩ hình ảnh khác biệt với các bạn và đặt tên cho bức tranh.
  • Nhiệm vụ 2 (30 phút): Thêm các chi tiết vào 10 hình vẽ chưa đầy đủ cho sẵn để hoàn thiện thành các bức tranh khác nhau và đặt tên cho từng hình.
  • Nhiệm vụ 3 (10 phút): Thêm các chi tiết vào 30 hình tròn in sát nhau trên giấy A4 để tạo thành các hình vẽ đa dạng, độc đáo và đặt tên.

3. Khóa luận đề xuất và thử nghiệm những hình thức kể chuyện sáng tạo cụ thể nào?
Tác giả đề xuất và thử nghiệm hệ thống 6 hình thức kể chuyện sáng tạo:

  1. Kể chuyện sáng tạo nối tiếp: Cô kể phần đầu câu chuyện mới, bỏ trống phần kết thúc để trẻ tự nghĩ ra diễn biến tiếp theo.
  2. Kể chuyện sáng tạo thay đổi lời kết: Cô kể phần đầu câu chuyện quen thuộc, yêu cầu trẻ sáng tạo phần kết khác với cốt truyện cũ đã nghe.
  3. Kể chuyện sáng tạo với đồ dùng, đồ vật: Trẻ xây dựng câu chuyện mới xoay quanh 1 đến 4 đồ dùng, đồ vật quen thuộc do cô chuẩn bị.
  4. Kể chuyện sáng tạo từ họa báo: Trẻ tự chọn và cắt các hình ảnh yêu thích từ báo chí, sau đó sắp xếp và kể thành câu chuyện hoàn chỉnh.
  5. Kể chuyện sáng tạo lắp ghép tranh: Trẻ tự xếp lại thứ tự của một bộ tranh theo ý thích rồi kể câu chuyện theo trình tự sắp xếp đó.
  6. Kể chuyện sáng tạo theo chủ đề: Trẻ sáng tạo câu chuyện xoay quanh một chủ đề gần gũi với đời sống hàng ngày do cô đưa ra.

4. Khách thể nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm của đề tài gồm những ai, tại đâu?

  • Khách thể khảo sát thực trạng: 121 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (53 trẻ lớp Lá 6 Trường MN Họa Mi 2 - Quận 5; 35 trẻ lớp Lá 2 và 33 trẻ lớp Lá 3 Trường MN Họa Mi 2 - Quận 12) cùng 26 giáo viên dạy lớp Lá và 2 hiệu phó chuyên môn của hai trường.
  • Khách thể thực nghiệm sư phạm: 35 trẻ lớp Lá 2 Trường MN Họa Mi 2 - Quận 12, chia thành nhóm đối chứng (17 trẻ) và nhóm thực nghiệm (18 trẻ).

5. Barem chấm điểm và phân loại khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ được quy định ra sao?
Tổng điểm bài Test Torrance tối đa là 139 điểm, phân bổ theo 4 tiêu chí: Độc đáo (tối đa 35 điểm), Tỷ mỷ (tối đa 45 điểm), Tốc độ (tối đa 28 điểm), Linh hoạt (tối đa 31 điểm). Trình độ của trẻ được xếp thành 4 mức: Yếu (0 - 42 điểm, tương ứng 0% - 30% điểm chuẩn), Trung bình (43 - 83 điểm, tương ứng 31% - 60%), Khá (84 - 125 điểm, tương ứng 61% - 90%), Xuất sắc (126 - 139 điểm, tương ứng 91% - 100%).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền đã giải quyết trọn vẹn các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, từ việc xác lập hệ thống cơ sở lý luận vững chắc về khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đến việc chuẩn hóa công cụ đo nghiệm Test Torrance tại TP.HCM. Công trình đã làm rõ bức tranh thực trạng khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ tại hai trường mầm non nội thành và xác định nguyên nhân cốt lõi từ phương pháp dạy học của giáo viên. Kết quả thử nghiệm 6 hình thức kể chuyện sáng tạo đã chứng minh tính khả thi và hiệu quả sư phạm rõ rệt, mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác đổi mới giáo dục mầm non.